Quản lý nhà nước về chi trả bảo hiểm xã hội trên địa bàn quận 9 tp HCM - Pdf 51

PHẦN MỞ ĐẦU

1. Tính cấp thiết của đề tài
Bảo hiểm xã hội là một trong những chính sách an sinh xã hội quan trọng; là
tiêu chí của tiến bộ, bình đẳng và công bằng xã hội; thể hiện sự văn minh, phát triển
của mỗi quốc gia. Đối với Việt Nam, Đảng và Nhà nƣớc ta luôn quan tâm xây dựng
và tổ chức thực hiện các chính sách ASXH hƣớng đến con ngƣời; xem đây vừa là
động lực phát triển, vừa thể hiện bản chất tốt đẹp của chế độ, vì mục tiêu dân giàu,
nƣớc mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh.
Chính sách BHXH ở nƣớc ta đƣợc triển khai thực hiện từ năm 1945, hoạt
động ban đầu dựa trên Sắc lệnh số 54_SL do Chủ tịch Hồ Chí Minh ký ban hành ấn
định các điều kiện cho công chức về hƣu trí, sau đó đƣợc bổ sung điều chỉnh bằng
nhiều Sắc lệnh và Nghị định. Đến năm 1961, Chính phủ ban hành Nghị định số
218/CP kèm theo Điều lệ tạm thời về các chế độ BHXH đối với công nhân, viên
chức nhà nƣớc; năm 1964, Chính phủ tiếp tục ban hành Nghị định số 161-CP kèm
theo Điều lệ tạm thời về các chế độ đãi ngộ quân nhân. Có thể nói hai Điều lệ trên là
hai văn bản pháp luật đầu tiên quy định 06 chế độ BHXH ở nƣớc ta là ốm đau, thai
sản, tai nạn lao động - bệnh nghề nghiệp, mất sức lao động, hƣu trí và tử tuất.
Từ chủ trƣơng của Đảng trong Báo cáo Chính trị của Ban chấp hành Trung
ƣơng tại Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ X (năm 2006): “Đổi mới hệ thống bảo
hiểm xã hội theo hƣớng đa dạng hóa hình thức và phù hợp với kinh tế thị trƣờng”,
vào Kỳ họp thứ 9 ngày 29/06/2006, Quốc hội khoá XI đã thông qua Luật BHXH, có
hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2007, đây là một bƣớc tiến quan trọng trong việc
tạo cơ sở pháp lý để nâng cao hiệu quả thực thi chế độ BHXH đối với ngƣời lao
động. Qua hơn 07 năm thực hiện, Luật BHXH đã đi vào cuộc sống, đáp ứng nguyện
vọng của đông đảo ngƣời lao động, góp phần bảo đảm ASXH. Nhằm đáp ứng yêu
cầu phát triển kinh tế - xã hội của đất nƣớc trong tiến trình hội nhập quốc tế, tại Kỳ
1


họp thứ 8 ngày 20/11/2014, Quốc hội khóa XIII đã thông qua Luật BHXH sửa đổi

cán cân thanh toán, ảnh hƣởng đến sự tăng trƣởng quỹ BHXH và quyền lợi của
ngƣời tham gia BHXH.
Cũng nhƣ các quận - huyện khác, mặc dù có nhiều có gắng trong công tác
QLNN về chi trả BHXH, tại Quận 9 - thành phố Hồ Chí Minh hoạt động này vẫn
còn có một số hạn chế cần phải khắc phục. Điển hình nhƣ: tình trạng chậm đóng và
nợ BHXH, BHYT, BHTN kéo dài của một số doanh nghiệp; số tiền nợ BHXH đã
làm ảnh hƣởng đến quyền thụ hƣởng các chế độ BHXH của ngƣời lao động khi có
phát sinh. Hàng năm, số lƣợng đơn vị và ngƣời lao động tham gia BHXH trên địa
bàn Quận 9 tăng lên đáng kể, đồng thời số đơn vị chậm nộp BHXH và số tiền nợ
đọng của các đơn vị cũng tăng lên. Việc lập hồ sơ đóng BHXH với mức lƣơng thấp
hơn so với thực tế (để giảm tiền đóng BHXH) làm ảnh hƣởng đến quyền lợi của
ngƣời lao động khi hƣởng chế độ, việc báo tăng mức đóng khi ngƣời lao động sắp
sinh con để đƣợc hƣởng chế độ thai sản với mức cao hơn hay việc lập hồ sơ giả để
hƣởng chế độ BHXH cũng thƣờng xuyên xảy ra.
Trƣớc thực trạng đó, với những kiến thức đã học của chuyên ngành Quản lý
công, tôi quyết định lựa chọn đề tài: “Quản lý nhà nƣớc về chi trả bảo hiểm xã hội
trên địa bàn Quận 9, thành phố Hồ Chí Minh” với mong muốn tìm hiểu nguyên
nhân của những hạn chế, đề xuất một số giải pháp góp phần nâng cao hiệu quả
QLNN trên lĩnh vực BHXH, từ đó đƣa chính sách BHXH đến với ngƣời lao động
trên địa bàn Quận 9 một cách đầy đủ theo quy định của pháp luật.
2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Đã có nhiều công trình nghiên cứu đề cập đến các khía cạnh khác nhau về
BHXH cũng nhƣ chi trả BHXH ở quy mô tỉnh, thành phố; quy mô quận, huyện;
trƣớc và sau khi Luật BHXH đƣợc ban hành đến nay, điển hình nhƣ:
Luận án Phó tiến sĩ Luật học của tác giả Nguyễn Huy Ban (năm 1996) với đề
tài “Hoàn thiện pháp luật bảo hiểm xã hội ở Việt Nam - lý luận và thực tiễn”. Đây là
luận án phó tiến sĩ nghiên cứu về vấn đề lý luận về BHXH và đánh giá thực trạng
3




những thành tựu đạt đƣợc, BHXH Việt Nam cần đề ra các giải pháp để phải khắc
phục những mặt còn hạn chế.
Luận văn Thạc sĩ của tác giả Đoàn Thị Lệ Hoa (năm 2012) với đề tài “Hoàn
thiện công tác kiểm soát chi bảo hiểm xã hội tại Bảo hiểm xã hội thành phố Đà
Nẵng”. Nội dung luận văn đánh giá thực trạng công tác kiểm soát chi tại Bảo hiểm
xã hội thành phố Đà Nẵng còn những hạn chế do viên chức nghiệp vụ chƣa thực
hiện tốt việc xét duyệt, thẩm định hồ sơ hƣởng BHXH, chƣa chặt chẽ trong việc
theo dõi quản lý đối tƣợng hƣởng chế độ. Tại Bảo hiểm xã hội thành phố Đà Nẵng,
chƣa có chƣơng trình liên thông số sổ BHXH nên khó kiểm soát đƣợc số sổ đã
hƣởng chế độ, dẫn đến chi trùng. Từ những hạn chế trên tác giả luận văn đã đƣa ra
một số giải pháp để hoàn thiện kiểm soát chi tại BHXH thành phố Đà Nẵng.
Từ những nội dung nghiên cứu cơ sở lý luận BHXH và đánh giá thực trạng
QLNN về BHXH của các luận văn nêu trên, trong đó có luận văn của tác giả Đoàn
Thị Lệ Hoa đề cập đến nội dung chi trả BHXH; luận văn của tôi sẽ kế thừa sử dụng
làm nguồn tài liệu tham khảo trực tiếp. Tại Quận 9 - thành phố Hồ Chí Minh, chƣa
có đề tài nào nghiên cứu cụ thể vấn đề QLNN về chi trả BHXH; vì vậy, hƣớng đề
tài mà tôi lựa chọn sẽ làm sáng tỏ hơn vấn đề này.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn
 Mục đích

Từ cơ sở lý luận và kết quả đánh giá thực trạng QLNN về chi trả BHXH, luận
văn đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả công tác QLNN về chi trả BHXH
trên địa bàn Quận 9.
 Nhiệm vụ

Để đạt đƣợc mục đích nêu trên, luận văn đặt ra nhiệm vụ nghiên cứu nhƣ sau:
- Làm rõ cơ sở lý luận chi trả BHXH và QLNN về chi trả BHXH, trong đó làm
rõ sự cần thiết khách quan Nhà nƣớc phải quản lý công tác chi trả BHXH; nội


BHXH, văn bản hƣớng dẫn thi hành pháp luật BHXH, các văn bản Luật khác có
liên quan, Văn kiện của Đảng qua các kỳ Đại hội, các Báo cáo của Chính phủ trình
Quốc hội về tình hình quản lý và sử dụng quỹ BHXH hàng năm, các Báo cáo hoạt
động của ngành BHXH, tham khảo ý kiến của chuyên gia; từ đó, tác giả có cái nhìn
toàn diện và khách quan để phân tích, đánh giá những ƣu điểm và hạn chế trong
QLNN đối với hoạt động chi trả BHXH.
- Phƣơng pháp định tính: phân tích tổng hợp số liệu thu thập đƣợc.
6


-

Phƣơng pháp định lƣợng: trên cơ sở số liệu thống kê, tác giả so sánh, xử lý số liệu,
đồ thị.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
Luận văn làm rõ về mặt lý luận chi trả BHXH, sự cần thiết khách quanQLNN
về chi trả BHXH; đồng thời qua việc phân tích đánh giá những mặt đạt đƣợc,
những hạn chế của hoạt động QLNN về chi trả BHXH trên địa bàn Quận 9 để đƣa
ra các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động QLNN về chi trả BHXH trong
thời gian tới, góp phần đảm bảo quyền lợi BHXH cho ngƣời lao động.
Luận văn có thể là tài liệu tham khảo để hoàn thiện công tác QLNN về chi trả
BHXH đối với các quận, huyện có đặc điểm phù hợp, tƣơng đồng với Quận 9,
thành phố Hồ Chí Minh.
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục; luận
văn đƣợc chia thành ba chƣơng nhƣ sau:
Chƣơng 1: Cơ sở lý luận và pháp lý của hoạt động chi trả BHXH và QLNN về
chi trả BHXH.
Chƣơng 2: Thực trạng QLNN về chi trả BHXH trên địa bàn Quận 9, thành
phố Hồ Chí Minh giai đoạn 2014-2016.

 Phân loại
-

Phân loại theo phương thức quản lý: bảo hiểm đƣợc chia làm 2 hình thức là bắt
buộc và tự nguyện, trong đó:

8


+

Bảo hiểm tự nguyện là những loại bảo hiểm mà hợp đồng đƣợc thiết lập dựa hoàn
toàn trên sự cân nhắc và nhận thức của ngƣời đƣợc bảo hiểm. Đây là tính chất vốn
có của bảo hiểm thƣơng mại khi nó có vai trò nhƣ là một dịch vụ đối với hoạt động
sản xuất và sinh hoạt của con ngƣời.

+

Bảo hiểm bắt buộc đƣợc hình thành trên cơ sở luật định, nhằm bảo vệ lợi ích của nạn
nhân trong các vụ tổn thất và bảo vệ lợi ích của toàn bộ nền kinh tế - xã hội. Các hoạt
động nguy hiểm có thể dẫn đến tổn thất về ngƣời và tài chính trầm trọng gắn liền với
trách nhiệm dân sự nghề nghiệp, thƣờng là đối tƣợng của sự bắt buộc này. Ví dụ: bảo
hiểm trách nhiệm dân sự của chủ xe cơ giới, bảo hiểm trách nhiệm dân sự của ngƣời
vận chuyển hàng không đối với hành khách, bảo hiểm cháy, nổ.

-

Phân loại theo mục đích hoạt động: bảo hiểm đƣợc chia làm 2 loại là bảo hiểm xã
hội và bảo hiểm thƣơng mại, trong đó:


(7)Trợ cấp thai sản; (8)Hệ thống trợ cấp cho tình trạng không tự chăm sóc đƣợc bản
thân; (9)Trợ cấp tiền tuất. Đồng thời ILO khuyến nghị các nƣớc thành viên phải
thực hiện ít nhất 05 trong số 09 nội dung nêu trên bao gồm: trợ cấp thất nghiệp, trợ
cấp tuổi già, trợ cấp tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, trợ cấp tàn tật và trợ cấp
tiền tuất” [10, tr 306].
Tuy nhiên, cho đến nay, định nghĩa thế nào là BHXH vẫn là vấn đề còn nhiều
tranh luận vì đƣợc tiếp cận từ nhiều giác độ khác nhau với những quan điểm khác
nhau. Cụ thể nhƣ:
-

Từ giác độ pháp luật: BHXH là một chế độ pháp định bảo vệ ngƣời lao động, sử dụng
tiền đóng góp của ngƣời lao động, ngƣời sử dụng lao động và đƣợc sự tài trợ, bảo hộ
của Nhà nƣớc, nhằm trợ cấp vật chất cho ngƣời đƣợc bảo hiểm và gia

đình trong trƣờng hợp bị giảm hoặc mất thu nhập bình thƣờng do ốm đau, tai nạn
lao động - bệnh nghề nghiệp, thai sản, hết tuổi lao động theo quy định của pháp luật
(nghỉ hƣu) hoặc chết.
-

Từ giác độ chính sách xã hội: BHXH là một chính sách xã hội nhằm đảm bảo đời
sống vật chất cho ngƣời lao động khi họ không may gặp phải các “rủi ro xã hội”,
nhằm góp phần đảm bảo an toàn xã hội.
Khái niệm BHXH đƣợc khái quát một cách đầy đủ nhất trong Điều 3.1 Luật
Bảo hiểm xã hội đã đƣợc Quốc hội Nƣớc Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam
Khóa XIII, Kỳ họp thứ 8 thông qua ngày 20/11/2014 nhƣ sau “Bảo hiểm xã hội là
sự bảo đảm thay thế hoặc bù đắp một phần thu nhập của người lao động khi họ bị
10


giảm hoặc mất thu nhập do ốm đau, thai sản, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp,

- BHXH là sự đảm bảo bù đắp thu nhập cho ngƣời lao động trong và sau quá
trình lao động, đồng thời quyền lợi hƣởng các chế độ BHXH chỉ đƣợc chi trảkhi họ
và ngƣời sử dụng lao động thực hiện đầy đủ nghĩa vụ đóng BHXH.
-

Các hoạt động và các chế độ BHXH đƣợc thực hiện theo quy định của pháp luật. Nhà
nƣớc quản lý và bảo hộ các hoạt động BHXH. Ngoài ra, hoạt động BHXH còn chịu sự
giám sát chặt chẽ của ngƣời lao động thông qua tổ chức công đoàn và ngƣời sử dụng
lao động thông qua tổ chức của giới chủ, theo cơ chế ba bên.
11


 Nội dung của bảo hiểm xã hội

BHXH là một hệ thống đa dạng và phức tạp với những nội dung khác nhau.
Tuy nhiên, có thể tập trung vào bốn nhóm nội dung cơ bản sau:
- Một là đối tượng bảo hiểm xã hội
+

Ngƣời lao động trong quan hệ BHXH vừa là đối tƣợng tham gia, vừa là đối tƣợng
đƣợc bảo hiểm và họ cũng là đối tƣợng đƣợc hƣởng quyền lợi BHXH chiếm phần
lớn trong các trƣờng hợp phát sinh trách nhiệm BHXH.

+

Đối tƣợng tham gia BHXH không chỉ có ngƣời lao động mà còn có ngƣời sử dụng
lao động và Nhà nƣớc. Ngƣời sử dụng lao động tham gia BHXH là vì họ thấy đƣợc
lợi ích thiết thực cho họ, đồng thời là do sự ép buộc của Nhà nƣớc thông qua quy
định của pháp luật. Đối với Nhà nƣớc thì khác, Nhà nƣớc tham gia BHXH
với tƣ cách là chủ sở hữu lao động đối với tất cả công nhân viên chức làm việc

chức ở cấp quốc gia có trách nhiệm chỉ đạo, giám sát hoạt động của cơ quan bảo
hiểm xã hội và tƣ vấn chính sách bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế và bảo hiểm thất
nghiệp. Hội đồng quản lý bảo hiểm xã hội gồm đại diện Tổng Liên đoàn lao động
Việt Nam, tổ chức đại diện ngƣời sử dụng lao động, cơ quan quản lý nhà nƣớc về
bảo hiểm xã hội, cơ quan quản lý nhà nƣớc về bảo hiểm y tế, Bảo hiểm xã hội Việt
Nam và tổ chức khác có liên quan” [13, tr.77-78].
1.1.3. Chi trả bảo hiểm xã hội
 Khái niệm

Chi trả BHXH là quá trình phân phối, sử dụng quỹ BHXH để chi các chế độ
BHXH và đảm bảo các hoạt động của hệ thống BHXH. Trong đó:
-

Phân phối quỹ BHXH là quá trình phân bổ các nguồn tài chính từ quỹ BHXH để
hình thành các quỹ thành phần nhƣ quỹ ốm đau và thai sản, quỹ tai nạn
lao động - bệnh nghề nghiệp, quỹ hƣu trí và tử tuất hoặc phân bổ cho các mục đích
sử dụng khác nhau nhƣ quỹ đầu tƣ phát triển và quỹ chi trả các chế độ BHXH.
- Sử dụng quỹ BHXH là quá trình chi tiền của quỹ BHXH đến tay đối tƣợng
đƣợc thụ hƣởng hoặc cho từng mục đích sử dụng cụ thể.

13


Phân phối và sử dụng quỹ BHXH là hai quá trình khác nhau, nhƣng trong thực
tế, hai quá trình này thƣờng đan xen lẫn nhau. Tuy nhiên, cũng có những trƣờng
hợp, từ mục đích sử dụng quỹ đòi hỏi phải tách riêng hai quá trình này theo thứ tự
trƣớc sau. Ví dụ: phải phân phối quỹ đủ cho mục đích chi trả các chế độ BHXH, số
còn lại mới phân phối vào quỹ bảo toàn và tăng trƣởng,nghĩa là quỹ phải có số dƣ
mới thực hiện đầu tƣ tăng trƣởng.
 Phân biệt giữa chi trả bảo hiểm xã hội với các loại hình chi trả bảo hiểm

thực hiện bởi các doanh nghiệp bảo hiểm nhằm mục đích cung cấp cho xã hội một
loại hàng hóa, dịch vụ, trên cơ sở đó tìm kiếm một khoản lợi nhuận kinh doanh bảo
hiểm.
1.1.4. Quản lý nhà nƣớc về chi trả bảo hiểm xã hội
 Quản lý

Quản lý xuất hiện trong mọi tổ chức, vì sự tồn tại và phát triển của một thực
thể là tất yếu khách quan. Trong thực tế, có nhiều quan điểm khác nhau về quản lý.
Theo F.W.Taylor, quản lý là “biết chính xác điều bạn muốn ngƣời khác làm và sau
đó biết đƣợc rằng họ đã hoàn thành công việc đó một cách tốt nhất và rẻ nhất”.
Henry Fayol định nghĩa “quản lý là một tiến trình bao gồm tất cả các khâu lập kế
hoạch, tổ chức, lãnh đạo và kiểm tra các nỗ lực của mỗi thành viên trong tổ chức và
sử dụng tất cả các nguồn lực khác nhau của tổ chức nhằm đạt mục tiêu đã định
trƣớc”.
Từ các quan điểm trên, có thể tổng hợp định nghĩa về quản lý nhƣ sau: “Quản
lý là sự tác động có tổ chức, có định hướng của chủ thể lên các khách thể nhằm đạt
được mục tiêu định trước” [11, tr.22].
 Quản lý nhà nước và đặc điểm của quản lý nhà nước
- Quản lý nhà nước
+ Theo nghĩa bao quát: QLNN là hoạt động của hệ thống các cơ quan Nhà

nƣớc trong bộ máy Nhà nƣớc, bao gồm cơ quan lập pháp, hành pháp và tƣ pháp.
+ Theo nghĩa hẹp: QLNN không bao gồm hoạt động lập pháp và tƣ pháp của

Nhà nƣớc, mà đó là hoạt động của các cơ quan hành chính nhà nƣớc (cơ quan hành
pháp) để quản lý, điều hành các lĩnh vực đời sống xã hội theo pháp luật.
- Đặc điểm của quản lý nhà nước

15


nƣớc để tác động và điều chỉnh hoạt động chi trả BHXH.
- QLNN về chi trả BHXH đƣợc thống nhất từ cơ quan Nhà nƣớc cấp trung
ƣơng đến cấp địa phƣơng. QLNN về chi trả BHXH cần tuân thủ đúng các nguyên
tắc sau: “đúng chế độ, chính sách hiện hành, đúng ngƣời đƣợc hƣởng; bảo đảm chi
trả kịp thời và đầy đủ chế độ của ngƣời hƣởng; thủ tục chi trả đơn giản, thuận tiện;
đảm bảo an toàn tiền mặt trong chi trả; chi trả các chế độ bảo hiểm xã hội, bảo hiểm
thất nghiệp đƣợc quản lý thống nhất, công khai, minh bạch” [7, tr.5].
1.1.5. Một số nhân tố tác động đến chi trả bảo hiểm xã hội
16


 Sự phát của nền kinh tế

Khi nền kinh tế của đất nƣớc phát triển, hoạt động sản xuất kinh doanh và nhu
cầu lao động của doanh nghiệp sẽ đƣợc mở rộng, việc tham gia BHXH của doanh
nghiệp cũng trở thành một trong những tiêu chí cạnh tranh trên thƣơng trƣờng. Còn
ngƣời lao động, họ cũng mong muốn đƣợc tham gia BHXH với mức lƣơng cao để
đƣợc hƣởng quyền lợi cao. Từ đó, số thu BHXH sẽ gia tăng dẫn đến việc giải quyết
chế độ và chi trả BHXH cũng tăng để đáp ứng nhu cầu thụ hƣởng chính sách
BHXH cho ngƣời lao động.
 Sự nhận thức của xã hội về bảo hiểm xã hội

Khi ngƣời lao động, ngƣời sử dụng lao động cũng nhƣ toàn xã hội nhận thức
đƣợc tầm quan trọng và vai trò của chính sách BHXH, họ sẽ có ý thức chấp hành
tốt pháp luật BHXH. Việc tuân thủ pháp luật BHXH của ngƣời lao động, ngƣời sử
dụng lao động và cơ quan BHXH sẽ góp phần đƣa chính sách BHXH vào đời sống;
ngƣời lao động đƣợc hƣởng chế độ theo đúng quy định; hạn chế đƣợc hành vi trục
lợi quỹ BHXH, bảo đảm an toàn và phát triển quỹ BHXH.
 Sự điều chỉnh về chính sách, pháp luật của nhà nước
-

BHXH, doanh nghiệp, ngƣời lao động và cơ quan BHXH phải thực hiện hàng loạt
các hoạt động thuộc nghiệp vụ quản lý chi. Không có các hoạt động này thì ngƣời
tham gia BHXH không nhận đƣợc các khoản trợ cấp BHXH và do đó quyền lợi của
họ không đƣợc đảm bảo.
- Đối với hệ thống ASXH:
+

Chi trả BHXH góp phần đảm bảo đời sống cho ngƣời lao động tham gia BHXH
trong và sau khi ra khỏi quá trình lao động, liên quan trực tiếp đến đời sống hàng
ngày của con ngƣời. Quản lý, định hƣớng chi trả BHXH theo đúng quy định của
pháp luật sẽ góp phần đảm bảo nguyên tắc công bằng, đoàn kết, chia sẻ “lấy số
đông bù số ít, lấy không rủi ro bù cho rủi ro” giữa những ngƣời lao động với nhau.

+

Chi trả BHXH là nhu cầu thiết yếu và quan trọng nhất của ngƣời lao động trong số
những nhu cầu về ASXH của con ngƣời (nhu cầu tiếp cận và thoả mãn các dịch vụ
cơ bản về y tế, giáo dục, kế hoạch hoá gia đình, nƣớc sạch; nhu cầu trợ giúp xã hội
thƣờng xuyên đối với các đối tƣợng yếu thế; nhu cầu cứu trợ đột xuất.v.v.) mà Nhà
nƣớc và cộng đồng phải có trách nhiệm chia sẻ, cung cấp không vì mục tiêu lợi
nhuận cho xã hội.
 Xuất phát từ tính phức tạp của hoạt động chi trả bảo hiểm xã hội
18


- Hoạt động chi trả BHXH có liên quan đến nhiều đối tƣợng nhƣ ngƣời lao

động, ngƣời sử dụng lao động, ngƣời hƣởng chính sách BHXH (là thân nhân của
ngƣời lao động) và cơ quan BHXH. Mỗi đối tƣợng đều có nghĩa vụ và quyền lợi về
BHXH khác nhau theo quy định của pháp luật.

tác quốc tế về bảo hiểm xã hội’ [13, tr. 12-13]. Theo đó, QLNN về chi trả BHXH
bao gồm những nội dung sau:
 Một là, ban hành, tổ chức thực hiện các văn bản pháp luật về chi trả bảo hiểm xã hội
-

Nhà nƣớc xây dựng và ban hành các văn bản pháp luật về BHXH bao gồm Luật và
các văn bản dƣới luật để thực hiện chính sách BHXH thống nhất trong phạm vi cả
nƣớc. Đối với bảo hiểm thƣơng mại, Nhà nƣớc chỉ ban hành những
điều, những nội dung cơ bản nhất còn các chính sách, chiến lƣợc cụ thể là do các
công ty bảo hiểm thực hiện; còn đối với BHXH, Nhà nƣớc quy định bằng văn bản
pháp luật rất cụ thể và chặt chẽ các nội dung của chính sách BHXH, các cơ quan
BHXH không đƣợc tự ý đặt ra bất kỳ chế độ hay bất kỳ quy định nào.Vì vậy, xây
dựng pháp luật BHXH có thể coi là nội dung quan trọng nhất của quản lý Nhà nƣớc
về BHXH.
- Theo phân cấp, cơ quan QLNN ở cấp tỉnh, cấp huyệncó trách nhiệm tổ chức
thực hiện, đƣa chính sách vào đời sống xã hội trên cơ sở Luật BHXH, các văn bản
hƣớng dẫn thi hành Luật của Chính phủ, các Bộ, Ngành và Bảo hiểm xã hội Việt
Nam.
 Hai là, tuyên truyền, phổ biến chính sách, pháp luật về bảo hiểm xã hội

-

Tuyên truyền cho ngƣời lao động và nhân dân hiểu rõ chính sách BHXH là trụ cột
chính của hệ thống ASXH, góp phần thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội, nhằm
ổn định chính trị xã hội và phát triển kinh tế xã hội là nhiệm vụ vô cùng quan trọng.
Qua đó, đề cao tinh thần trách nhiệm của cả hệ thống chính trị, tăng cƣờng sự
phối hợp giữa các cơ quan QLNN và cơ quan BHXH từ trung ƣơng đến địa phƣơng
trong việc tổ chức thực hiện chế độ BHXH.

-

chuyên môn, phẩm chất đạo đức của viên chức đƣợc phân công nhiệm vụ;vì vậy
trong phân công bố trí cán bộ, viên chức thực thi nhiệm vụ chi trả chế độ BHXH
cần chú trọng đến đạo đức nghề nghiệp, kỹ năng giao tiếp và giải quyết tình huống,
sự am hiểu chính sách cũng nhƣchủ trƣơng của Đảng, pháp luật Nhà nƣớc và của
Ngành BHXH để thực hiện tốt công tác đƣợc giao.
 Bốn là, quản lý về thu - chi trả bảo hiểm xã hội, bảo toàn quỹ bảo hiểm

xã hội
- Cơ sở để hƣởng chế độ BHXH là có tham gia BHXH, vì vậy để đảm bảo

cho ngƣời lao động đƣợc hƣởng các chế độ khi gặp “rủi ro” thì việc thu đúng, thu
đủ, không để nợ BHXH của đơn vị sử dụng lao động là yếu tố quyết định. Bên cạnh
việc quản lý công tác chi trả một cách chặt chẽ, QLNN về chi trả BHXH còn phải
quan tâm đến công tác phát triển, mở rộng nguồn thu, quản lý tốt công nợ; không để
21


thất thoát quỹ BHXH. Đây là vấn đề cốt lõi mà cơ quan nhà nƣớc các cấp cần phải
quan tâm thực hiện.
-

Ngoài ra, xây dựng và đổi mới các quy trình chi trả theo hƣớng hiện đại là yêu cầu
cấp thiết để nâng cao chất lƣợng phục vụ ngƣời tham gia, ngƣời thụ hƣởng chính
sách và quản lý quỹ BHXH trong giai đoạn hiện nay.
 Năm là, thanh tra, kiểm tra việc chấp hành pháp luật bảo hiểm xã hội, xử

lý vi phạm pháp luật về bảo hiểm xã hội
- Do hoạt động BHXH liên quan đến các bên nhƣ ngƣời lao động, ngƣời sử
dụng lao động với những lợi ích khác nhau vì vậy họ thƣờnglợi dụng kẻ hở của
pháp luật BHXH để trục lợi cho mình. Mặt khác, chính sách BHXH bao gồm nhiều

động, ngày 26/01/1995 Chính phủ ban hành Nghị định số 12 quy định các chế độ
BHXH đối với cán bộ, công chức và ngƣời lao động trong các thành phần kinh tế
và Nghị định số 45 ngày 15/7/1995 quy định các chế độ BHXH đối với lực lƣợng
vũ trang.
Năm 2006, tại Kỳ họp thứ 9, Quốc hội khóa XI đã thông qua Luật BHXH;
năm 2008, tại Kỳ họp thứ 4, Quốc hội khóa XII đã thông qua Luật BHYT. Hai luật
này đã quy định chi tiết các chế độ BHXH và BHYT trên các quan điểm lớn của
Đảng và kế thừa những quy định phù hợp của pháp luật với nguyên tắc mức hƣởng
trên cơ sở mức đóng. Quản lý, hạch toán quỹ BHXH, BHYT độc lập và chia sẻ giữa
những ngƣời tham gia BHXH, BHYT với mục tiêu góp phần thực hiện ASXH, bảo
đảm mối tƣơng quan hợp lý giữa các đối tƣợng tham gia và ở các thời kỳ khác
nhau, hài hòa các chính sách kinh tế với chính sách xã hội.
Ngày 22/11/2012 Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết số 21-NQ/TW về tăng
cƣờng sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác BHXH, BHYT giai đoạn 2012 - 2020
và ngày 29/3/2013 Thủ tƣớng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 538/QĐ-TTg
phê duyệt Đề án thực hiện lộ trình tiến tới BHYT toàn dân giai đoạn 2012 - 2015 và
2020, đã xác định mục tiêu đến năm 2020 có trên 50% lao động tham gia BHXH,
40% tham gia BHTN, 80% dân số tham gia BHYT.
Năm 2014, Quốc hội nƣớc ta đã thông Luật BHXH năm 2014, tiếp tục thể chế
hóa quan điểm, đƣờng lối của Đảng trong các Nghị quyết 15-NQ/TW, Nghị quyết

23


21-NQ/TW và các quy định của Hiến pháp năm 2013 về quyền đƣợc bảo đảm
ASXH và trách nhiệm của Nhà nƣớc đƣợc ghi tại Điều 34 và Điều 59.
 Các văn bản hướng dẫn chi trả bảo hiểm xã hội chuyên ngành

Hoạt động chi trả BHXH chủ yếu dựa vào các văn bản hƣớng dẫn chuyên
ngành của BHXH Việt Nam và BHXH thành phố Hồ Chí Minh. Sau đây là một số

-

Công văn số 2388/BHXH-CSXH ngày 27/6/2013 “về việc tăng cƣờng công tác
quản lý nhằm ngăn chặn tình trạng lạm dụng hƣởng chế độ ốm đau, thai sản,
BHXH một lần”, yêu cầu khi thẩm định hồ sơ hƣởng phải thực hiện kiểm tra, rà
soát kỹ các giấy tờ làm căn cứ hƣởng chế độ nhƣ giấy chứng nhận nghỉ việc hƣởng
BHXH, giấy ra viện, bệnh án, giấy chứng sinh, giấy khai sinh, thời gian đóng
24


BHXH theo đúng quy định. Khi giải quyết BHXH một lần nhất thiết phải tra soát
thông tin hƣởng hƣởng BHXH một lần thông qua phần mềm hỗ trợ nghiệp vụ của
BHXH Việt Nam để tránh giải quyết trùng chế độ; thực hiện cập nhật dữ liệu đảm
bảo đầy đủ, đúng theo sổ BHXH và đối tƣợng tham gia BHXH bắt buộc hoặc
BHXH tự nguyện.
-

Trên cơ sở các văn bản hƣớng dẫn của BHXH Việt Nam, BHXH thành phố Hồ
Chí Minh xây dựng quy trình tiếp nhận và giải quyết chi trả BHXH, trong đó có
các văn bản hƣớng dẫn nghiệp vụ nhƣ công văn 353/BHXH-CĐBHXH ngày
11/11/2014 hƣớng dẫn về hồ sơ và quy trình hƣởng chế độ ốm đau, thai sản, dƣỡng
sức từ ngày 01/01/2016; công văn 2370/BHXH-CĐ ngày 27/09/2016 hƣớng dẫn chi
trả trợ cấp ốm đau, thai sản, dƣỡng sức phục hồi sức khỏe qua tài khoản cá nhân
của ngƣời lao động; thông báo số 2242/TB-BHXH ngày 09/9/2016 về việc điều
chỉnh quy trình và phiếu giao nhận hồ sơ theo cơ chế một cửa, theo thông báo này
các quy trình tiếp nhận giải quyết chế độ có thay đổi về thủ tục hồ sơ, thời gian giải
quyết phù hợp với quy định mới của Luật BHXH năm 2014.
1.2.4. Hệ thống các cơ quan quản lý nhà nƣớc về chi trả bảo hiểm xã hội
 Hệ thống các cơ quan hành chính nhà nƣớc đƣợc thiết lập trên cơ sở phân


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status