Quản lý Nhà nước về Trật tự an toàn xã hội trên địa bàn phường Dịch Vọng hiện nay - Pdf 22

BẢNG CHỮ CÁI VIẾT TẮT TRONG ĐỀ TÀI
ANCT An ninh chính trị
ANQG An ninh quốc gia
ANTT An ninh trật tự
BCA Bộ Công an
CATP Công an thành phố
CSND Cảnh sát nhân dân
MTTQ Mặt trận Tổ Quốc
PCCC Phòng cháy chữa cháy
QĐ Quyết định
QLNN Quản lý nhà nước
TTATGT Trật tự an toàn giao thông
TTATXH Trật tự an toàn xã hội
TTCC Trật tự công cộng
TTĐT Trật tự đô thị
TTGT Trật tự giao thông
TTXH Trật tự xã hội
UBND Ủy ban nhân dân
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Giữ vững An ninh quốc gia, bảo đảm sự ổn định của đất nước, đấu
tranh làm thất bại mọi âm mưu và hành động phá hoại của các thế lực thù địch
và các loại tội phạm khác; giữ gìn Trật tự an toàn xã hội, bảo vệ vững chắc
những thành quả cách mạng, phục vụ đắc lực công cuộc đổi mới là một nhiệm
vụ trọng yếu trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc [14, Tr 86-87].
Do vậy, Quản lý Nhà nước về An ninh quốc gia và Trật tự an toàn xã
hội là một hoạt động quan trọng, luôn luôn được Đảng và Nhà nước quan tâm
đặc biệt. Chúng ta biết rằng, lực lượng Công an nhân dân là lực lượng nòng
cốt giữ vai trò hết sức quan trọng trong việc Quản lý Nhà nước về Trật tự an
toàn xã hội. Thực tế những năm qua, dưới sự lãnh đạo của Đảng và sự chỉ đạo
về nghiệp vụ của Công an các cấp, cán bộ, chiến sĩ công an phường Dịch

được đề cập đến nhiều trong các giáo trình dành cho chuyên ngành pháp luật
như: Quản lý nhà nước về an ninh trật tự ( Chủ biên: Trần Viết Long và tập
thể tác giả Học Viện Cảnh Sát Nhân Dân, Hà Nội - 2007); Một số vấn đề lí
luận cơ bản quản lý nhà nước về An ninh trật tự (Lê Ngọc Thanh – Đại Học
Cảnh Sát Nhân dân, Hà Nội - 1996); Một số lí luận cơ bản về hoạt động
nghiệp vụ của lực lượng cảnh sát quản lý hành chính (Chủ biên: TS Vũ Văn
Hiền – Học Viện Cảnh Sát Nhân dân, Hà Nội - 2003); Kỹ năng giao tiếp của
cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội (Chủ biên: PGS. TS Đinh Trọng
Hoàn – NXB Công An Nhân Dân - 2009); Cảnh sát quản lý hành chính về
trật tự xã hội (Chỉ đạo biên soạn: Đại tá Phạm Văn Đức – NXB Công An
Nhân dân, Hà Nội – 1998) Ngoài ra, cũng có không ít bài viết của các tác giả
trong và ngoài ngành đã đề cập đến vấn đề này. Những công trình trên chính
3
là cơ sở lý luận để tác giả kế thừa trong quá trình thực hiện nội dung của luận
văn này.
Trong phạm vi các khóa luận tốt nghiệp, luận văn thạc sĩ và luận án
tiến sĩ trước đây, cũng đã có nhiều nghiên cứu của các tác giả khác nhau liên
quan đến Quản lý Nhà nước về Trật tự an toàn xã hội. Tuy nhiên, có thể nói
rằng, cho đến nay chưa có công trình nào nghiên cứu một cách đầy đủ và có
hệ thống về đề tài “Quản lý Nhà nước về Trật tự an toàn xã hội trên địa
bàn phường Dịch Vọng hiện nay”. Có thể nói, luận văn này là công trình
đầu tiên nghiên cứu về vấn đề này.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở nghiên cứu cơ sở lý luận, đánh giá đúng những ưu điểm và
hạn chế của công tác QLNN về TTATXH trên địa bàn phường Dịch Vọng
cùng với những nguyên nhân của thành công và hạn chế, luận văn xác định
phương hướng và đề xuất những giải pháp nhằm tăng cường công tác Quản lý
Nhà nước về Trật tự an toàn xã hội trên địa bàn phường, góp phần vào việc
thực hiện thắng lợi nhiệm vụ giữ vững an ninh, trật tự tại địa phương.

khảo sát thực tế về tình hình trật tự an toàn xã hội và công tác quản lý Nhà
nước trên lĩnh vực này tại địa bàn phường Dịch Vọng.
Phương pháp thống kê, phân tích, tổng hợp được sử dụng để đánh giá,
nhận xét về những ưu điểm và hạn chế của công tác quản lý trật tự an toàn xã
hội của cán bộ, chiến sĩ công an phường Dịch Vọng.
5
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của để tài
6.1. Ý nghĩa lý luận
Luận văn làm phong phú hơn những lý luận liên quan quản lý nhà nước
về Trật tự an toàn xã hội, từ đó giúp cho cán bộ, chiến sĩ trong lực lượng
Công an nhân dân rút ra nhận thức chung về vấn đề này để từng bước nâng
cao hiệu quả công tác Quản lý Nhà nước về Trật tự an toàn xã hội.
6.2. Ý nghĩa thực tiễn
Kết quả nghiên cứu của đề tài giúp cho cán bộ công an phường nói
chung và công an phường Dịch Vọng, quận Cầu Giấy, TP Hà Nội nói riêng
rút ra được những kinh nghiệm trong khi thực hiện nhiệm vụ trên địa bàn
phường mình quản lý, trên cơ sở đó có những giải pháp phù hợp để tăng
cường công tác QLNN về TTATXH ở địa phương. Đồng thời đây cũng là tài
liệu tham khảo hữu ích cho những người nghiên cứu về lĩnh vực này.
Ngòai ra, việc nghiên cứu đề tài giúp tác giả củng cố thêm hệ thống
nghiệp vụ lý luận Quản lý Nhà nước về Trật tự an toàn xã hội, nâng cao trình
độ lý luận và khả năng ứng dụng vào thực tiễn công tác, đáp ứng được yêu
cầu và đòi hỏi của xã hội trong thời kỳ mới.
7. Cấu trúc của luận văn
Luận văn ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Phụ lục và Tài liệu tham khảo,
phần nội dung được kết cấu thành 3 chương và 7 tiết.
6
CHƯƠNG I
CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC
VỀ TRẬT TỰ AN TOÀN XÃ HỘI TRÊN ĐỊA BÀN PHƯỜNG

trên cơ sở các quy phạm pháp luật và chuẩn mực đạo đức, pháp lý xác định.
Công tác đảm bảo Trật tự an toàn xã hội là giữ gìn trạng thái bình yên, an
toàn, có trật tư, kỷ cương của xã hội, là phòng ngừa, phát hiện, ngăn chặn, đấu
tranh chống tội phạm, tệ nạn và các hành vi vi phạm pháp luật có ảnh hưởng
đến trạng thái đó.
Dưới góc độ đảm bảo an ninh, trật tự, khái niệm Trật tự, an toàn xã hội
được định nghĩa như sau:
Là trạng thái xã hội bình yên trong đó mọi người được sống yên ổn trên
cơ sở các quy phạm pháp luật, các quy tắc và chuẩn mực đạo đức, pháp lý xác
định. Đấu tranh giữ gìn Trật tự an toàn xã hội bao gồm: giữ gìn trật tự nơi
công cộng; đảm bảo trật tự an toàn giao thông; phòng ngừa tai nạn; bài trừ tệ
nạn xã hội; bảo vệ môi trường Bảo vệ Trật tự an toàn xã hội là nhiệm vụ của
toàn Đảng, toàn dân, lực lượng Công an nhân dân giữ vai trò nòng cốt và có
chức năng tham mưu, hướng dẫn và trực tiếp đấu tranh phòng, chống tội
phạm, giữ gìn trật tự công cộng, bảo đảm trật tự, an toàn giao thông, tham gia
phòng ngừa tai nạn, bài trừ tệ nạn xã hội, bảo vệ môi trường [3, Tr 1182].
Dự đứng ở góc độ nghiên cứu nào, chúng ta cũng thấy có sự thống nhất
trong đánh giá về nội hàm của khái niệm Trật tự an toàn xã hội, điều đó được
thể hiện trên những dấu hiệu căn bản sau:
- Đó là một trạng thái trật tự, nề nếp, kỷ cương, bình yên của xã hội.
8
- Trạng thái này chỉ đạt tới độ vững chắc khi được thiết lập trên cơ sở sự
tự giác tuân thủ quy phạm pháp luật, đạo đức của mọi người trong xã hội
- Là kết quả tổng hợp của công tác phòng ngừa, đấu tranh chống tội
phạm, tệ nạn xã hội; công tác quản lý, bảo vệ, gìn giữ trật tự, an toàn trên
nhiều llĩnh vực khác nhau của đời sống xã hội.
- Công tác bảo đảm Trật tự an toàn xã hội là nhiệm vụ của toàn Đảng,
toàn dân, trong đó lực lượng Công an nhân dân là nòng cốt.
1.1.2. Khái niệm Quản lý nhà nước
Quản lý là một hoạt động có từ lâu đời trong xã hội. Nói đến hoạt động

- Mức độ phổ biến tuyên truyền và trình độ dân trí về văn hóa pháp
luật, văn hóa đời sống xã hội trong các tầng lớp dân cư, các đối tượng quản
lý.
- Phương thức, biện pháp huy động và phối hợp các lực lượng xã hội
để giải quyết các nhiệm vụ đề ra.
- Tính tự giác trong thực hiện nghĩa vụ, nhiệm vụ của đối tượng quản lý
Trên bình diện chủ thể quản lý Nhà nước, khái niệm Quản lý Nhà nước
có thể hiểu theo hai nghĩa như sau:
Theo nghĩa rộng: Quản lý Nhà nước là hoạt động tổ chức, điều hành
của cả bộ máy Nhà nước, bao hàm cả sự tác động, tổ chức của quyền lực Nhà
nước trên các phương diện lập pháp, hành pháp và tư pháp. Theo cách hiểu
này, ở Việt Nam, hoạt động Quản lý Nhà nước được đặt trong cơ chế "Đảng
lãnh đạo, Nhà nước quản lí, nhân dân lao động làm chủ”.
Theo nghĩa hẹp, Quản lý Nhà nước là quá trình tổ chức, điều hành của
hệ thống các cơ quan hành chính Nhà nước đối với các quá trình xã hội và
10
hành vi hoạt động của con người trên cơ sở các quy định, quy phạm pháp luật
nhằm đạt được những mục tiêu, yêu cầu nhiệm vụ Nhà nước đề ra. Đồng thời,
các cơ quan nhà nước nói chung còn thực hiện các hoạt động có tính chất
chấp hành, điều hành, tính chất hành chính nhà nước nhằm xây dựng tổ chức
bộ máy và củng cố chế độ công tác nội bộ của mình. Chẳng hạn như ra quyết
định thành lập, chia tách, sát nhập các đơn vị tổ chức thuộc bộ máy của mình,
đề bạt, khen thưởng, kỷ luật cán bộ, công chức, ban hành quy chế làm việc
nội bộ v.v. QLNN theo nghĩa hẹp này còn đồng nghĩa với khái niệm quản lí
hành chính nhà nước.
Từ những phân tích trên đây, có thể rút ra nhận thức chung về Quản lý
Nhà nước như sau:
Quản lý Nhà nước là hoạt động của các chủ thể (chủ yếu là các cơ quan
nhà nước) trên cơ sở quy định của hệ thống pháp luật nhằm tổ chức và phối
hợp những cố gắng chung của toàn xã hội để giải quyết các nhiệm vụ xây

mối quan hệ thuộc phạm trù trật tự an toàn xã hội.
Như vậy, có thể định nghĩa:
Quản lý Nhà nước về Trật tự an toàn xã hội là hoạt động chấp hành
và điều hành của các cơ quan Nhà nước, các tổ chức xã hội được Nhà nước
ủy quyền, được tiến hành trên cơ sở pháp luật và để thi hành pháp luật nhằm
thực hiện trong cuộc sống hàng ngày các chức năng của Nhà nước trong lĩnh
vực Trật tự an toàn xã hội.
1.1.4. Mục đích của Quản lý Nhà nước về Trật tự an toàn xã hội
12
Quản lý Nhà nước về Trật tự an toàn xã hội, như đã phân tích, là một
bộ phận trong Quản lý Nhà nước về An ninh, trật tự, vì vậy, mục đích của
công tác này cũng phải được định hướng và nhằm góp phần thực hiện mục
đích chung. Theo đó, mục đích cuối cùng của Quản lý Nhà nước về An ninh
trật tự nói chung là bảo vệ vững chắc nền an ninh trật tự của Tổ quốc, bảo
đảm sự ổn định và bình yên của xã hội, thực hiện thắng lợi mục tiêu độc lập
dân tộc và chủ nghĩa xã hội, dân giàu, nước mạnh, xã hội dân chủ, công bằng
văn minh. Mục tiêu cụ thể của Quản lý Nhà nước về Trật tự an toàn xã hội là
nhằm thực hiện tốt các nhiệm vụ bảo vệ an toàn các cơ quan nhà nước, các tổ
chức, bảo vệ trật tự pháp luật và các kỷ cương xã hội, đấu tranh có hiệu quả
đối với tình trạng phạm tội, với các vi phạm pháp luật và các loại tệ nạn xã
hội, giữ cho xã hội luôn luôn ở trong trạng thái bình yên, trật tự, nề nếp kỷ
cương
Thực tiễn chứng minh rằng, nếu như quản lý trên lĩnh vực An ninh
chính trị nhằm đảm bảo thực hiện nhiệm vụ bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt
Nam, bảo vệ chế độ chính trị, bảo vệ nhà nước XHCN, kịp thời phát hiện và
dập tắt mọi âm mưu, hoạt động của các thế lực thù địch chống phá CNXH,
chống phá cách mạng Việt Nam, thì quản lý về Trật tự an toàn xã hội giành
ưu tiên cho mục tiêu đảm bảo cho các quá trình xã hội, các hoạt động trong
đời sống xã hội, đời sống cá nhân trong cộng đồng được diễn ra một cách
bình thường, an toàn trên cơ sở tôn trọng và tuân thủ các quy định của pháp

vậy, Nghị quyết của Đảng là định hướng cho việc xác định mục đích công tác
Quản lý Nhà nước trên mọi lĩnh vực trong giai đoạn hiện nay, trong đó có
quản lý Nhà nước về Trật tự an toàn xã hội.
14
Cụ thể, trong các lĩnh vực chủ yếu của đời sống, công tác quản lý Nhà
nước về Trật tự an toàn xã hội hiện nay có mục đích như sau:
Về chính trị: Giữ vững sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt nam, sự
vững chắc của chế độ chính trị XHCN và tăng cường hiệu lực Quản lý của
Nhà nước đối với lĩnh vực Trật tự an toàn xã hội,
Về kinh tế - xã hội: Đảm bảo sự ổn định và phát triển các thành phần kinh
tế - xã hội theo định hướng XHCN, phòng ngừa, ngăn chặn và đấu tranh với
những hoạt động tội phạm và những vi phạm pháp luật trên lĩnh vực kinh tế
Về tư tưởng văn hóa: Bảo vệ chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí
Minh cùng những giá trị trong truyền thống và bản sắc dân tộc, phát hiện kịp
thời và có những biện pháp phòng ngừa, ngăn chặn, đấu tranh với hoạt động
tội phạm, tệ nạn xã hội và những vi phạm pháp luật trên lĩnh vực này.
Về đối ngoại: Góp phần tích cực trong thực hiện chính sách đối ngoại
độc lập, tự chủ, đa phương hóa, đa dạng hóa của Đảng, củng cố và nâng cao
vị thế của Việt nam trên thế giới
Về an ninh quốc phòng: Xây dựng vững chắc nền An ninh nhân dân và
thế trận An ninh nhân dân gắn với nền quốc phòng toàn dân và thế trận quốc
phòng toàn dân. xây dựng lực lượng Công an nhân dân và Quân đội nhân dân
cách mạng, chính quy tinh nhuệ, hiện đại. Chống âm mưu của các thế lực thù
địch, phi chính trị hóa và chia rẽ lực lượng vũ trang.
1.2. Nguyên tắc và một số quan điểm cần quán triệt trong Quản lý
Nhà nước về Trật tự an toàn xã hội
1.2.1. Nguyên tắc cơ bản trong Quản lý Nhà nước về Trật tự an toàn
xã hội
Nguyên tắc Đảng lãnh đạo toàn diện, tuyệt đối, trực tiếp
Đây là nguyên tắc cơ bản nhất, quan trọng nhất, chủ đạo và chi phối các

tăng cường pháp chế trong quản lý nhà nước về trật tự an toàn xã hội là hết
sức quan trọng và là nguyên tắc bắt buộc. Trong hoạt động quản lý, không
cho phép các chủ thể thực hiện một cách chủ quan, tùy tiện mà phải làm theo
đúng pháp luật. Dựa vào pháp luật, cơ quan Nhà nước mới có thể tiến hành
giải quyết những vụ việc phức tạp xảy ra, phát hiện và xử lí người có hành vi
phạm tội, vi phạm về trật tự an toàn xã hội một cách chính xác, nghiêm minh.
Nguyên tắc pháp chế XHCN trong quản lý nhà nước về trật tự an toàn xã
hội đòi hỏi quá trình xây dựng các văn bản pháp luật về TTATXH phải kịp
thời, thống nhất và ổn định tương đối, đáp ứng được yêu cầu của công tác bảo
vệ an ninh trật tự đặt ra. Mặt khác, nguyên tắc này cũng đòi hỏi cần phải hoàn
chỉnh hệ thống pháp luật, tổ chức tuyên truyền phổ biến, giáo dục ý thức pháp
luật cho công dân, phát hiện kịp thời và xử lí nghiêm minh các hành vi vi
phạm về TTATXH.
Nguyên tắc kết hợp quản lý theo ngành và theo lãnh thổ
Đây là một nguyên tắc rất cần thiết và mang tính tất yếu khách quan
xuất phát từ đặc điểm quản lý về trật tự an toàn xã hội, từ mô hình tổ chức và
thực tiễn hoạt động quản lý an ninh, trật tự của lực lượng Công an Nhân dân.
Ở Trung ương, Bộ Công an thực hiện chức năng Quản lý Nhà nước về Trật tự
an toàn xã hội trên phạm vi cả nước. Ngoài việc xây dựng các chiến lược, kế
hoạch quản lý tầm vĩ mô, các lực lượng thuộc Bộ Công an còn phải trực tiếp
tiến hành các hoạt động quản lý, đấu tranh phòng chống các thế lực thù địch,
hoạt động tội phạm, những hành vi vi phạm pháp luật. Công an các cấp được
tổ chức theo nguyên tắc song trùng trực thuộc: vừa chịu sự lãnh đạo của các
cấp ủy Đảng, chính quyền cùng cấp, vừa chịu sự chỉ đạo về chuyên môn
nghiệp vụ của Công an cấp trên. Xuất phát từ tính chất, đặc điểm, đặc trưng
về chuyên môn nghiệp vụ của công tác công an, cũng như từ nguyên tắc song
17
trùng, nên trong quản lý nhà nước về trật tự an toàn xã hội cần phải quán triệt
nguyên tắc kết hợp quản lý theo ngành kết hợp với quản lý theo lãnh thổ,
trong đó quản lý theo ngành là chủ yếu.

vào công tác này. Vấn đề là ở chỗ, cần tôn trọng, bảo vệ và tạo điều kiện để
quần chúng thực hiện quyền làm chủ của mình như thế nào trong tham gia
vào công tác quản lý Nhà nước để đạt hiệu quả cao nhất. Đây cũng là biểu
hiện của việc thực hiện tốt quan điểm “lấy dân làm gốc” trong lĩnh vực quản
lý nhà nước về trật tự an toàn xã hội
Lực lượng Công an nhân dân là chỗ dựa trực tiếp và thường xuyên cho
các ngành, các cấp và quần chúng trong công tác giữ gìn trật tự an toàn xã
hội. Công an nhân dân phải tập trung giải quyết những khâu cơ bản nhất và tổ
chức hướng dẫn các lực lượng khác trong công tác này. Chức năng quan trọng
nhất của lực lượng Công an nhân dân trong lĩnh vực quản lý nhà nước về trật
tự an toàn xã hội là phải làm tốt công tác tham mưu cho Đảng, Nhà nước các
cấp về những vấn đề có liên quan và đề xuất những biện pháp, phương thức
nhằm giữ gìn, đảm bảo an ninh, trật tự ở cả tầm vĩ mô quốc gia, cũng như ở
tầm vi mô địa phương, cơ sở, địa bàn phức tạp Ngoài ra Công an nhân dân
phải biết kết hợp tính tích cực cách mạng của quần chúng với nghiệp vụ của
các cơ quan chuyên môn.
Quan điểm thứ hai: Kết hợp giữa chủ động phòng ngừa và chủ động
liên tục tấn công
Đây là quan điểm chỉ đạo cuộc đấu tranh nhằm bảo vệ An ninh quốc
gia, giữ gìn trật tự an toàn xã hội của Đảng và Nhà nước ta. Xuất phát từ mục
tiêu chiến lược là bảo vệ tuyệt đối an toàn cho cách mạng, không để các loại
tội phạm, tệ nạn xã hội hoạt động gây rối trật tự an toàn xã hội, do đó, phòng
19
ngừa, đấu tranh và trấn áp tội phạm phải được kết hợp chặt chẽ với nhau, hỗ
trợ nhau. Trong Nghị quyết số 08/NQ-TW của Ban Chấp hành Trung ương
Đảng CSVN (Khóa IX) về Chiến lược bảo vệ Tổ quốc đã nhấn mạnh tư tưởng
chỉ đạo: Quán triệt tinh thần cách mạng tiến công, kết hợp chặt chẽ chủ động
tiến công với chủ động phòng ngừa, lấy chủ động phòng ngừa, giữ vững bên
trong là chính.
Đối tượng đấu tranh có nhiều hành động tinh vi, xảo quyệt, vì vậy để

bảo vệ thành quả cách mạng thể hiện rõ trong tư tưởng chỉ đạo việc xử lý các
vụ, việc xâm hại đến An ninh chính trị và Trật tự an toàn xã hội: nghiêm trị
kết hợp với khoan hồng, trừng trị kết hợp với giáo dục, cải tạo.
Thực tiễn đấu tranh bảo vệ An ninh chính trị, giữ gìn Trật tự an toàn xã
hội cho thấy, tuy cùng là tội phạm, nhưng tính chất, động cơ, mục đích, vai
trò, mức độ phạm tội của từng loại đối tượng và mỗi cá nhân đối tượng có
khác nhau, do vậy trong xử lý, cần căn cứ vào pháp luật Nhà nước và tùy theo
mức độ phạm tội mà xử lý một cách nghiêm minh thấu tình, đạt lý, đảm bảo
đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Chính sách khoan hồng được áp dụng giảm nhẹ hình phạt cho những
người phạm tội do ép buộc, bị lừa gạt, song đã nhận rõ lỗi lầm, thật thà hối
cải, quyết tâm sửa chữa, lập công chuộc tội Nghiêm trị và khoan hồng là
một thể thống nhất, không tách rời nhau. Tùy từng đối tượng cụ thể mà ta xử
lý đúng đắn thì mới tránh được sai lầm, lệch lạc.
Trấn áp tội phạm không phải là để tiêu diệt con người, hành hạ về thể
xác mà chủ yếu là áp dụng các biện pháp cưỡng bức cần thiết để không cho
họ tiếp tục hoạt động gây thiệt hại cho cách mạng và cải tạo họ trở thành
người có ích cho xã hội. Quá trình giáo dục, cải tạo để làm chuyển biến tiến
21
tới xóa bỏ ý thức phạm tội của người phạm tội là quá trình phải gay go, gian
khổ và lâu dài. Nghiêm trị kết hợp với khoan hồng, trấn áp kết hợp với giáo
dục, cải tạo, lấy phòng ngừa xã hội đối với tội phạm là biện pháp cơ bản, đó
là những vấn đề quan trọng để góp phần làm giảm tội phạm, giữ gìn Trật tự
an toàn xã hội của đất nước.
Quan điểm thứ năm: Kết hợp chặt chẽ nhiệm vụ xây dựng Tổ quốc
với nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc
Các thế lực thù địch luôn tìm cách phá hoại sự nghiệp xây dựng CNXH
của Đảng, Nhà nước và nhân dân Việt Nam. Vì vậy chúng ta cần khẳng định
xây dựng Tổ quốc phải gắn chặt với bảo vệ Tổ quốc. Đi đôi với việc xây dựng
nền kinh tế đất nước ngày càng lớn mạnh, phải không ngừng nâng cao cảnh

dựng thành công xã hội mới XHCN ở Việt Nam với những đặc trưng cơ bản là:
Dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh; do nhân
dân làm chủ; có nền kinh tế phát triển cao dựa trên lực lượng sản xuất hiện
đại và quan hệ sản xuất tiến bộ phù hợp; có nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản
sắc dân tộc; con người có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc, có điều kiện
phát triển toàn diện; các dân tộc trong cộng đồng Việt Nam bình đẳng, đoàn
kết, tôn trọng và giúp nhau cùng phát triển; có Nhà nước pháp quyền xã hội
chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân do Đảng Cộng sản lãnh
đạo; có quan hệ hữu nghị và hợp tác với các nước trên thế giới [16, tr.70].
Một xã hội tốt đẹp như vậy là kết quả của quá trình phấn đấu dựng xây
không ngừng của cả dân tộc, đòi hỏi sự đầu tư cao độ cả về trí tuệ và sức
lực của toàn Đảng, toàn dân. Đảng CSVN nhận thức rất rõ ràng rằng, đây là
một quá trình cách mạng sâu sắc, triệt để, đấu tranh phức tạp giữa cái cũ và
cái mới nhằm tạo ra sự biến đổi về chất trên tất cả các lĩnh vực của đời sống
23
xã hội. Quá trình đó nhất thiết phải trải qua một thời kỳ quá độ lâu dài với
nhiều bước phát triển, nhiều hình thức tổ chức kinh tế, xã hội đan xen, mặt
khác quá trình đó sẽ tiếp tục phải đối diện và phải vượt qua những trở lực,
những sự phản kháng quyết liệt của các thế lực thù địch trong và ngoài nước
để đi đến thắng lợi cuối cùng.
Quan điểm phải kết hợp giữa tổ chức, xây dựng với bạo lực trấn áp
trong Quản lý Nhà nước về Trật tự an toàn xã hội ở Việt Nam là hoàn toàn
phù hợp với học thuyết Mác-Lênin về bản chất, chức năng, nhiệm vụ của Nhà
nước XHCN. Theo đó, sự xuất hiện, tồn tại của Nhà nước XHCN là hoàn
toàn cần thiết và phù hợp với đòi hỏi, yêu cầu của thời kỳ quá độ đi lên
CNXH. Tuy nhiên, Nhà nước XHCN có bản chất khác với những nhà nước
trước đây trong lịch sử. Nó không chỉ là cơ quan bạo lực trấn áp và cũng
không chủ yếu là bạo lực, trấn áp, Nhà nước này phải thực hiện công cuộc cải
tạo xã hội cũ, xây dựng xã hội mới XHCN. Vì vậy, Lênin cho rằng, Nhà nước
XHCN chỉ mang tính chất là “một nửa nhà nước”. Như vậy, theo lý luận mác-

an toàn xã hội. Lực lượng Công an nhân dân cũng trực tiếp làm công tác tổ
chức xây dựng huấn luyện các lực lượng khác như: lực lượng chuyên trách,
bán chuyên trách, các tổ chức nhân dân tham gia lĩnh vực bảo vệ An ninh, trật
tự.
1.3. Nội dung, chức năng và nhiệm vụ Quản lý Nhà nước về Trật
tự an toàn xã hội của Công an Phường
1.3.1. Nội dung Quản lý Nhà nước về Trật tự an toàn xã hội của
Công an Phường
Quản lý Nhà nước về đấu tranh phòng, chống tội phạm
25

Trích đoạn Những hạn chế còn tồn tại trong công tác quản lý Nhà nước về Trật tự an toàn xã hộ Công tác điều tra cơ bản còn yếu, chưa toàn diện, việc nắm bắt, phát hiện tình hình chưa thực sự nhạy bén, kịp thờ Một số dự báo liên quan đến Quản lý Nhà nước về Trật tự an toàn xã hội trên địa bàn phường Dịch Vọng Phương hướng nhằm tăng cường Quản lý nhà nước về Trật tự an toàn xã hội phường Dịch Vọng
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status