BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
…………/…………
BỘ NỘI VỤ
……/……
HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA
LÊ THANH BẰNG
QUẢN LÝ NHÀ NƢỚC
VỀ TRẬT TỰ, AN TOÀN XÃ HỘI
TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH KIÊN GIANG
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ CÔNG
TP. HỒ CHÍ MINH – NĂM 2017
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
…………/…………
BỘ NỘI VỤ
……/……
HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA
LÊ THANH BẰNG
QUẢN LÝ NHÀ NƢỚC
VỀ TRẬT TỰ, AN TOÀN XÃ HỘI
TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH KIÊN GIANG
ANQG
An ninh quốc gia
ANTT
An ninh trật tự
BCA
Bộ Công an
CATP
Công an thành phố
CSND
Cảnh sát nhân dân
MTTQ
Mặt trận Tổ Quốc
PCCC
Phòng cháy chữa cháy
QĐ
UBND
Ủy ban nhân dân
MỤC LỤC
Lời cam đoan....................................................................................................i
Danh mục các từ viết tắt..................................................................................ii
MỞ ĐẦU.........................................................................................................1
1. Tính cấp thiết của đề tài..............................................................................1
2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến tới đề tài..........................................3
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn.........................................4
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu của luận văn..........................................5
5. Phƣơng pháp luận và phƣơng pháp nghiên cứu..........................................5
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn...................................................6
7. Kết cấu của luận văn...................................................................................7
Chƣơng 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LÝ CỦA QUẢN LÝ NHÀ NƢỚC
VỀ TRẬT TỰ, AN TOÀN XÃ HỘI...............................................................7
1.1. Khái niệm, nguyên tắc quản lý nhà nƣớc về trật tự, an toàn xã hội.........7
1.1.1. Khái niệm.........................................................................................7
1.1.2. Nguyên tắc quản lý nhà nƣớc về trật tự, an toàn xã hội.................12
1.2. Chủ thể quản lý nhà nƣớc về trật tự, an toàn xã hội.......................................16
1.3. Nội dung quản lý nhà nƣớc về trật tự, an toàn xã hội............................19
1.4. Các yếu tố tác động đến quản lý nhà nƣớc về trật tự, an toàn xã hội.....30
1.4.1. Yếu tố bên ngoài..............................................................................30
1.4.2. Yếu tố bên trong..............................................................................33
Chƣơng 2: THỰC TRẠNG QUẢN LÝ NHÀ NƢỚC VỀ TRẬT TỰ, AN
TOÀN XÃ HỘI TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH KIÊN GIANG.............................36
2.1. Khái quát về tỉnh Kiên Giang.................................................................36
2.1.1. Đặc điểm tự nhiên, kinh tế-xã hội của tỉnh Kiên Giang.................36
3.2.5. Xác định rõ những vấn đề trọng tâm, trọng điểm để tập trung nguồn
lực cần thiết ...................................................................................................82
KẾT LUẬN.............................................................................................................88
TÀI LIỆU THAM KHẢO......................................................................................90
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài luận văn
Giữ vững an ninh quốc gia, bảo đảm trật tự, an toàn xã hội, bảo vệ vững chắc
thành quả của cách mạng và duy trì cuộc sống trật tự, ổn định cho ngƣời dân và
toàn xã hội không chỉ có ý nghĩa quan trọng bảo đảm sự phát triển kinh tế - xã hội
một cách lành mạnh và bền vững, trật tự, theo đúng định hƣớng của Đảng và Nhà
nƣớc mà còn góp phần quan trọng vào việc tăng cƣờng niềm tin của nhân dân vào
Đảng và Nhà nƣớc, vào chế độ XHCN. Trong những năm qua, cùng với quá trình
xây dựng và phát triển của nhà nƣớc CHXHCN Việt Nam, vấn đề an ninh quốc gia
và trật tự, an toàn xã hội đã đƣợc Đảng và Nhà nƣớc đặc biệt quan tâm, trong đó
xây dựng lực lƣợng công an nhân dân chính quy, tinh nhuệ, từng bƣớc hiện đại, dựa
vào chiến lƣợc an ninh nhân dân là một trong những nội dung chủ đạo, xuyên suốt.
Do đó, quản lý nhà nƣớc về trật tự, an toàn xã hội là một nhiệm vụ quan trọng của
nhà nƣớc, có vai trò quan trọng trong sự nghiệp bảo vệ, xây dựng và phát triển đất
nƣớc.
Công tác quản lý nhà nƣớc về trật tự, an toàn xã hội đã đƣợc Đảng, Nhà
nƣớc và Bộ Công an quan tâm chỉ đạo, đạt đƣợc nhiều thành tựu quan trọng, góp
phần to lớn trong quản lý xã hội của nhà nƣớc cũng nhƣ trong công tác phòng ngừa,
phát hiện, đấu tranh chống tội phạm, bảo đảm an ninh trật tự, phục vụ có hiệu quả
nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội - an ninh- quốc phòng, mở rộng giao lƣu và hợp
tác quốc tế. Tuy nhiên, thực tế xã hội cho thấy an ninh, trật tự, an toàn xã hội vẫn
chƣa thực sự đƣợc bảo đảm, tình hình tội phạm vẫn có xu thế gia tăng và trở nên
nguy hiểm hơn, tình trạng vi phạm trật tự, tệ nạn xã hội vẫn diễn ra phổ biến. Điều
đó đặt ra yêu cầu cấp thiết phải tăng cƣờng quản lý nhà nƣớc về trật tự, an toàn xã
Luận văn tốt nghiệp thạc sĩ Quản lý công của mình.
2
2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến tới đề tài
Quản lý nhà nƣớc về trật tự an toàn xã hội là một trong những nội dung chủ
yếu của quản lý nhà nƣớc đã đƣợc các nhà nghiên cứu lý luận quản lý nhà nƣớc và
các nhà quản lý thực tế nghiên cứu và trao đổi nhiều. Đã có nhiều nghiên cứu đề
cập đến vấn đề này, trong đó có thể chỉ ra các nghiên cứu chủ yếu nhƣ:
- Trần Viết Long và tập thể tác giả Học viện Cảnh sát Nhân dân trong tác
phẩm „Quản lý nhà nƣớc về an ninh trật tự". (NXB. Công an Nhân dân, Hà Nội,
2007) đã đề cập tới những vấn đề lý luận chung về quản lý an ninh, trật tự và các
nội dung quan trọng quản lý an ninh, trật tự; xác định vai trò của lực lƣợng công an
nhân dân là nòng cốt trong việc bảo đảm an ninh chính trị và trật tự, an toàn xã hội
trong mối liên hệ với các tổ chức khác. Các tác giả cũng đã phần nào chỉ ra những
đặc điểm của bối cảnh hiện nay có ảnh hƣởng tới an ninh chính trị và trật tự, an toàn
xã hội và đề xuất đƣợc một số phƣơng hƣớng chủ yếu để bảo đảm an ninh, trật tự,
an toàn xã hội hiện nay.
- Đinh Trọng Hoàn: Kỹ năng giao tiếp của cảnh sát quản lý hành chính về trật
tự xã hội, NXB. Công an Nhân dân, Hà Nội, 2009 tập trung vào việc phân tích các
đặc điểm trong hoạt động của lực lƣợng công an nói chung và lực lƣợng cảnh sát
quản lý hành chính về trật tự, an toàn xã hội nói riêng, qua đó xác định các kỹ năng
mà ngƣời chiến sĩ cảnh sát làm nhiệm vụ duy trì, bảo vệ trật tự xã hội cần có nhƣ
giao tiếp công vụ, giải quyết xung đột, xử lý vi phạm hành chính,... và phƣơng pháp
rèn luyện các kỹ năng này để thực hiện tốt hơn công vụ của mình.
- Vũ Văn Hiền (Chủ biên) với nghiên cứu“Một số lý luận cơ bản về hoạt
động nghiệp vụ của lực lƣợng cảnh sát quản lý hành chính” (Học viện Cảnh sát
Nhân dân, Hà Nội, 2003) đã đề cập tới cơ sở lý luận về công tác an ninh, trật tự xã
hội và vai trò của lực lƣợng công an nhân dân, nhất là lực lƣợng cảnh sát quản lý
văn đề xuất một số giải pháp nhằm tăng cƣờng công tác quản lý nhà nƣớc về trật tự,
an toàn xã hội tại đây.
4
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt đƣợc mục tiêu nghiên cứu trên đây, Luận văn đặt ra các nhiệm vụ
nghiên cứu cụ thể sau đây:
+ Khái quát lý luận quản lý nhà nƣớc về trật tự, an toàn xã hội;
+ Phân tích, đánh giá thực trạng hoạt động quản lý nhà nƣớc về trật tự, an
toàn xã hội trên địa bàn tỉnh Kiên Giang;
+ Đề xuất phƣơng hƣớng và một số giải pháp nhằm tăng cƣờng quản lý nhà
nƣớc về trật tự, an toàn xã hội trên địa bàn tỉnh Kiên Giang trong thời gian tới.
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu của luận văn
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Đối tƣợng nghiên cứu là hoạt động quản lý nhà nƣớc về trật tự, an toàn xã
hội trên địa bàn tỉnh Kiên Giang
4.2. Phạm vi nghiên cứu
Nghiên cứu đƣợc thực hiện trên địa bàn tỉnh Kiên Giang với các số liệu đƣợc
thu thập trong thời gian từ năm 2010 đến 2016.
5. Phƣơng pháp luận và phƣơng pháp nghiên cứu
5.1. Phương pháp luận
Luận văn đƣợc nghiên cứu trên cơ sở phƣơng pháp luận duy vật biện chứng
và duy vật lịch sử.
5.2. Các phương pháp nghiên cứu cụ thể
Để thực hiện đƣợc những mục đích nghiên cứu, luận văn đã sử dụng các
phƣơng pháp nghiên cứu cụ thể sau:
+ Phƣơng pháp nghiên cứu tài liệu (desk study): Phƣơng pháp này đƣợc sử
dụng để thu thập và nghiên cứu những kết quả nghiên cứu đã có của các tác giả
khác trong các sách, báo, tạp chí, các tài liệu, báo cáo tổng kết liên quan đến công
CHƢƠNG 1.
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LÝ CỦA QUẢN LÝ
NHÀ NƢỚC VỀ TRẬT TỰ, AN TOÀN XÃ HỘI
1.1.
Khái niệm, nguyên tắc quản lý nhà nƣớc về trật tự, an toàn xã hội
1.1.1. Khái niệm
Trật tự, an toàn xã hội
Nói đến trật tự, an toàn xã hội là nói đến tình trạng (trạng thái) ổn định, có trật
tự, kỷ cƣơng của xã hội. Vì trật tự là tình trạng ổn định, có thứ bậc trên dƣới, trƣớc
sau... An toàn là yên ổn trọn vẹn, yên ổn hẳn, không sợ tai nạn. . Trật tự, kỷ cƣơng
đó đƣợc xác lập trên cơ sở các quy tắc xử sự chung do Nhà nƣớc ban hành (đƣợc
gọi là những quy phạm pháp luật) và những giá trị xã hội, chuẩn mực đạo đức
truyền thống đƣợc mọi ngƣời trong xã hội thừa nhận, tôn trọng, tuân thủ và nhờ đó
mà mọi ngƣời có đƣợc cuộc sống yên ổn và lành mạnh.
Từ điển bách khoa Công an nhân dân do Viện Nghiên cứu chiến lƣợc và
Khoa học Công an, Bộ Công an xuất bản năm 2000 định nghĩa "Trật tự, an toàn xã
hội là trạng thái xã hội có trật tự, kỷ cƣơng trong đó mọi ngƣời đƣợc sống yên ổn
trên cơ sở các quy phạm pháp luật và chuẩn mực đạo đức xã hội"[40,tr.86].
Nhƣ vậy, thuật ngữ "Trật tự, an toàn xã hội“ đƣợc hiểu một cách phổ biến để
chỉ sự hoạt động ổn định, hài hòa của các thành phần xã hội trong cơ cấu xã hội nhằm
duy trì sự phát triển xã hội. Trật tự xã hội biểu hiện tính tổ chức của đời sống xã hội,
tính chuẩn mực của các hành động xã hội. Nhờ trật tự xã hội mà hệ thống xã hội đạt
đƣợc sự ổn định, cho phép nó hoạt động một cách có hiệu quả dƣới sự tác động của
các yếu tố bên trong và bên ngoài. Nói cách khác, trật tự, an toàn xã hội (hay còn
đƣợc gọi là trật tự xã hội) là trạng thái xã hội có trật tự, kỷ cƣơng, trong đó mọi
ngƣời có cuộc sống yên ổn trên cơ sở các quy phạm pháp luật và chuẩn mực đạo
đức, pháp lý xác định.
7
quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền; đối tƣợng quản lý là các quá trình xã hội và
hành vi của con ngƣời có liên quan.
Xét từ phía đối tƣợng quản lý, các hoạt động quản lý có thể phân chia thành
ba nhóm chủ yếu: quản lý giới vô sinh, quản lý giới sinh vật và quản lý xã hội. Nhƣ
vậy, quản lý xã hội với tƣ cách là quản lý các hoạt động của con ngƣời, giữa con
ngƣời với nhau trong xã hội loài ngƣời là một bộ phận của quản lý chung.
Trong hoạt động quản lý xã hội, có rất nhiều chủ thể tham gia: các đảng phái
chính trị, nhà nƣớc, các tổ chức chính trị - xã hội, các hội nghề nghiệp,...trong đó
nhà nƣớc giữ vai trò quan trọng. Nhà nƣớc là trung tâm của hệ thống chính trị, là
công cụ quan trọng nhất để quản lý xã hội, bảo đảm trật tự xã hội và thúc đẩy xã hội
phát triển.
Quản lý nhà nƣớc là một dạng của quản lý xã hội nhƣng là dạng quản lý xã
hội đặc biệt, xuất hiện và tồn tại cùng với sự xuất hiện và tồn tại của nhà nƣớc. Đó
chính là hoạt động quản lý gắn liền với hệ thống các cơ quan thực thi quyền lực nhà
nƣớc - bộ phận quan trọng của quyền lực chính trị trong xã hội, có tính chất cƣỡng
chế đơn phƣơng đối với xã hội. Trong hoạt động quản lý xã hội, có rất nhiều chủ
thể tham gia: Đảng phái chính trị, Nhà nƣớc, các tổ chức chính trị - xã hội, các hội
nghề nghiệp...trong đó Nhà nƣớc giữ vai trò quan trọng. Quản lý nhà nƣớc đƣợc
hiểu trƣớc hết là hoạt động của các cơ quan nhà nƣớc thực thi quyền lực nhà nƣớc.
Quản lý nhà nƣớc là sự tác động có tổ chức và điều chỉnh bằng quyền lực
Nhà nƣớc đối với các quá trình xã hội và hành vi hoạt động của con ngƣời để duy
trì trật tự và đảm bảo sự phát triển của xã hội theo một định hƣớng thống nhất.
Nhƣ vậy, quản lý nhà nƣớc là hoạt động mang tính chất quyền lực nhà nƣớc
của các cơ quan nhà nƣớc và cán bộ, công chức có thẩm quyền, đƣợc sử dụng
quyền lực nhà nƣớc để điều chỉnh các quan hệ xã hội. Đối tƣợng của quản lý nhà
nƣớc là hệ thống các hành vi, hoạt động của con ngƣời, các tổ chức con ngƣời
9
chức năng, nhiệm vụ quản lý theo quy định của pháp luật.
Quản lý nhà nước về trật tự, an toàn xã hội
Quản lý nhà nƣớc về trật tự, an toàn xã hội là hoạt động chấp hành và điều
hành của các cơ quan nhà nƣớc và các tổ chức xã hội đƣợc nhà nƣớc uỷ quyền,
đƣợc thực hiện chủ yếu bằng pháp luật và các phƣơng tiện khác để thực hiện chức
năng của Nhà nƣớc về bảo vệ trật tự, an toàn xã hội.
Quản lý nhà nƣớc về trật tự, an toàn xã hội là hoạt động của nhà nƣớc trên rất
nhiều lĩnh vực, đa dạng về hình thức và nội dung, thƣờng đƣợc hiểu bao gồm phòng
chống tội phạm, phòng chống tệ nạn xã hội, bảo đảm trật tự đô thị, trật tự công
cộng, bảo đảm an toàn giao thông, phòng cháy, chữa cháy và thực hiện việc cải tạo
phạm nhân.
Quản lý nhà nƣớc về trật tự, an toàn xã hội là bộ phận rất quan trọng của
quản lý nhà nƣớc nói chung và của quản lý nhà nƣớc về an ninh, trật tự nói riêng.
Đó là sự tác động đồng bộ có mục đích của Nhà nƣớc thông qua hoạt động của một
hệ thống các cơ quan nhà nƣớc và tổ chức xã hội nhất định trên cơ sở các quy định
của pháp luật vào tất cả các yếu tố cấu thành trật tự, an toàn xã hội nhằm tạo nên sự
ổn định, an toàn cho đất nƣớc trên mọi phƣơng diện kinh tế, chính trị, văn hóa, xã
hội, nhằm đạt tới các mục tiêu xây dựng thành công và bảo vệ vững chắc Tổ quốc
Việt Nam XHCN.
Thực hiện quản lý nhà nƣớc về trật tự an toàn xã hội trƣớc hết nhằm đem lại
sự bình yên trong hoạt động của các cơ quan, các tổ chức xã hội và cá nhân, bảo vệ
trật tự pháp luật và kỷ cƣơng xã hội, bảo đảm thực hiện đầy đủ các quyền và nghĩa
vụ công dân, đấu tranh có hiệu quả với tình trạng phạm tội, với các vi phạm pháp
luật và tệ nạn xã hội. Giữ gìn trật tự, an toàn xã hội bao gồn 4 nội dung cơ bản:
11
Phòng, chống tội phạm; Giữ gìn trật tự công cộng; Phòng, chống tệ nạn xã hội;
Phòng ngừa tai nạn.
công tác tổ chức, bằng công tác vận động quần chúng và công tác giám sát, kiểm tra
hoạt động quản lý Nhà nƣớc trên lĩnh vực này.
Nguyên tắc pháp chế xã hội chủ nghĩa
Pháp chế là một chế độ và trật tự pháp luật trong đó tất cả các cơ quan nhà
nƣớc, các tổ chức xã hội và mọi công dân đều phải tôn trọng và thực hiện một cách
nghiêm chỉnh, triệt để và chính xác. Pháp chế và pháp luật có quan hệ mật thiết với
nhau, nhƣng không đồng nhất. Pháp chế thể hiện sự đòi hỏi và những yêu cầu đối
với các chủ thể pháp luật phải triệt để tôn trọng và nghiêm chỉnh thực hiện pháp
luật trong đời sống xã hội, đấu tranh phòng ngừa và chống các tội phạm, các vi
phạm Hiến pháp và pháp luật.
Nguyên tắc pháp chế XHCN đòi hỏi việc thực hiện hoạt động bảo đảm an ninh trật
tự, an toàn xã hội phải tuân thủ theo Hiến pháp và pháp luật, bảo đảm lợi ích của Nhà
nƣớc, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân trong bảo vệ an ninh quốc gia, giữ
gìn trật tự, an toàn xã hội.
Quá trình quản lý nhà nƣớc về trật tự an toàn xã hội đòi hỏi các chủ thể quản
lý nhà nƣớc phải dựa trên cơ sở các quy định trong hệ thống văn bản pháp luật của
nhà nƣớc. Do vậy, tăng cƣờng pháp chế trong quản lý nhà nƣớc về trật tự, an toàn
xã hội là hết sức quan trọng và là nguyên tắc bắt buộc. Trong hoạt động quản lý nhà
nƣớc, các chủ thể quản lý không thể thực hiện hoạt động điều chỉnh xã hội một cách
chủ quan, tùy tiện mà phải làm theo đúng pháp luật, tôn trọng pháp luật. Dựa vào
pháp luật, cơ quan Nhà nƣớc mới có thể tiến hành giải quyết những vụ việc xảy ra,
phát hiện và xử lí đúng ngƣời có hành vi phạm tội, vi phạm pháp luật về trật tự, an
toàn xã hội một cách chính xác, nghiêm minh.
13
Nguyên tắc pháp chế XHCN trong quản lý nhà nƣớc về trật tự, an toàn xã hội
đòi hỏi quá trình xây dựng các văn bản pháp luật quy định về trật tự, an toàn xã hội
phải kịp thời, thống nhất và ổn định tƣơng đối, đáp ứng đƣợc yêu cầu của công tác
bảo vệ an ninh trật tự, an toàn xã hội đặt ra. Mặt khác, nguyên tắc này cũng đòi hỏi
vệ an ninh quốc gia, giữ gìn trật tự, an toàn xã hội
Xây dựng và bảo vệ Tổ quốc là truyền thống của dân tộc ta trong quá trình
dựng nƣớc và giữ nƣớc. Đảng, Nhà nƣớc ta đã kế thừa và phát huy truyền thống đó
trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Sự ổn
định và phát triển về mọi mặt của đời sống xã hội là nền tảng vững chắc của an ninh
trật tựvà ngƣợc lại an ninh trật tự vững chắc mới có điều kiện ổn định phát triển đất
nƣớc về mọi mặt. Cần nhận thức an ninh trật tự đƣợc giữ vững củng cố và phát triển
là dựa trên nền tảng kinh tế, xã hội ổn định và phát triển. Hiện nay kết hợp chặt chẽ
giữa an ninh và quốc phòng là một yêu cầu khách quan của sự nghiệp xây dựng và
bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Sự kết hợp giữa quốc phòng với an
ninh, an ninh với quốc phòng có nội dung rất rộng, hình thức và cơchế kết hợp cũng
rất phong phú và đa dạng. Một trong những nội dung quan trọng của việc kết hợp
giữa an ninh với quốc phòng là kết hợp chặt chẽ giữa xây dựng trật tự an ninh nhân
dân với thế trận quốc phòng toàn dân.
Trong bối cảnh hiện nay, phát triển kinh tế-xã hội là vấn đề đƣợc ƣu tiên
hàng đầu. Tuy nhiên, để tạo điều kiện cho phát triển kinh tế-xã hội và bảo vệ các
thành quả đạt đƣợc trong phát triển kinh tế-xã hội, phải quan tâm tới việc bảo đảm
an ninh trật tự, an toàn xã hội.Việc bảo vệ an ninh quốc gia và trật tự, an toàn xã hội
phải tính tới mức độ phát triển kinh tế-xã hội, bảo đảm tính thống nhất, đồng bộ với
sự phát triển kinh tế-xã hội và khả năng của Nhà nƣớc và xã hội.
1.2. Chủ thể quản lý nhà nƣớc về trật tự, an toàn xã hội
15
Để thực hiện quản lý nhà nƣớc về trật tự, an toàn xã hội, có sự tham gia của
các cơ quan quản lý nhà nƣớc từ trung ƣơng tới địa phƣơng. Có thể phân loại các cơ
quan quản lý nhà nƣớc trong lĩnh vực này thành hai nhóm: các cơ quan trung ƣơng
và cơ quan địa phƣơng.
Các cơ quan trung ƣơng tham gia quản lý nhà nƣớc về trật tự an toàn xã hội
gồm: Chính phủ, Thủ tƣớng Chính phủ, các Bộ và cơ quan ngang bộ cũng nhƣ các
quan chuyên trách đảm nhiệm việc bảo đảm trật tự, an toàn xã hội.
Ở địa phƣơng, UBND các cấp là cơ quan chịu trách nhiệm quản lý trật tự, an
toàn xã hội trên địa bàn theo sự phân cấp quản lý với sự tham mƣu, hỗ trợ của các
cơ quan chuyên môn trong lĩnh vực có liên quan. Cơ quan quan trọng nhất ở địa
phƣơng chịu trách nhiệm quản lý về trật tự, an toàn xã hội là cơ quan công an
(Công an tỉnh (gồm công an tỉnh, thành phố thuộc trung ƣơng), Công an huyện
(gồm Công an quận, huyện, thị xã, thành phố thuộc tỉnh) và lực lƣợng công an xã
(công an phƣờng tại thành phố và công an xã ở nông thôn).
Quản lý nhà nƣớc về trật tự an toàn xã hội là một bộ phận không thể tách
rời của quản lý nhà nƣớc. Chủ thể quản lý nhà nƣớc về trật tự, an toàn xã hội
trƣớc hết là các cơ quan trong bộ máy nhà nƣớc và cán bộ, công chức đƣợc trao
thẩm quyền đại diện cho nhà nƣớc quản lý trật tự xã hội. Chủ thể quản lý Nhà
nƣớc về trật tự, an toàn xã hội lập thành một hệ thống bao gồm: Chính phủ, Bộ
Công an, Ủy ban nhân dân và Công an các cấp, trong đó Công an nhân dân là
lực lƣợng nòng cốt, xung kích. Ngoài ra, trách nhiệm bảo đảm trật tự, an toàn
xã hội còn là nhiệm vụ của toàn dân: mỗi ngƣời dân đều có quyền và có trách
nhiệm trong việc tự giác chấp hành các quy định về trật tự, an toàn xã hội và
đóng góp sức mình vào việc bảo đảm trật tự, an toàn xã hội.
17
Ở nƣớc ta, Công an nhân dân cùng Quân đội nhân dân là lực lƣợng vũ trang,
là công cụ bạo lực chủ yếu trong đấu tranh bảo vệ quốc phòng, an ninh quốc gia và
giữ gìn trật tự, an toàn xã hội, trong đó công an nhân dân là lực lƣợng nòng cốt để
bảo đản an ninh quốc gia và trật tự, an toàn xã hội.
Điều 14, Luật Công an nhân dân năm 2014 quy định: "Công an nhân dân có
chức năng tham mƣu cho Đảng, Nhà nƣớc về bảo vệ an ninh quốc gia, bảo đảm trật
tự, an toàn xã hội, đấu tranh phòng, chống tội phạm; chịu trách nhiệm trƣớc Chính
phủ thực hiện thống nhất quản lý nhà nƣớc về an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã