BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT
HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
THÂN THỊ THU HOA
QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ ĐẤT NÔNG NGHIỆP
ĐÃ THU HỒI TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN VIỆT YÊN,
TỈNH BẮC GIANG
LUẬN VĂN THẠC SĨ
CHUYÊN NGÀNH: QUẢN LÝ KINH TẾ HÀ NỘI, NĂM 2015
LỜI CAM ĐOAN
- Tôi cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các số liệu, kết
quả nghiên cứu trình bày trong luận văn là trung thực và chưa từng được công bố
trong bất kỳ công trình nghiên cứu nào khác.
- Tôi xin cam đoan rằng mọi sự cộng tác, giúp đỡ cho việc thực hiện luận
văn này đã được cám ơn và các thông tin trích dẫn trong luận văn đã được chỉ rõ
nguồn gốc.
Hà Nội, ngày 15 tháng 07 năm 2015
Tác giả luận văn
Thân Thị Thu Hoa
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page iii
LỜI CẢM ƠN
Để thực hiện và hoàn thành luận văn này, tôi đã nhận được sự quan tâm
giúp đỡ tận tình, sự đóng góp quý báu của nhiều cá nhân và tập thể.
Trước tiên, tôi xin trân trọng gửi lời cảm ơn tới Ban Giám hiệu Học viện
Nông nghiệp Việt Nam, Khoa Kinh tế và Phát triển nông thôn, Bộ môn Kinh tế
nông nghiệp và chính sách đã tạo mọi điều kiện thuận lợi cho tôi học tập, nghiên
cứu và hoàn thành luận văn.
Đặc biệt, tôi xin bày tỏ sự biết ơn sâu sắc đến thày giáo PGS.TS. Phạm
Bảo Dương đã tận tình hướng dẫn, chỉ bảo và giúp đỡ tôi trong suốt thời gian tôi
thực hiện luận văn.
Tôi cũng xin trân trọng cảm ơn UBND huyện Việt Yên, Phòng tài nguyên
1.4.1 Đối tượng nghiên cứu 3
1.4.2 Phạm vi nghiên cứu 3
PHẦN II CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 4
2.1 Cơ sở lý luận 4
2.1.1 Khái niệm về đất nông nghiệp, đất nông nghiệp đã thu hồi 4
2.1.2 Sự cần thiết của quản lý nhà nước về đất nông nghiệp đã thu hồi 5
2.1.3 Nội dung nghiên cứu công tác Quản lý nhà nước về đất nông nghiệp đã
thu hồi 8
2.1.4 Các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý nhà nước về đất đã thu hồi 12
2.2 Cơ sở thực tiễn 14
2.2.1 Kinh nghiệm của một số nước về quản lý Nhà nước về đất nông nghiệp đã
thu hồi 14
2.2.2 Kinh nghiệm quản lý nhà nước về đất nông nghiệp đã thu hồi ở Việt Nam 16
PHẦN III PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 19
3.1 Đặc điểm địa bàn huyện Việt Yên 19
3.1.1 Điều kiện tự nhiên 19
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page v
3.1.2 Điều kiện kinh tế-xã hội 20
3.2 Phương pháp nghiên cứu 25
3.2.1 Phương pháp tiếp cận 25
3.2.2 Phương pháp chọn điểm nghiên cứu 25
3.2.3 Phương pháp thu thập số liệu, tài liệu, thông tin 26
3.2.4 Phương pháp xử lý và tổng hợp thông tin 27
3.2.5 Phương pháp phân tích thông tin 27
3.3 Hệ thống chỉ tiêu nghiên cứu 28
PHẦN IV KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 29
4.1 Thực trạng quản lý nhà nước về đất nông nghiệp đã thu hồi trên địa bàn
huyện Việt Yên 29
4.3.6 Công tác thanh tra, kiểm tra và xử lý vi phạm về quản lý đất đai 69
PHẦN V KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 71
5.1 Kết luận 71
5.2 Kiến nghị 72
TÀI LIỆU THAM KHẢO 74
PHỤ LỤC 88
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page vii
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
BĐS Bất động sản
BQ Bình quân
BT Bồi thường
CC Cơ cấu
CNH Công nghiệp hóa
ĐNN Đất nông nghiệp
ĐNNĐTH Đất nông nghiệp đã thu hồi
GPMB Giải phóng mặt bằng
HĐH Hiện đại hóa
QL Quản lý
QLNN Quản lý nhà nước
THĐ Thu hồi đất
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page viii
DANH MỤC BẢNG
Số bảng Tên bảng Trang
4.1 Cơ cấu đất đai của huyện Việt Yên 29
4.2 Đánh giá về công tác lập bản đồ quy hoạch sử dụng đất 39
4.3 Mức độ hài lòng với công việc của CBQLĐĐ 60
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page 1
PHẦN I
ĐẶT VẤN ĐỀ
1.1 Tính cấp thiết của đề tài
Đất nước chúng ta đang trong thời kì phát triển mạnh về kinh tế, cho nên
nhu cầu của Nhà nước về đất đai là rất lớn cho các dự án đầu tư trong nước cũng
“quy hoạch treo”. Công tác quản lý quy hoạch, quản lý đất đai, còn một số hạn
chế; một số địa phương chưa chủ động xử lý những vướng mắc, phát sinh, giải
quyết kiến nghị, khiếu nại của các tổ chức làm cho việc bồi thường, giải phóng
mặt bằng chậm, ảnh hưởng đến đời sống và việc làm của người dân.
Xuất phát từ thực tiễn trên, tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: ‘‘Quản lý Nhà
nước về đất nông nghiệp đã thu hồi trên địa bàn huyện Việt Yên, tỉnh Bắc
Giang” để thấy được thực trạng công tác quản lý Nhà nước về đất nông nghiệp
đã thu hồi trên địa bàn huyện từ đó đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện
công tác quản lý Nhà nước về đất nông nghiệp đã thu hồi trên địa bàn huyện Việt
Yên, tỉnh Bắc Giang.
1.2 Mục tiêu nghiên cứu
1.2.1 Mục tiêu chung
Phân tích tình hình thực hiện công tác quản lý Nhà nước về đất nông
nghiệp đã thu hồi trên địa bàn huyện, từ đó đề xuất một số giải pháp để hoàn
thiện công tác quản lý Nhà nước về đất nông nghiệp đã thu hồi tại huyện Việt
Yên, tỉnh Bắc Giang.
1.2.2 Mục tiêu cụ thể
(1) Góp phần hệ thống hóa cơ sở lý luận và thực tiễn về quản lý Nhà nước
về đất nông nghiệp đã thu hồi;
(2) Thực trạng công tác quản lý Nhà nước về đất nông nghiệp đã thu hồi
trên địa bàn huyện Việt Yên, tỉnh Bắc Giang;
(3) Phân tích các yếu tố ảnh hưởng tới công tác quản lý Nhà nước về đất
nông nghiệp đã thu hồi trên địa bàn huyện Việt Yên, tỉnh Bắc Giang;
(4) Đề xuất các giải pháp nhằm góp phần hoàn thiện công tác quản lý Nhà
nước về đất nông nghiệp đã thu hồi trên địa bàn huyện Việt Yên, tỉnh Bắc Giang.
1.3 Câu hỏi nghiên cứu
(1) Thực trạng sử dụng đất nông nghiệp trên địa bàn huyện Việt Yên, tỉnh
Bắc Giang như thế nào?
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page 3
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page 4
PHẦN II
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
2.1 Cơ sở lý luận
2.1.1 Khái niệm về đất nông nghiệp, đất nông nghiệp đã thu hồi
Cho đến ngày nay, khi con người nhờ có KH-KT mà đời sống ngày một
cải thiện và chất lượng ngày một nâng cao nhưng cuộc sống con người vẫn
không thể tách rời khỏi ĐNN. Dọc theo quá trình phát triển ta có thể thấy mục
đích đầu tiên của con người đối với đất đai để sản xuất nông nghiệp; và bây giờ
có thêm rất nhiều ngành sản xuất mới ra đời, sản xuất công nghiệp, tiểu thủ công
nghiệp, thương mại dịch vụ. Cho đến nay, con người vẫn không rời bỏ được nền
sản xuất nông nghiệp đã tồn tại từ rất lâu đời. Như vậy, một nguồn đất trong tổng
quỹ đất của loài người là phục vụ cho mục đích trồng trọt, chăn nuôi, nuôi
trồng quỹ đất đó được gọi là ĐNN.
“ĐNN là đất được sử dụng vào mục đích sản xuất nông nghiệp như: Trồng
trọt, chăn nuôi, làm muối, nuôi trồng thuỷ sản hoặc sử dụng để nghiên cứu thí
nghiệm về nông nghiệp” (Luật đất đai năm 2003).
Đất đai khi được sử dụng vào mục đích nông nghiệp thì được gọi là ruộng
đất. Con người tác động vào ĐNN tạo ra của cải, vật chất cho đời sống. ĐNN -
ruộng đất là đối tượng lao động đồng thời là tư liệu lao động của con người. Lúc
đầu, con người canh tác chỉ để đáp ứng nhu cầu của bản thân, gia đình nền kinh
tế “tự cung tự cấp”. Xã hội phát triển quá trình chuyên môn hoá diễn ra, nông
phẩm không đơn giản chỉ để phục vụ cho bản thân người sản xuất nữa. Nông
phẩm là một mặt hàng quan trọng trên thị trường, mang lại nhiều lợi ích kinh tế
cho người sử dụng đất và cho toàn xã hội. Vì vậy, đất đai sử dụng vào sản xuất
nông nghiệp - ruộng đất chiếm vị thế đáng kể đối với sự phát triển của nền sản
nhân, tổ chức, thành phần kinh tế. Tính tổ chức đó đặt ra vấn đề là làm sao hình
thành nên các tổ chức, bộ máy quản lý với cơ cấu và cơ chế hoạt động thích hợp.
Mặt khác, các tổ chức, bộ máy đó hoạt động như thế nào? Sự phối hợp hoạt
động. phân chia quyền hạn, trách nhiệm giữa các cá nhân, tổ chức như thế nào?
Để bộ máy nhà nước quản lý mang lại hiệu quả tối ưu, đạt được mục tiêu đã đề
ra. Đó là một vấn đề lớn đối với công tác tổ chức bộ máy quản lý Nhà nước (Lê
Chi Bá và các cộng sự, 2010).
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page 6
Nhà nước còn tạo lập nên bộ máy sức mạnh về pháp luật, an ninh, bộ máy
áp chế để thực hiện công tác quản lý của mình đưa cá nhân, tổ chức vào đúng
quỹ đạo, hoạt động trong khuôn khổ phục vụ lợi ích cá nhân mà lợi ích đó không
gây ảnh hưởng xấu đến xã hội. Sự tồn tại của bộ máy áp chế trong cơ cấu các cơ
quan chức năng quản lý là một tất yếu khách quan, đó là điều kiện cần thiết để
thực hiện nhiệm vụ quản lý trong những trường hợp cần thiết.
Quản lý nhà nước còn được thể hiện ở quan hệ chủ thể và khách thể và đối
tượng quản lý. Chủ thể của sự quản lý nhà nước là bộ máy hành chính từ trung
ương đến địa phương, tỉnh, thành, phường, xã,…và toàn bộ các cán bộ công nhân
viên chức của nhà nước làm việc trong công tác quản lý Nhà nước Khách thể
quản lý là các công dân, tổ chức, các thành phần kinh tế, xã hội Đối tượng của
công tác quản lý nhà nước là các quá trình kinh tế, các hoạt động, các mối quan
hệ có liên quan. Riêng trong lĩnh vực quản lý Nhà nước về đất đai chủ thể quản
lý nhà nước về đất đai (cụ thể ở đây là đất nông nghiệp) thì nhà nước đóng vai trò
là chủ thể quản lý, khách thể của sự quản lý là các cá nhận, tổ chức, doanh nhân,
doanh nghiệp sử dụng đất nông nghiệp, có liên quan đến đất nông nghiệp Và
đối tượng của công tác quản lý nhà nước về đất nông nghiệp là những mối quan
hệ phát sinh, những vướng mắc, vấn đề có liên quan đến đất nông nghiệp xảy ra
trong xã hội.
Cụ thể trong công tác quản lý nhà nước về đất nông nghiệp đã thu hồi,
Nhà nước. Do đó, nhà nước có được chiến lược phát triển lâu dài, bền vững cho
đất nước (Nguyễn Khắc Thái Sơn, 2007).
- Công tác kiểm kê, đánh giá phân hạng đất nông nghiệp là một việc làm
không thể thiếu được của công tác quản lý nhà nước về đất đai (đất nông nghiệp
đã thu hồi). Hàng năm nhà nước phải nắm bắt được cụ thể diện tích, chất lượng,
mục đích sử dụng, tình trạng sử dụng của các loại đất nói chung và của đất nông
nghiệp đã thu hồi nói riêng, có như thế mới có thể tạo lập được quy hoạch, kế
hoạch sử dụng đất nông nghiệp đã thu hồi phù hợp, lâu dài, tính dự báo cáo Để
có được điều đó đòi hỏi công tác kiểm kê đánh giá phân hạng đất nông nghiệp
phải được thực hiện triệt để, theo đúng luật, đúng kế hoạch đề ra. Công tác này
không những giúp cho công tác lập, điều chỉnh quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất
(đất nông nghiệp đã thu hồi) mà nó còn đóng góp rất lớn cho công tác quản lý tài
chính về đất nông nghiệp đã thu hồi của nhà nước ta. Tạo một nguồn thu quan
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page 8
trọng cho ngân sách, phục vụ cho hoạt động quản lý nhà nước về đất nông nghiệp
đã thu hồi. Nhà nước tính thuế đất nông nghiệp, thuế chuyển quyền sử dụng đất,
tiền đền bù dựa trên khung giá đất nông nghiệp, đất nông nghiệp được chia ra
nhiều loại mỗi loại có một khung giá khác nhau. Để phân chia được đất nông
nghiệp thì công tác đầu tiên là phân hạng, đo đạc, đánh giá đất. Qua đây ta có thể
thấy vai trò lớn của công tác đo đạc, phân hạng, đánh giá đất đai (Nguyễn Khắc
Thái Sơn, 2007).
-Đất đai là tài sản quý giá của bất kỳ một quốc gia nào. Giá trị của đất đai
ngày càng lớn trên thị trường cạnh tranh, mối quan hệ đất đai ngày càng phức tạp
hơn. Con người đã nhìn nhận thấy được tính quan trọng của đất đai đối với đời
sống của mình. Chính vì vậy, các tranh chấp, mâu thuận, khiếu kiện trong các
quan hệ đất đai thường nổ ra mạnh mẽ. Trong công tác quản lý nhà nước về đất
nông nghiệp đã thu hồi, cán bộ, công nhân viên chức có thể lợi dụng quyền hạn
và trách nhiệm, công cụ nhà nước để vụ lợi cho cá nhân, lợi ích của người này
2.1.3.2 Khảo sát, đo đạc, đánh giá, phân hạng đất nông nghiệp, lập bản đồ hiện
trạng và bản đồ quy hoạch sử dụng đất nông nghiệp đã thu hồi
Đất nông nghiệp có nhiều loại, tính chất, vùng miền khác nhau chúng
được sử dụng vào nhiều mục đích khác nhau Để có một cơ chế quản lý phù hợp,
có được định hướng, quy hoạch và kế hoạch phù hợp với địa phương, tỉnh, thành
phố, cả nước. Việc đầu tiên bắt buộc Nhà nước phải nắm được các thông tin về
đất nông nghiệp như: Diện tích, loại đất tình hình sử dụng, phân bố, mục đích sử
dụng, Những thông tin này sẽ đóng góp rất lớn cho công tác QLNN về đất đai
nói chung và ĐNN đã thu hồi nói riêng
Đối với ĐNN đã thu hồi, để quản lý được ĐNN đã thu hồi một cách có hệ
thống Nhà nước cũng cần những thông tin về ĐNN đã thu hồi: diện tích, tình
trạng sử dụng, mục đích sử dụng (trồng cây ngắn ngày, dài ngày ). Từ những
thông tin về ĐNN người quản lý có được kế hoạch sử dụng hợp lý và cho ra
những quyết định sử dụng đứng đắn, phải thu thập tiếp những thông tin về ĐNN
để biết được tình hình ĐNN đang diễn biến như thế nào từ đó có những điều
chỉnh, sửa đổi kế hoạch, quy hoạch, pháp luật đất đai Chính vì vậy, Nhà nước
phải tiến hành khảo sát đo đạc đánh giá, phân hạng ĐNN, lập bản đồ hiện trạng
và bản đồ quy hoạch sử dụng ĐNN.
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page 10
2.1.3.3 Lập, quản lý và thực hiện quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất nông nghiệp
đã thu hồi
Bất kể quốc gia nào cũng cần có quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất nói
chung và ĐNN nói riêng. Đứng trên cương vị là cơ quan QLNN về đất đai nói
chung và ĐNN nói riêng. Nhà nước là người tiến hành lập quy hoạch, kế hoạch
sử dụng đất cho các vùng, lãnh thổ, ngành. Xét trên phạm vi quy hoạch thì quy
hoạch, kế hoạch sử dụng ĐNN có thể được lập cho một huyện, thành phố, vùng,
cả nước. Công tác quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất được quy định rất rõ và cụ
thể trong luật Đất đai 2003 từ Điều 21 đến Điều 30.
Việc đăng ký cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng ĐNN là một công tác được
Nhà nước ta chú ý và được triển khai khá sớm ở nước ta, kết quả mang lại đã
được công nhận.
2.1.3.6 Quản lý tài chính đối với đất nông nghiệp đã thu hồi
Công cụ tài chính là một trong những biện pháp của Nhà nước ban hành ra
nhằm phân phối lại lợi ích của các bên thân gia trong các mối quan hệ liên quan
đến đất nông nghiệp. Việc thực thi công cụ tài chính trong quản lý sử dụng ĐNN
phải đảm bảo được các yêu cầu mà Nhà nước đặt ra để phục vụ cho công tác
quản lý, nâng cao hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp.
Việc thu tài chính đất đai nói chung và ĐNN đã thu hồi nói riêng phải tuân
theo quy định của pháp luật. Việc thu tiền sử dụng đất phải căn cứ vào diện tích,
thời hạn sử dụng đất, khung giá đất tương ứng, tuân theo các văn bản hướng dẫn
như: thông tư 117/2004/TT-BTC (ngày 07/12/2004), nghị định 198/2004/NĐ-
CP. Nghị định 74/NĐ-CP ngày 25/10/1993 quy định chi tiết thi hành luật thuế sử
dụng ĐNN.
2.1.3.7 Công tác thanh tra, kiểm tra việc chấp hành pháp luật của người dân sử
dụng đất nông nghiệp và của cơ quan Quản lý nhà nước về đất nông nghiệp đã
thu hồi
Thanh tra việc QLNN về đất nông nghiệp của UBND các cấp, Thanh tra
việc chấp hành pháp luật về đất nông nghiệp của người dân, tổ chức, cá nhân.
Việc thanh tra đất đai đòi hỏi phải có một đội ngũ cán bộ giàu kinh nghiệm,
nghiệp vụ và lực lượng thanh tra đủ lớn, Mục đích của công tác thanh tra là
mang lại những thông tin nhanh và chính xác về tình hình sử dụng đất đai phát
hiện sớm những trường hợp vi phạm để xử lý kịp thời, Mặt khác thanh tra đội
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page 12
ngũ thực hiện công tác QLNN để phát hiện hành vi gian lận, tham ô, thanh lọc bộ
máy, hạn chế, triệt tiêu hành động có hại cho lợi ích xã hội, tư lợi cá nhân.
2.1.4 Các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý nhà nước về đất đã thu hồi
Page 13
doanh nghiệp. Khâu thẩm định nếu tốt sẽ lựa chọn được đúng vị trí phát triển KCN
phù hợp, hạn chế tình trạng mất đất nông nghiệp tràn lan. Nếu khâu thẩm định chưa
tốt, sẽ có ảnh hưởng ngược lại, làm tăng rủi ro cho lao động của hộ. Sau khi thẩm
định, khâu giám sát hoạt động đền bù, giải phóng mặt bằng có vai trò rất lớn trong
việc phát hiện các khâu sai phạm trong quản lý đất đai, từ đó có những can thiệp kịp
thời nhằm hạn chế tình trạng kiện cáo kéo dài (Nguyễn Khắc Thái Sơn, 2007).
-
Công tác thanh tra, kiểm tra và xử lý vi phạm trong quản lý đất đai
Nhìn chung, trong những năm qua, hiệu lực, hiệu quả công tác quản lý sử
dụng đất đai đã có những chuyển biến tích cực. Cơ chế, chính sách về quản lý sử
dụng đất ngày càng hoàn thiện và chặt chẽ hơn. Tuy vậy, vẫn còn nhiều những vi
phạm về quản lý sử dụng đất đai. Nguyên nhân dẫn tới tình trạng trên là do các
cơ quan chuyên môn thực hiện việc giải quyết hồ sơ, thủ tục về đất đai chậm so
với thời gian quy định, gây lãng phí về thời gian, về kinh tế cũng như cơ hội đầu
tư cho các doanh nghiệp. Thủ tục giao đất chưa đúng quy định như thiếu ký hiệu
thửa đất, thiếu biên bản bàn giao mốc giới, chậm cập nhật ngày biến động địa
giới hành chính, chưa điều chỉnh kịp thời hệ thống bản đồ địa chính. Tỷ lệ cấp
Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của các quận, huyện phần lớn còn chậm, gây
không ít khó khăn cho công tác quản lý và giải quyết những vấn đề phát sinh của
người dân trong quá trình sử dụng đất (Chu Văn Thỉnh, 1999).
Do đó, việc thanh tra, kiểm tra, giám sát là một hoạt động rất quan trọng
và cần thiết trong việc quản lý đất đai.Trên cơ sở thanh tra, kiểm tra, những sai
phạm đã được phát hiện cũng như chỉ ra những nguyên nhân chủ yếu dẫn tới
những sai phạm trên, ngành thanh tra đã đưa ra những kiến nghị nhằm chấn
chỉnh, xử lý kịp thời, nghiêm minh để nâng cao hiệu lực, hiệu quả trong công tác
quản lý nhà nước về đất đai.
-
Các công tác tuyên truyền ở địa phương
quanh, với diện tích chỉ gần 700 km
2
. Thời kỳ mới giành được độc lập (năm
1965), đô thị Singapore còn hết sức ngổn ngang, quá trình đô thị hóa cũng phát
sinh nhiều “căn bệnh đô thị” như dân số tăng nhanh, tắc nghẽn giao thông, ngập
nước, thiếu nhà ở… Nhưng chỉ sau hơn 30 năm thực hiện đô thị hóa, đất nước
này đã trở thành một trong những đô thị hiện đại bậc nhất thế giới. Một trong
những yếu tố góp phần vào thành tựu vượt bậc ấy của Singapore là công tác quản
lý và quy hoạch đất đai (Lê Chi Bá và các cộng sự, 2010).
Ở Singapore không có tình trạng quy hoạch "treo".
Các bước tiến hành quy hoạch của Singapore gồm 3 bước:
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page 15
- Quy hoạch chiến lược (còn gọi là quy hoạch ý niệm): Các ý tưởng quy
hoạch giai đoạn này tính toán cho dài hạn tới 30- 40 năm sau. Năm 1971,
Singapore hoàn thành bản quy hoạch chiến lược đầu tiên, sau 10 năm được hiệu
chỉnh, xét duyệt một lần. Nội dung quy hoạch giai đoạn này dựa trên các ý tưởng
về cơ cấu kinh tế, phân vùng và bố trí cơ cấu sử dụng đất hợp lý, ưu tiên đất đai
cho phát triển kinh tế, hình thành các trục giao thông chủ đạo, các khu công
nghiệp, cảng biển, sân bay, các khu chung cư cho nhân dân và đề ra các chương
trình hành động cho từng giai đoạn.
- Quy hoạch tổng thể: Căn cứ vào quy hoạch chiến lược, các ý tưởng quy
hoạch giai đoạn này tính toán cho 10-15 năm sau. Nội dung quy hoạch giai đoạn
này quy định chi tiết từng ô phố, từng khu đất bao gồm diện tích, mật độ xây
dựng, mục đích sử dụng đất… và công khai cho mọi người biết để thu hút đầu tư
và hướng dẫn người dân thực hiện theo quy hoạch
- Quy hoạch triển khai chi tiết: Giai đoạn này do các chủ đầu tư dự án trên
các khu đất được giao quản lý thực hiện. Căn cứ vào quy hoạch tổng thể và yêu
cầu sử dụng đất, chủ đầu tư phối hợp với các tổ chức tư vấn quy hoạch chi tiết trình