MỤC LỤC
DANH MỤC SƠ ĐỒ, BẢNG
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
TÓM TẮT LUẬN VĂN
MỞ ĐẦU
1
PHẦN NỘI DUNG
5
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ ĐỔI MỚI CƠ CHẾ THANH TRA
NHẰM NÂNG CAO HIỆU LỰC QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ KINH TẾ
5
1.1. Thanh tra và cơ chế thanh tra đối với nâng cao hiệu lực quản lý
nhà nước về kinh tế
5
1.1.1. Những vấn đề cơ bản về thanh tra
5
1.1.2. Cơ chế thanh tra và nâng cao hiệu lực quản lý nhà nước về kinh tế
10
1.1.3. Vai trò của thanh tra và cơ chế Thanh tra
16
1.2. Sự cần thiết và nội dung đổi mới cơ chế thanh tra
19
1.2.1. Sự cần thiết khách quan của việc đổi mới cơ chế thanh tra
19
1.2.2. Nội dung đổi mới cơ chế thanh tra
21
1.2.3. Những nhân tố ảnh hưởng đến đổi mới cơ chế thanh tra
42
2.2.2. Hệ thống tổ chức thanh tra Đồng Nai hiện nay
43
2.2.3. Hoạt động thanh tra các cơ quan thanh tra Nhà nước tỉnh Đồng Nai
50
2.3. Đánh giá chung về thực trạng cơ chế thanh tra Đồng Nai
56
2.3.1. Những kết quả đạt được của cơ chế Thanh tra
56
2.3.2. Những tồn tại, hạn chế của cơ chế thanh tra tỉnh Đồng Nai
60
2.3.3. Nguyên nhân tồn tại của cơ chế thanh tra tỉnh Đồng Nai
65
CHƯƠNG 3: QUAN ĐIỂM, GIẢI PHÁP VÀ KIẾN NGHỊ ĐỔI MỚI CƠ CHẾ
THANH TRA NHẰM NÂNG CAO HIỆU LỰC QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC
VỀ KINH TẾ Ở TỈNH ĐỒNG NAI
67
3.1. Định hướng đổi mới cơ chế thanh tra ở tỉnh Đồng Nai
68
3.1.1. Quan điểm cơ bản đổi mới cơ chế thanh tra
68
3.1.2. Phương hướng đổi mới cơ chế thanh tra tỉnh Đồng Nai
98
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
ĐVT : Đơn vị tính
ĐH : Đại học
HĐND : Hội đồng nhân dân
PTNT : Phát triển nông thôn
TBXH : Thương binh xã hội
UBND : Uỷ ban nhân dân
DANH MỤC SƠ ĐỒ, BẢNG
Sơ đồ 1.1: Mô hình tổ chức hệ thống ngành Thanh tra Việt Nam hiện nay 9
Sơ đồ 2.1: Các cơ quan hành chính và các cơ quan trực thuộc Uỷ ban
nhân dân tỉnh Đồng Nai 41
Sơ đồ 2.2: Mô hình hệ thống tổ chức Thanh tra tỉnh Đồng Nai hiện nay
(theo Luật Thanh tra năm 2004) 49
Sơ đồ 3.1: Mô hình hệ thống thanh tra theo hướng đổi mới 92
Bảng 2.1: Kết quả thu - chi ngân sách tỉnh Đồng Nai 2003-2006 39
Bảng 2.2a: Trình độ chuyên môn nghiệp vụ của cán bộ ngành Thanh tra
các địa phương tỉnh Đồng Nai đến tháng 05/2007 44
Bảng 2.2b: Trình độ chuyên môn nghiệp vụ của cán bộ ngành Thanh tra
các Sở, ngành tỉnh Đồng Nai đến tháng 05/2007 45
Bảng 2.3: Kết quả hoạt động thanh tra kinh tế - xã hội từ năm 2000-2006 51
Bảng 2.4: Kết quả giải quyết khiếu nại tố cáo của Thanh tra nhà nước tỉnh,
huyện và thanh tra Sở 54
Bảng 2.5: Kết quả thực hiện chức năng quản lý nhà nước thanh tra tỉnh,
Thanh tra sở, thanh tra huyện, tỉnh Đồng Nai 55
MỞ ĐẦU
1. TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI
Những năm qua cùng với quá trình cải cách kinh tế, việc nghiên cứu cải
cách bộ máy quản lý Nhà nước được Đảng và Nhà nước hết sức quan tâm, các
văn kiện của Đảng, Nhà nước đã xác định rõ mục tiêu xây dựng Nhà nước
lực quản lý Nhà nước về kinh tế ở tỉnh Đồng Nai” với mong muốn góp phần
bổ khuyết cho những bất cập tồn tại của cơ chế thanh tra để hoạt động thanh
tra đạt hiệu quả nhằm nâng cao hiệu lực quản lý Nhà nước về kinh tế ở tỉnh
Đồng Nai.
2. TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI
Có nhiều công trình nghiên cứu về đề tài Thanh tra: về đổi mới tổ chức,
về cơ cấu chính sách, về tăng cường hoạt động thanh tra trên lĩnh vực tài
chính ngân sách, v.v… Có thể kể tên một số công trình của các tác giả như:
Phạm Văn Khanh “Một số vấn đề đặt ra trong xây dựng đề án đổi mới tổ
chức, hoạt động thanh tra” (Tạp chí Thanh tra 5/96); PGS.PTS Lê Bình Vọng
“Hoàn thiện cơ chế Thanh tra, kiểm tra, giám sát, giải quyết khiếu nại, tố cáo
chống tham nhũng, góp phần xây dựng Nhà nước của dân do dân và vì dân”
(Tạp chí Thanh tra 3/1997); Mai Trung Sơn “Một số vấn đề công tác Thanh
tra” (Tạp chí quản lý Nhà nước số 9/2000); Trần Đức Lượng và nhóm nghiên
cứu “Hoàn thiện cơ chế thanh tra, kiểm tra giám sát nhằm nâng cao hiệu quả
Nhà nước” (Tạp chí kỷ yếu nghiên cứu khoa học Thanh tra tập IIA của Thanh
tra Nhà nước xuất bản năm 2003); Quản lý Nhà nước về công tác thanh tra
(chỉ đạo xuất bản của TS Vũ Phạm Quyết Thắng Thanh tra Nhà nước xuất
bản năm 2004).
2
Trong các công trình nghiên cứu đã công bố, hầu như chưa có công trình
nghiên cứu đổi mới cơ chế Thanh tra nhằm nâng cao hiệu lực quản lý về kinh
tế nói chung và ở tỉnh Đồng Nai nói riêng, do đó việc nghiên cứu vấn đề “Đổi
mới cơ chế thanh tra nhằm nâng cao hiệu lực quản lý Nhà nước về kinh tế
ở tỉnh Đồng Nai”. Với hy vọng đánh giá khoa học thực trạng cơ chế thanh tra
ở tỉnh Đồng Nai từ đó đưa ra những giải pháp đồng bộ thúc đẩy đổi mới cơ
chế thanh tra để nâng cao hiệu lực quản lý kinh ở tỉnh Đồng Nai trong thời
gian tới.
3. MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU VÀ NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU
3.1. Mục đích nghiên cứu
kinh tế chính trị. Đó là:
- Phương pháp duy vật biện chứng, duy vật lịch sử, trừu tượng hóa; kết
hợp phương pháp logic và lịch sử; Có phân tích và tổng hợp.
- Phương pháp khảo sát thực tiễn, thống kê, đối chiếu, so sánh để làm rõ
nội dung thuộc phạm vi nghiên cứu của đề tài.
6. NHỮNG ĐÓNG GÓP CỦA LUẬN VĂN
- Góp phần hệ thống hóa cơ sở lý luận, thực tiễn về cơ chế thanh tra.
- Đánh giá cơ chế thanh tra ở tỉnh Đồng Nai trong những năm qua và từ
đó đưa ra các quan điểm và những giải pháp đồng bộ về đổi mới cơ chế thanh
tra nhằm nâng cao hiệu lực quản lý Nhà nước về kinh tế trong nền kinh tế thị
trường ở tỉnh Đồng Nai trong thời gian tới.
7. KẾT CẤU LUẬN VĂN
Ngoài phần mở đầu và kết luận, luận văn được kết cấu gồm 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về cơ chế thanh tra với nâng cao
hiệu lực quản lý Nhà nước về kinh tế.
Chương 2: Thực trạng cơ chế thanh tra ở tỉnh Đồng Nai.
Chương 3: Quan điểm và giải pháp đổi mới cơ chế thanh tra nhằm nâng
cao hiệu lực quản lý Nhà nước về kinh tế ở tỉnh Đồng Nai
4
PHẦN NỘI DUNG
Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ ĐỔI MỚI CƠ CHẾ THANH TRA
NHẰM NÂNG CAO HIỆU LỰC QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ KINH TẾ
1.1. THANH TRA VÀ CƠ CHẾ THANH TRA ĐỐI VỚI NÂNG CAO HIỆU
LỰC QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ KINH TẾ
1.1.1. Những vấn đề cơ bản về thanh tra
1.1.1.1. Khái niệm về thanh tra
Thanh tra (tiếng Anh là Inspect) xuất phát từ gốc La Tinh (Inspectare)
có nghĩa là “nhìn vào bên trong”, chỉ một sự kiểm tra xem xét từ bên ngoài
đối với hoạt động một đối tượng nhất định. Theo từ điển pháp luật Anh - Việt,
nước giữ vai trò chủ đạo, chi phối hoạt động thanh tra (đề ra đường lối, chủ
trương, quy định thẩm quyền của các cơ quan thanh tra, sử dụng các kết quả
thanh tra, các thông tin từ phía thanh tra), nhưng đồng thời thanh tra có vai trò
tác động trở lại, góp phần điều chỉnh cách thức, phương pháp quản lý của chủ
thể quản lý Nhà nước.
- Hai là, thanh tra là hoạt động nhân danh quyền lực hành chính Nhà nước.
Quản lý Nhà nước và quản lý thanh tra có cái chung là nhân danh quyền
lực Nhà nước thực hiện sự tác động lên khách thể quản lý. Khác với các loại
hình kiểm tra, giám sát có thể tiến hành bởi nhiều loại chủ thể với những hình
thức và nội dung khác nhau bởi hoạt động thanh tra là hoạt động nhân danh
quyền lực Nhà nước. Khẳng định tính quyền lực nhà nước của các tổ chức
thanh tra Lê Nin nói: Thanh tra thiếu quyền lực là Thanh tra suông và có thể
nói Thanh tra là một hoạt động luôn mang tính quyền lực Nhà nước. Chủ thể
tiến hành Thanh tra luôn là cơ quan nhà nước. Thanh tra (với tư cách là một
6
danh từ chỉ cơ quan có chức năng này) luôn áp dụng quyền năng của nhà
nước trong quá trình tiến hành hoạt động của mình và nó nhân danh Nhà nước
khi áp dụng quyền năng đó.
Tính quyền lực Nhà nước của hoạt động thanh tra thể hiện ở chỗ pháp
luật quy định, chức năng nhiệm vụ quyền hạn của tổ chức Thanh tra, trình tự
thủ tục tiến hành Thanh tra, mối quan hệ của thanh tra với đối tượng bị thanh
tra và các tổ chức cá nhân khác có liên quan.
- Ba là, tính độc lập tương đối phải tuân theo pháp luật.
Đây là đặc điểm vốn có xuất phát từ bản chất của thanh tra và chức năng,
nhiệm vụ quyền hạn được quy định của pháp luật, đặc điểm này phân biệt Thanh
tra với các loại hình cơ quan khác của bộ máy nhà nước. Tính độc lập tương đối
phải tuân theo pháp luật thể hiện. Trên cơ sở nhiệm vụ, quyền hạn do pháp luật
quy định, căn cứ vào yêu cầu thực tiễn các tổ chức thanh tra có thể tự mình ra
quyết định tiến hành thanh tra trên các lĩnh vực Thanh tra kinh tế - xã hội.
1.1.1.3. Mục đích Thanh tra
chính, thanh tra chuyên ngành.
- Thanh tra hành chính:
Thanh tra hành chính là hoạt động thanh tra của cơ quan quản lý Nhà
nước theo cấp hành chính đối với việc thực hiện chính sách, pháp luật, nhiệm
vụ của cơ quan, tổ chức, cá nhân thuộc quyền quản lý trực tiếp.
- Thanh tra theo ngành và lĩnh vực:
Thanh tra chuyên ngành là hoạt động thanh tra của cơ quan quản lý Nhà
nước theo ngành, lĩnh vực đối với cơ quan, tổ chức, cá nhân trong việc chấp
hành pháp luật, quy tắc quản lý của ngành, lĩnh vực thuộc thẩm quyền quản lý.
8
Sơ đồ 1.1: Mô hình tổ chức hệ thống ngành Thanh tra Việt Nam hiện nay
(theo Luật Thanh tra)
Chú thích:
9
CHÍNH PHỦ
CHÍNH PHỦ
Thanh tra
Chính phủ
Thanh tra
Chính phủ
Bộ ngành
Bộ ngành
UBND tỉnh
Đồng Nai
UBND tỉnh
Đồng Nai
Thanh tra
Tỉnh
Thanh tra
Tỉnh
Có quan điểm khác cho rằng từ cơ chế có nghĩa là cấu tạo và nguyên lý
hoạt động của máy móc, đó là sự cấu trúc của hệ thống bên trong có tác động
ràng buột qua lại giữa chúng với nhau giữa các yếu tố cấu thành một thể chế
nhất định.
Khái niệm cơ chế kinh tế bao hàm ba nội dung: cơ chế kinh tế gồm các
chế định điều hoà quá trình kinh tế; cơ chế kinh tế phải phát huy tác dụng qua
sự tương tác giữa các yếu tố cấu thành; cơ chế kinh tế vận hành và phát huy
tác dụng theo một phương thức nhất định, có quy luật. Cơ chế quản lý kinh tế
là các qui tắc điều hành các hành vi, hoạt động kinh tế của các cá nhân và tổ
chức kinh tế; là hệ thống các biện pháp, hình thức, cách chức tổ chức, điều
khiển nhằm duy trì các mối quan hệ kinh tế phát triển phù hợp với những quy
luật kinh tế khách quan theo mục tiêu đã xác định.
Do đó, khi đề cập đến cơ chế thanh tra không thể không đề cập đến tổ
chức bộ máy, những quy định về chức năng nhiệm vụ quyền hạn, mà còn đề
cập cách thức, phương thức quá trình vận hành của cơ cấu chung của toàn bộ
hoạt động thanh tra và quy chế hoạt động của các cơ quan thanh tra. Những
vấn đề này là một hệ thống hữu cơ tự thích ứng lẫn nhau, tự điều tiết, điều hoà
lẫn nhau của các yếu tố cấu thành. Do đó có thể khái quát khái niệm về cơ chế
thanh tra như sau Cơ chế Thanh tra, kiểm tra, giám sát của nhà nước là toàn
10
bộ những phương thức hoạt động những quy định về chức năng nhiệm vụ,
quyền hạn, tổ chức tiến hành thanh tra, kiểm tra, giám sát và những quy định
về mối quan hệ giữa các cơ quan này với nhau trong quá trình thực hiện chức
năng, nhiệm vụ theo quy định của pháp luật.
Từ khái niệm chung của cơ chế thanh tra, cho thấy bản chất của cơ chế
Thanh tra chính là: việc sử dụng một cách khoa học các công cụ Thanh tra trong
nền kinh tế thị trường phù hợp với mục tiêu phát triển kinh tế của đất nước.
1.1.2.2. Quản lý Nhà nước và nâng cao hiệu lực quản lý Nhà nước về
kinh tế
* Quản lý Nhà nước về kinh tế
các biện pháp, phương thức thực hiện mục tiêu chiến lược .
- Tổ chức: Tổ chức ở đây là tổ chức nhằm thực hiện tốt nhất các kế
hoạch đã đề ra.
- Chỉ huy và phối hợp:
Sự hoạt động của nền kinh tế là một hệ thống các yếu tố hết sức phức tạp
với nhiều ưu thế khác nhau, vì vậy để nền kinh tế hoạt động bình thường, có
hiệu quả cần phải có sự chỉ huy, phối hợp thống nhất, công việc đó phải là
quản lý nhà nước về kinh tế.
Khuyến khích và trừng phạt.
Để nền kinh tế hoạt động có hiệu quả thì phải động viên khuyến khích
lực lượng xã hội cùng tham gia thực hiện với khả năng tốt nhất. Vì vậy vấn đề
khuyến khích và trừng phạt đây cũng là nội dung không thể thiếu của quản lý
nhà nước về kinh tế trong nền kinh tế thị trường.
12
Quản lý Nhà nước về kinh tế được thể hiện qua các chức năng kinh tế
của nhà nước:
- Nhà nước đảm bảo sự ổn định chính trị, kinh tế, xã hội và thiết lập
khuôn khổ pháp lệnh, buộc mọi thành viên đều phải thực hiện nhằm hướng
nền kinh tế phát triển theo mục tiêu đã định.
- Nhà nước có những tác động đến nền kinh tế để nền kinh tế hoạt động,
phát triển ổn định. Thực hiện chức năng này nhà nước phải sử dụng những
"Vũ khí" chủ yếu của nhà nước đó là chính sách tài chính, tiền tệ để điều hòa
cung cầu và tiền tệ trên thị trường.
- Nhà nước đảm bảo cho nền kinh tế hoạt động có hiệu quả thực hiện
chức năng này nhà nước phải có những tác động nhằm chống ô nhiễm môi
trường, chống độc quyền, hạn chế những thất bại của thị trường.
- Nhà nước điều tiết quá trình phân phối thu nhập nhằm thực hiện sự
công bằng xã hội. Trong nền kinh thị trường do nhiều yếu tố tác động tất yếu
sự phân hóa giàu nghèo sẽ ngày càng lớn. Vì vậy nhà nước phải tác động vào
quá trình phân phối để đảm bảo sự công bằng xã hội.
Như phân tích trên cho thấy cơ chế thanh tra chính là toàn bộ những
phương thức hoạt động, những quy định về chức năng, nhiệm vụ để tổ chức.
Thanh tra thực hiện chức năng, nhiệm vụ của mình đối với đối tượng thanh
tra, đối với hiệu lực quản lý Nhà nước về kinh tế đó chính là Nhà nước sử
dụng các công cụ quản lý kinh tế nhằm đạt được mục đích của Nhà nước. Khi
nói đến hiệu lực quản lý của Nhà nước về kinh tế chính là nói đến khả năng
14
của nhà nước trong việc thực hiện mục đích đó có đáp ứng yêu cầu đời sống
của xã hội của đất nước. Trong mối quan hệ cơ chế Thanh tra và quản lý Nhà
nước về kinh tế thì quản lý Nhà nước là mục đích nhà nước là chủ thể đề ra
chủ trương, chính sách về kinh tế nhưng cơ chế Thanh tra có vai trò vị trí hết
sức quan trọng là góp phần điều chỉnh quản lý kinh tế. Do đó, có thể nói tác
động của cơ chế thanh tra với hiệu lực quản lý nhà nước về kinh tế đây là mối
quan hệ giữa phương tiện và mục đích nếu cơ chế thanh tra tốt, có hiệu quả,
đúng pháp luật thanh tra công khai, minh bạch nó sẽ có tác dụng làm nâng cao
hiệu lực quản lý nhà nước về kinh tế, thúc đẩy nền kinh tế phát triển. Ngược
lại hiệu lực quản lý của Nhà nước về kinh tế được đảm bảo nâng cao thì nó sẽ
thúc đẩy cơ chế thanh tra tốt hơn, có hiệu quả hơn. Sự tác động trên được biểu
hiện cụ thể như sau:
- Cơ chế thanh tra và đổi mới cơ chế thanh tra nhằm nâng cao hiệu lực
quản lý nhà nước về kinh tế.
Về nhận thức cũng như trong thực tiễn cho thấy hoạt động thanh tra
kiểm tra nhằm mục đích bảo đảm chấp hành đường lối, chính sách pháp luật
nhằm uốn nắn những lệch lạc trong quá trình quản lý nhà nước về kinh tế. Để
hoạt động thanh tra kiểm tra đáp ứng yêu cầu quản lý nhà nước về kinh tế
trong nền kinh tế thị trường đòi hỏi cơ chế thanh tra phải thể hiện sự năng
động, hiệu quả.Bởi lẽ cơ chế thanh tra chính là sản phẩm chủ quan của nhà
nước, đó là một trong những công cụ quản lý kinh tế vĩ mô quan trọng của
nhà nước. Do đó không có sự đổi mới cơ chế thanh tra nào mà lại không phục
vụ, nhằm nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước về kinh tế, thúc đẩy hiệu quả
16
Đánh giá về vai trò của công tác thanh tra trong hoạt động quản lý nhà
nước V.I Lê Nin nói quản lý đồng thời phải có thanh tra, quản lý và thanh tra
là một chứ không phải là hai, do đó có hoạt động quản lý nhà nước, tất yếu phải
có hoạt động thanh tra; Thanh tra phục vụ cho yêu cầu quản lý nhà nước nhằm
đem lại hiệu lực quả quản lý nhà nước cao hơn và nếu như quản lý nhà nước
không có hoạt động thanh tra thì xem như không hoạt động quản lý nhà nước.
1.1.3.2. Thanh tra và cơ chế thanh tra góp phần bảo đảm pháp chế,
tăng cường hiệu lực, hiệu quả quản lý Nhà nước.
Với tư cách là chức năng quản lý, thanh tra là hoạt động xem xét tại chỗ việc
làm của các cơ quan, tổ chức và cá nhân có đúng chính sách, pháp luật. Nếu họ làm
sai làm chậm thì giúp họ sửa chữa và làm cho đúng. Mục đích Thanh tra là phát huy
nhân tố tích cực, phòng ngừa và xử lý vi phạm để cá nhân, tổ chức chấp hành một
cách nghiêm túc chính xác đầy đủ quy định của pháp luật Nhà nước. Muốn có pháp
chế trước hết phải có pháp luật. Pháp luật là hệ thống các qui phạm (qui tắc xử sự
hay qui tắc hành vi) do Nhà nước ban hành hay thừa nhận, thể hiện ý chí của giai
cấp cầm quyền, có tính chất bắt buộc chung và được thực hiện lâu dài, nhằm điều
chỉnh các quan hệ xã hội và được thực hiện bằng các biện pháp tổ chức, giáo dục,
thuyết phục và cưỡng chế. Không phải lúc nào mọi người hiểu biết mọi quy phạm
pháp luật. Vì vậy, muốn có pháp chế còn cần phải làm cho mọi người hiểu biết
pháp luật và thi hành nghiêm chỉnh pháp luật. Để mọi người có thể hiểu biết pháp
luật thì vai trò của công tác tuyên truyền, và giáo dục pháp luật nói chung là hết sức
quan trọng, việc tuyên truyền pháp luật tuy không phải là chức năng của thanh tra
nhưng qua hoạt động thanh tra giúp cho cơ quan, tổ chức, cá nhân hiểu đúng và
chấp hành nghiêm chỉnh pháp luật cũng là góp phần tích cực bảo đảm pháp chế.
1.1.3.3. Thanh tra và cơ chế thanh tra góp phần nâng cao hiệu lực,
hiệu quả quản lý nhà nước.
Thực tiễn chỉ ra rằng: hiệu lực quản lý Nhà nước phần lớn tùy thuộc vào
nội dung, chất lượng và biện pháp tổ chức thực hiện các quyết định quản lý
17
giá kết quả thực hiện các mục tiêu, chương trình, nhiệm vụ của chính cơ
quan quản lý Nhà nước.
Chỉ đánh giá kết quả mà không so sánh với chi phí bỏ ra thì chưa thể tiếp
cận đến khái niệm hiệu quả. Chưa đánh giá được hiệu quả thì thanh tra chưa
đáp ứng được yêu cầu quản lý. Chính vì vậy, công tác thanh tra còn phải
hướng đến xem xét cả việc tổ chức và hoạt động cụ thể của cơ quan quản lý
Nhà nước.Thông qua các yếu tố; cơ cấu tổ chức bộ máy, chức năng, nhiệm
vụ, thẩm quyền năng lực, uy tín, phong cách, tinh thần trách nhiệm, tính dân
chủ và uy tín với xã hội, v.v…
Với bản chất dân chủ Nhà nước là của dân, do dân và vì dân, pháp luật là
thể hiện ý chí của dân cho nên thanh tra góp phần tăng cường pháp chế. nâng
cao hiệu lực, hiệu quả quản lý Nhà nước cũng chính là góp phần phát huy dân
chủ xã hội chủ nghĩa.
1.2. SỰ CẦN THIẾT VÀ NỘI DUNG ĐỔI MỚI CƠ CHẾ THANH TRA
1.2.1. Sự cần thiết khách quan của việc đổi mới cơ chế thanh tra
Trong sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước cũng như của tỉnh
Đồng Nai, đặc biệt là khi quan hệ kinh tế quốc tế ngày càng phát triển cả về
chiều rộng và chiều sâu, khi Việt Nam đã trở thành thành viên chính thức của
tổ chức thương mại thế giới (WTO) thì cơ chế thanh tra đứng trước yêu cầu
bức bách phải đổi mới, do những yêu cầu sau:
Một là, do yêu cầu đổi mới phát triển nhanh của các ngành kinh tế theo
cơ chế thị trường.
Sự phát triển nền kinh tế thị trường, đặc biệt là sự phát triển kinh tế trong
19