Nâng cao hiệu lực quản lý nhà nước về thuế đối với các doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh bắc giang - Pdf 28


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT
HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM



NGUYỄN BÌNH GIANG
NÂNG CAO HIỆU LỰC QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC

VỀ THUẾ ĐỐI VỚI CÁC DOANH NGHIỆP
TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH BẮC GIANG

Chuyên ngành: QUẢN LÝ KINH TẾ
Mã số: 60 34 04 01
LUẬN VĂN THẠC SĨ

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS. TRẦN ĐÌNH THAO HÀ NỘI - 2014
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page i

Ban giám hiệu, Ban quản lý đào tạo, Khoa kinh tế và Phát triển nông thôn
Học viện Nông nghiệp Việt Nam đã giúp đỡ về mọi mặt để tôi hoàn thành luận văn.
Các thầy, cô bộ môn phân tích định lượng, cùng các thầy, cô trong khoa
kinh tế và phát triển nông thôn đã giảng dạy, giúp đỡ tôi trong quá trình học và
làm luận văn.
Cục Thuế tỉnh Bắc Giang, các Doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh đã tạo mọi
điều kiện thuận lợi cho tôi trong quá trình thu thập số liệu tại đơn vị.
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến thầy giáo PGS.TS Trần Đình Thao đã
tận tình chỉ dẫn và giúp đỡ tôi hoàn thành luận văn.
Tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc tới các đồng chí, đồng nghiệp, bạn bè và gia
đình đã tạo mọi điều kiện thuận lợi và giúp đỡ, động viên khích lệ, đồng thời có
những ý kiến đóng góp quý báu trong quá trình thực hiện và hoàn thành luận văn. Hà Nội, ngày tháng năm 2014
Tác giả
Nguyễn Bình Giang

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page iii

MỤC LỤC
Trang
LỜI CAM ĐOAN i

LỜI CẢM ƠN ii


2.2. Cơ sở thực tiễn 35

2.2.1. Kinh nghiệm nâng cao hiệu lực quản lý thuế trên thế giới 35

2.2.2. Kinh nghiệm nâng cao hiệu lực quản lý thuế của thành phố Hồ Chí Minh. 40

2.2.3. Bài học kinh nghiệm về nâng cao hiệu lực quản lý thuế 43

PHẦN 3. ĐẶC ĐIỂM ĐỊA BÀN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 47

3.1. Đặc điểm địa bàn nghiên cứu 47

3.1.1. Đặc điểm chung 47

3.1.2. Đặc điểm tự nhiên 47

3.1.3. Đặc điểm kinh tế xã hội 47

3.1.4. Đặc điểm của Cục Thuế tỉnh Bắc Giang 48

3.1.5. Tình hình phát triển các doanh nghiệp ở tỉnh Bắc Giang 50

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page iv

3.2. Phương pháp nghiên cứu 52

3.2.1. Phương pháp chọn điểm nghiên cứu 52

3.2.2. Phương pháp thu thập số liệu 53


4.2.2. Ảnh hưởng của cơ cấu tổ chức, quản lý của cơ quan quản lý thuế 109

4.2.3. Ảnh hưởng của trình độ cán bộ thuế 111

4.2.4. Ảnh hưởng của ý thức chấp hành các luật thuế của doanh nghiệp 112

4.2.5. Điều kiện tài chính và một số điều kiện khác 113

4.2.6. Ảnh hưởng của kết cấu hạ tầng 113

4.2.7. Ảnh hưởng của sự kết hợp giữa cơ quan thuế và cơ quan pháp luật 114

4.3. Các quan điểm, định hướng và mục tiêu chủ yếu nâng cao hiệu lực quản
lý Nhà nước về thuế đối với doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh Bắc Giang 116

4.3.1. Thực hiện các biện pháp nhằm hỗ trợ 116

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page v

4.3.2. Tạo áp lực để NNT chấp hành pháp luật thuế 116

4.3.3. Định hướng nâng cao hiệu lực quản lý nhà nước về thuế đối với các DN 117

4.4. Giải pháp nâng cao hiệu lực quản lý thuế 118

4.4.1. Giải pháp cho Nhà nước 118

4.4.2. Giải pháp cho Cục thuế 120

WTO Tổ chức thương mại thế giới
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page vii

DANH MỤC BẢNG, BIỂU ĐỒ VÀ HÌNH
Trang
Bảng 3.1. Số lượng DN tỉnh Bắc Giang qua các năm từ 2010- 2013 51

Bảng 3.2. Phân cấp quản lý Doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh Bắc Giang 52

Bảng 4.1. Tổng hợp công tác thu NSNN tỉnh Bắc Giang 2010- 2013 60

Bảng 4.2. Tổng hợp công tác đăng ký thuế 62

Bảng 4.3. Tình hình nộp tờ khai thuế của người nộp thuế năm 2010-2013 64

Bảng 4.4. Số tiền thuế nợ của các Doanh nghiệp Năm 2010- 2013 67

Bảng 4.5. Tình hình hoàn thuế qua các năm từ năm 2010-2013: 73

Bảng 4.6. Đánh giá công tác giám sát của cơ quan thuế: 74

Bảng 4.7. Tình hình kiểm tra hồ sơ khai thuế tại trụ sở cơ quan thuế từ
năm 2010- 2013 76

Bảng 4.8. Tỷ lệ kiểm tra tại trụ sở Người nộp thuế giai đoạn 2011-2013 78

Bảng 4.9. Kết quả kiểm tra tại trụ sở Người nộp thuế giai đoạn 2010- 2013 79

Bảng 4.10. Kế hoạch thanh tra thuế giai đoạn 2011- 2013 80

mình. Quản lý thuế là một trong những hoạt động quản lý hành chính nhà nước
nhằm thực hiện các mục tiêu đặt ra cho thuế trên cơ sở tổ chức bộ máy quản lý thuế
theo mô hình quản lý phù hợp từng thời kỳ kinh tế xã hội.
Ở Việt Nam, nguồn động viên từ thuế luôn giữ một tỉ lệ lớn, trong những
năm qua Ngành thuế luôn luôn hoàn thành và vượt mức dự toán thu qua từng thời
kỳ, số thu về thuế và phí hiện chiếm trên 93% số thu của Ngân sách nhà nước hàng
năm, nhờ đó NSNN đã đảm bảo nhu cầu chi thường xuyên, dành một phần tăng chi
đầu tư phát triển, chi trả nợ, kiềm chế lạm phát.
Tuy nhiên qua thực tiễn trong công tác quản lý thuế của các DN trên địa bàn
tỉnh Bắc Giang cho thấy, tình trạng trốn thuế, lậu thuế, gian lận về thuế, nợ đọng chiếm
dụng tiền thuế còn diễn ra ở nhiều khoản thu, sắc thuế ở các địa phương trong tỉnh, vừa
làm thất thu cho NSNN, vừa không đảm bảo công bằng xã hội. Tình trạng đó có nhiều
nguyên nhân, trong đó có nguyên nhân từ nội dung quy định của pháp luật về thuế, bộ
phận quản lý pháp luật về thuế và việc chấp hành chế độ chính sách, pháp luật về thuế
của người nộp thuế. Với dự báo của các chuyên gia kinh tế, nền kinh tế Việt Nam vẫn
tiếp tục có mức tăng trưởng cao, với các cơ chế, chính sách thông thoáng tạo điều kiện
cho các nhà đầu tư, sản xuất, kinh doanh phát triển, số lượng doanh nghiệp tiếp tục
tăng, thu nhập của người lao động nhờ thế cũng tăng cao, diện các đối tượng phải quản
lý thu thuế tăng nhanh đó là thách thức cho công tác quản lý thuế ở nước ta nói chung
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page 2

và tỉnh Bắc Giang nói riêng. Với tiến trình hội nhập ngày càng sâu rộng thì công tác
quản lý thuế ở nước ta cũng phải theo những chuẩn mực chung của quốc tế. Trong
chiến lược cải cách hệ thống thuế giai đoạn 2011- 2020 xác định mục tiêu tổng quát là:
“ Xây dựng ngành thuế Việt Nam hiện đại, hiệu lực, hiệu quả; Công tác quản lý thuế,
phí và lệ phí thống nhất, minh bạch, đơn giản, dễ hiểu, dễ thực hiện dựa trên ba nền
tảng cơ bản: Thể chế chính sách thuế minh bạch, quy trình thủ tục hành chính đơn
giản, khoa học phù hợp với thông lệ quốc tế;Nguồn nhân lực có chất lượng, liêm
chính; Ứng dụng công nghệ thông tin hiện đại, có tính lên kết, tích hợp, tự động hóa

- Phân tích ảnh hưởng của các nhân tố đến hiệu lực quản lý thuế đối với
doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh Bắc Giang.
- Đưa ra được các giải pháp nhằm nâng cao hiệu lực quản lý Nhà nước về
thuế đối với các doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh Bắc Giang trong thời gian tới.
1.3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
1.3.1. Đối tượng nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu là các vấn đề quản lý Nhà nước về thuế đối với các
doanh nghiệp, các loại hình doanh nghiệp;
- Sự tuân thủ Pháp luật về thuế của các Doanh nghiệp, các loại hình doanh
nghiệp.
- Công tác quản lý, giám sát việc thực hiện Pháp luật về thuế của cơ quan
thuế đối với các Doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh Bắc Giang.
- Những nhân tố ảnh hưởng đến hiệu lực của công tác quản lý thuế tại các
Doanh nghiệp.
1.3.2. Phạm vi nghiên cứu
- Thời gian: Nghiên cứu từ năm 2010 - 2013.
- Về không gian: đề tài được thực hiện trên địa bàn tỉnh Bắc Giang.
- Về nội dung: luận văn chỉ tập trung vào nghiên cứu thực trạng quản lý nhà
nước đối với hoạt động thu thuế nội địa đối với các doanh nghiệp (như thuế GTGT,
thuế TNDN, thuế TNCN ) dưới sự quản lý của Tổng cục Thuế, Cục Thuế Bắc
Giang và các Chi cục Thuế huyện, thành phố từ đó đưa ra những đề xuất giải pháp
nhằm nâng cao hiệu lực quản lý về thuế đối với các doanh nghiệp.

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page 4

PHẦN 2
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
2.1. Cơ sở lý luận
2.1.1. Những khái niệm cơ bản

đóng góp bắt buộc mà mỗi tổ chức, cá nhân phải có nghĩa vụ đóng góp cho Nhà
nước theo Luật định để đáp ứng nhu cầu chi tiêu cho việc thực hiện các chức năng,
nhiệm vụ của Nhà nước; người đóng góp thuế được hưởng hợp pháp phần thu nhập
còn lại.
Trên góc độ kinh tế học, thuế được định nghĩa như sau: Thuế là biện pháp
đặc biệt, theo đó Nhà nước sử dụng quyền lực của mình để chuyển một phần nguồn
lực từ khu vực tư sang khu vực công nhằm thực hiện các chức năng kinh tế- xã hội
của Nhà nước.
Cụ thể hơn, Giáo trình Quản lý Tài chính công của Học viện tài chính quan
niệm rằng: "Thuế là một hình thức động viên bắt buộc của Nhà nước theo luật định,
thuộc phạm trù phân phối, nhằm tập trung một bộ phận thu nhập của các thể nhân
và pháp nhân vào Ngân sách Nhà nước để đáp ứng các nhu cầu chi tiêu của Nhà
nước và phục vụ lợi ích công cộng"[2, tr106].
Tuy nhiên có thể thấy rõ các khái niệm trên đều thống nhất: Thuế là khoản
nộp bắt buộc vào NSNN để đáp ứng các nhu cầu chi tiêu của nhà nước.
 Như vậy, đã có nhiều khái niệm khác nhau về thuế. Tuy nhiên, để hiểu rõ
bản chất của thuế, khi nghiên cứu khái niệm về thuế cần chú ý các đặc điểm sau:
Thứ nhất, thuế là khoản trích nộp bằng tiền: Về nguyên tắc, thuế là một
khoản trích nộp dưới hình thức tiền tệ, điều này trái ngược với các hình thức thanh
toán bằng hiện vật đã tồn tại trước đây. Sự phát triển của quan hệ hàng hoá - tiền
tệ tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển của thuế, đổi lại, nghĩa vụ của đối
tượng nộp thuế được thực hiện bằng tiền lại góp phần thúc đẩy sự phát triển của
kinh tế thị trường.
Thứ hai, thuế là khoản trích nộp bắt buộc được thực hiện thông qua con
đường quyền lực: Dù được thực hiện dưới hình thức nào, thuế vẫn thể hiện tính chất
bắt buộc, được thực hiện thông qua con đường quyền lực Nhà nước (qua hệ thống
pháp luật thuế). Do đó, đối tượng nộp thuế không có quyền trốn thuế hoặc mong
muốn tự mình ấn định hay thoả thuận mức đóng góp của mình mà chỉ có quyền
chấp thuận. Những đối tượng nộp thuế vi phạm luật sẽ bị cơ quan nhà nước có thẩm
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế

các chức năng kinh tế - xã hội. Chính vì thế, khi xem xét khái niệm thuế cũng phải
hiểu thuế trên hai góc độ: thuế vừa là công cụ huy động nguồn thu để đáp ứng nhu
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page 7

cầu chi tiêu của Nhà nước và thuế vừa là công cụ giúp Nhà nước thực hiện các mục
tiêu kinh tế - xã hội hay công cụ quản lý vĩ mô nền kinh tế.
 Lịch sử phát triển của thuế đã chứng minh rằng, thuế phải thực hiện được
3 chức năng cơ bản, đó là: chức năng bảo đảm nguồn thu cho NSNN nhằm đáp ứng
nhu cầu chi tiêu của Nhà nước; chức năng phân phối lại thu nhập và tài sản nhằm
đảm bảo công bằng xã hội và chức năng điều tiết vĩ mô nền kinh tế.
Chức năng đảm bảo nguồn thu cho NSNN
Mức độ động viên các nguồn thu từ thuế vào ngân sách phần lớn, gắn liền
với tổng số chi tiêu của nhà nước vì các khoản thu này là nguồn bù đắp chủ yếu
cho các khoản chi ngân sách. Nhưng các khoản thu này cũng không phải là nguồn
bù đắp duy nhất mà bên cạnh đó, thâm hụt ngân sách còn được bù đắp bằng nguồn
vay hoặc phát hành tiền tệ. Mức độ động viên thu ngân sách với tỷ lệ giữa thâm hụt
ngân sách trên tổng sản phẩm quốc nội (GDP) của mỗi nước cho thấy mức độ huy
động của Nhà nước để bù đắp cho các khoản chi này (tất nhiên kể cả khoản lãi phải
trả khi hoàn trả nợ).
Chức năng phân phối lại nhằm đảm bảo công bằng xã hội
Về nguyên tắc, gánh nặng về thuế phải được phân chia một cách công bằng;
thuế phải có vai trò sửa chữa những khiếm khuyết của sự phân phối lần đầu để đảm
bảo sự công bằng và bình đẳng. Tuy nhiên, sự công bằng chỉ mang tính chất tương
đối và tuỳ thuộc vào quan niệm cho rằng sự phân phối phải công bằng hay không
trong việc phân chia quyền sở hữu diễn ra trên thị trường. Chính vì vậy, đánh thuế
luỹ tiến, đối với một số người, có thể được coi như đồng nghĩa với sự công bằng,
với một số người khác, lại bị coi là tuỳ tiện.
Chức năng điều tiết vĩ mô nền kinh tế hay khắc phục những bất cân bằng của
thị trường

Lợi ích của việc phân loại thuế là tạo ra một cách tiếp cận tổng hợp đối
với cơ cấu thuế. Căn cứ theo đặc điểm, công dụng, chức năng và vai trò của từng
loại thuế đối với quá trình phát triển kinh tế, xã hội và tuỳ theo mục tiêu, yêu cầu
của quản lý mà người ta có thể đưa ra các cách phân loại thuế khác nhau, từ đó
nhằm sử dụng phát huy vai trò tích cực của từng công cụ thuế trong quản lý, điều
tiết vĩ mô nền kinh tế. Dưới đây là một số cách phân loại chủ yếu:
- Căn cứ vào tính chất của nguồn tài chính động viên vào ngân sách Nhà
nước, thuế được phân làm 2 loại: thuế trực thu và thuế gián thu.
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page 9

Thuế gián thu là loại thuế mà Nhà nước sử dụng nhằm động viên một phần
thu nhập của người tiêu dùng hàng hóa, sử dụng dịch vụ thông qua việc thu thuế đối
với người sản xuất, kinh doanh hàng hóa, dịch vụ. Tính chất gián thu thể hiện ở chỗ
người nộp thuế và người chịu thuế không đồng nhất với nhau. Thuế gián thu là một
bộ phận cấu thành trong giá cả hàng hoá, dịch vụ do chủ thể hoạt động sản xuất, kinh
doanh nộp cho Nhà nước nhưng người tiêu dùng lại là người phải chịu thuế.
Ở nước ta thuộc loại thuế này bao gồm: Thuế giá trị gia tăng, thuế xuất khẩu,
thuế nhập khẩu, thuế tiêu thụ đặc biệt
Thuế trực thu là loại thuế mà Nhà nước thu trực tiếp vào phần thu nhập của
các pháp nhân hoặc thể nhân. Tính chất trực thu thể hiện ở chổ người nộp thuế theo
quy định của pháp luật đồng thời là người chịu thuế. Thuế trực thu trực tiếp động
viên, điều tiết thu nhập của người chịu thuế.
Ở nước ta thuộc loại thuế này gồm: thuế thu nhập doanh nghiệp, thuế thu
nhập cá nhân, thuế chuyển quyền sử dụng đất, thuế sử dụng đất nông nghiệp
Sự phân loại thuế thành thuế trực thu và thuế gián thu có ý nghĩa quan trọng
trong việc xây dựng chính sách pháp luật thuế.
- Căn cứ vào đối tượng đánh thuế. Theo cách phân loại này thuế được chia
thành:
Thuế đánh vào hoạt động sản xuất kinh doanh, dịch vụ như thuế giá trị gia tăng.

thống kinh tế đó nhằm phục vụ cho mục đích tiêu dùng của xã hội.
Trên góc độ pháp lý: "Doanh nghiệp là tổ chức kinh tế có tên riêng, có tài
sản, có trụ sở giao dịch ổn định, được đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp
luật nhằm mục đích thực hiện ổn định các hoạt động kinh doanh'' và "Kinh doanh
là việc thực hiện một, một số hoặc tất cả các công đoạn của quá trình đầu tư, từ sản
xuất đến tiêu thụ sản phẩm hoặc thực hiện dịch vụ trên thị trường nhằm mục đích
sinh lợi" [3].
Theo ý kiến của chúng tôi: "DN là một đơn vị sản xuất kinh doanh được tổ
chức, nhằm tạo ra sản phẩm và dịch vụ đáp ứng nhu cầu tiêu dùng trên thị trường,
thông qua đó để tối đa hoá lợi nhuận trên cơ sở tôn trọng luật pháp của Nhà nước
và quyền lợi chính đáng của người tiêu dùng".
Trên thực tế DN còn được gọi bằng nhiều thuật ngữ khác nhau như: nhà
máy, xí nghiệp, hãng, công ty
 Những đặc điểm hoạt động của DN:
 Mang chức năng sản xuất kinh doanh.
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page 11

 Tối đa hoá lợi nhuận là mục tiêu kinh tế cơ bản, bên cạnh các mục tiêu xã
hội.
 Phải chấp nhận sự cạnh tranh để tồn tại và phát triển.
 Các loại hình Doanh nghiệp: theo quy định của Luật Doanh nghiệp năm
2005 bao gồm:
 Công ty:
Công ty TNHH 1 thành viên.
Công ty TNHH có từ 2 thành viên trở lên (tối đa 50).
Công ty Cổ phần.
Công ty hợp danh.
 Doanh nghiệp tư nhân.
 Ngoài ra còn có các thuật ngữ sau:

Thuế TNDN phụ thuộc vào kết quả hoạt động kinh doanh của các doanh
nghiệp hoặc các nhà đầu tư. Thuế TNDN được xác định trên cơ sở thu nhập chịu
thuế, nên chỉ khi các doanh nghiệp, các nhà đầu tư kinh doanh có lợi nhuận mới
phải nộp thuế TNDN.
(iii).Thuế giá trị gia tăng.
Thuế giá trị gia tăng (thuế GTGT) là một loại thuế gián thu tính trên giá trị
tăng thêm của hàng hoá, dịch vụ phát sinh trong quá trình từ sản xuất, lưu thông đến
tiêu dùng.
Đối tượng chịu thuế GTGT là Hàng hóa, dịch vụ sử dụng cho sản xuất, kinh
doanh và tiêu dùng ở Việt Nam là đối tượng chịu thuế giá trị gia tăng, trừ một số
trường hợp theo quy định của luật.
Người nộp thuế GTGT là tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh hàng hóa,
dịch vụ chịu thuế giá trị gia tăng và tổ chức, cá nhân nhập khẩu hàng hóa chịu thuế
giá trị gia tăng.
(iv).Thuế xuất nhập khẩu:
Thuế xuất khẩu, nhập khẩu là loại thuế gián thu, thu vào các mặt hàng được
phép xuất, nhập khẩu qua biên giới Việt Nam.
Thuế xuất nhập khẩu áp dụng khi doanh nghiệp thực hiện hoạt động xuất
nhập khẩu hàng hóa thuộc đối tượng chịu thuế. Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page 13

(v).Thuế thu nhập cá nhân
Các thành viên trong doanh nghiệp phải chịu thu nhập cá nhân theo quy định
pháp luật thuế thu nhập cá nhân. Doanh nghiệp có trách nhiệm kê khai nộp thuế thu
nhập doanh nghiệp cho các nhân viên của mình.
(vi).Thuế tài nguyên
Thuế tài nguyên là loại thuế doanh nghiệp thu vào các hoạt động khai thác tài

quản lý có thể được hiểu theo nhiều nghĩa khác nhau, tuỳ thuộc vào góc độ nghiên
cứu các ngành khoa học khác nhau như: kinh tế học, hành chính học, luật học, xã
hội học đều sử dụng thuật ngữ quản lý với nội dung phù hợp đối tượng nghiên
cứu của từng chuyên ngành.
Dưới góc độ của chuyên ngành khoa học, "Quản lý là điều khiển, chỉ đạo
một hệ thống hay một quá trình, căn cứ vào quy luật, định luật hay nguyên tắc
tương ứng để cho một hệ thống hay quá trình ấy vận động theo ý muốn của người
quản lý và nhằm đạt được những mục đích đã định trước" [4,tr258]
Trong cuốn giải thích thuật ngữ Việt Nam giải thích: "Quản lý là sự tác động
của chủ thể quản lý đến các đối tượng bị quản lý nhằm đạt được mục tiêu đã đề ra
của tổ chức. Nó nhằm chỉ một tập hợp các hoạt động cần thiết phải được thực hiện
nhằm đạt được những mục tiêu chung" [4,tr258].
Có một số định nghĩa về quản lý được ghi nhận ở các tài liệu khác:
" Quản lý là sự tác động có ý thức để chỉ huy, điều hành, hướng dẫn các quá
trình xã hội và hành vi hoạt động của con người để hướng đến mục đích đúng ý chí
và phù hợp với quy luật khách quan". Hoặc "Quản lý là thuật ngữ chỉ hoạt động
của con người nhằm sắp xếp tổ chức, chỉ huy, điều hành, hướng dẫn, kiểm tra các
quá trình xã hội và hoạt động của con người để hướng chúng phát triển phù hợp
với quy luật xã hội, đạt được mục tiêu xác định theo ý chí của nhà quản lý với chi
phí thấp nhất" [5,tr136].
Theo chúng tôi: Quản lý là sự tác động có tổ chức, có hướng đích của chủ
thể quản lý lên đối tượng và khách thể quản lý nhằm sử dụng có hiệu quả nhất các
nguồn lực, các thời cơ của tổ chức để đạt được mục tiêu đặt ra trong điều kiện môi
trường luôn biến động.
Qua các giải thích trên cho thấy, thuật ngữ quản lý được sử dụng khi nói tới
các hoạt động và một loạt các nhiệm vụ mà người quản lý phải liên tục đảm nhận và
giải quyết. Đó là lập kế hoạch, tổ chức, chỉ huy, phối hợp và kiểm tra. Ngoài ra, khi
sử dụng thuật ngữ này người ta còn hàm ý bao gồm cả mục tiêu, kết quả và hiệu
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page 15

các mục tiêu của tổ chức, cùng với và thông qua các cá nhân.
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page 16

2.1.1.4. Quản lý thuế và nội dung quản lý thuế
 Quản lý thuế là một dạng của quản lý xã hội kể từ khi có Nhà nước và gắn
với quyền lực Nhà nước. Quản lý thuế trước hết và quan trọng nhất thuộc trách
nhiệm của Nhà nước cho nên người ta thường quan niệm quản lý thuế là quản lý
Nhà nước trong lĩnh vực thuế. Tuy nhiên, hiện nay để quản lý thuế có hiệu quả, ở
những mức độ nhất định có sự tham gia của các tổ chức, cá nhân trong xã hội để hỗ
trợ cho công tác quản lý thuế của Nhà nước.
Quản lý thuế được một số tác giả khái niệm như sau:
"Quản lý thuế là quản lý việc thực thi và đảm bảo thực thi các chính sách
thuế hay là việc thực hiện quyền hành pháp và tư pháp của Nhà nước trong lĩnh vực
thuế" [6, tr.18].
"Quản lý thuế là quá trình tổ chức thực thi các luật thuế là việc định ra một hệ
thống các tổ chức, phân công các chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm cho
các tổ chức này xác lập mối quan hệ hữu hiệu trong việc thực thi luật thuế nhằm đạt
được mục tiêu đã đề ra trong điều kiện môi trường luôn biến động" [7, tr.11].
"Quản lý thuế là một quá trình tổ chức thực thi chính sách thuế, thông qua
quá trình tác động của các cơ quan thuế lên các tổ chức và công dân nhằm bảo
đảm và tăng cường sự tuân thủ nghĩa vụ thuế một cách đầy đủ, tự nguyện và đúng
thời hạn trong điều kiện môi trường quản lý thuế luôn biến động" [8,tr.33]
Theo Luật Quản lý thuế Trung Quốc:''Quản lý thuế là một chuỗi các hoạt
động bảo đảm mục tiêu thu NSNN bao gồm: quản lý đăng ký thuế, quản lý sổ sách
chứng từ, quản lý khai báo nộp thuế, truy thu tiền thuế, kiểm tra thuế và đảm bảo
trách nhiệm pháp luật về thuế" [6,tr18].
Từ các quan niệm trên đây vấn đề đặt ra là cần tiếp cận khái niệm quản lý
thuế theo hai pham vi:
Theo nghĩa rộng, quản lý thuế là tất cả các hoạt động của Nhà nước liên quan

ổn định kinh tế vĩ mô, đảm bảo công bằng trong phân phối thu nhập và điều tiết các
hoạt động SXKD theo mục tiêu của Nhà nước đã định trong từng thời kỳ.
Tăng cường sự tuân thủ thuế của NNT một cách đầy đủ, kịp thời và tự
nguyện theo các quy định của luật thuế.
Góp phần đảm bảo sự công bằng, bình đẳng giữa các chủ thể nộp thuế khác
nhau trong thực hiện nghĩa vụ thuế đối với nhà nước, đảm bảo môi trường cạnh
tranh lành mạnh, tạo động lực thúc đẩy kinh tế tăng trưởng và phát triển.

Trích đoạn Đánh giá hiệu lực công tác quản lý Nhàn ước về thuế trên địa bàn tỉnh Những hạn chế, nguyên nhân hạn chế trong việc thực hiện công tác Quy định của luật thuế và Chính sách thuế Ảnh hưởng của ý thức chấp hành các luật thuế của doanh nghiệp
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status