Kiến nghị một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước về SHTT nhãn hiệu hàng hóa - Pdf 27

Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel (: 0918.775.368
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN
KHOA MARKETING
CHUYÊN ĐỀ TỐT NGHIỆP
Tên đề tài: Quản lý nhà nước đối với sở hữu trí tuệ nhãn hiệu hàng
hóa của Cục Sở hữu trí tuệ Việt Nam (National office of intellectual
property of Viêt Nam) tại địa bàn Hà Nội
Họ và tên sinh viên: Phan Văn Hùng
Chuyên ngành: Marketing
Lớp: Quảng Cáo
Khóa: 46
Hệ: Chính quy
Giảng viên hướng dẫn: PGS.TS Lưu Văn Nghiêm
HÀ NỘI, NĂM 2008
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel (: 0918.775.368
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel (: 0918.775.368
Phụ lục
Lời mở đầu ............................................................................................................................1
o
Lời mở đầu
Trong quá trình hội nhập nền kinh tế toàn cầu hóa, mỗi sản phẩm hóa/ dịch vụ
không mang nhãn đều cung ứng cho người tiêu dùng một số giá trị vật chất và phi vật
chất nào đó và thông thường, luôn có nhiều nhà sản xuất khác nhau cùng đưa ra thị
trường một loại sản phẩm tương tự nhau về cấu tạo, chức năng và thẩm mỹ. Vậy làm
cách nào để có thể phân biệt được đâu là hàng hóa chúng ta cần? Các DN nên làm gì
để người tiêu dùng có thể dễ dàng nhận ra sản phẩm nào là do DN đó sản xuất? Cách
duy nhất là tạo dựng một nhãn hiệu riêng, dễ nhận biết, từ đó xác lập quyền sở hữu
nhãn hiệu bằng cách đăng ký độc quyền nhãn hiệu hàng hóa.
Bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp nói chung và bảo hộ nhãn hiệu nói riêng đóng
vai trò quan trọng trong phát triển kinh tế - xã hội và hội nhập kinh tế quốc tế. BHNH
tạo điều kiện thuận lợi cho các DN quảng bá, lưu động, bảo vệ, phát triển các sản

hiệu - được hiểu là tổng hòa tất cả các thông tin về một sản phẩm, dịch vụ hay một
Công ty được truyền đạt tới đối tượng mục tiêu bằng tên gọi hoặc các dấu hiệu nhận
biết khác, như logo hoặc hình tượng. Nhãn hiệu không phải là cái tên: một tên Công
ty nào đó mà không truyền đạt tới đối tượng mục tiêu thông điệp hay thuộc tính gì thì
không thể gọi là một nhãn hiệu. Các thuộc tính của nhãn hiệu tồn tại trong mắt của
người sở hữu và phản ánh sự tích luỹ các thông điệp truyền thông mà đối tượng mục
tiêu đã nhận được liên quan đến sản phẩm, dịch vụ hay Công ty và những “kinh
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel (: 0918.775.368
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel (: 0918.775.368
nghiệm" mà người tiêu dùng đó đã trải qua với sản phẩm, dịch vụ hay Công ty đó.
b/ Lịch sử của quản trị nhãn hiệu
Nhãn hiệu đã xuất hiện từ rất lâu trong lịch sử. Những người cổ đại thời kỳ đồ đá
vẫn thường trao đổi với nhau những vũ khí được thiết kế khác biệt với vẻ ngoài đem
lại cảm tưởng sẽ giúp họ thành công hơn trong săn bắn. Những người đóng tàu
Viking cũng có những "nhãn hiệu” tàu biển khác nhau. Về sau này, khi loài người biết
đúc kim loại, nhiều người đã đúc lên sản phẩm tên họ của mình như một chứng tích
khẳng định chất lượng của sản phẩm.
Trên thực tế, định nhãn, hay việc sử dụng các biểu tượng để truyền đạt các thông
tin về một sản phẩm hay dịch vụ có thể được coi là một hoạt động chỉ riêng gặp ở con
người. Đây cũng là nền tảng của thương mại: nếu không có thông tin về danh tiếng
của một người sản xuất hay người bán, hoạt động thương mại hẳn nhiên sẽ bị ngừng
trệ. Tuy nhiên, quyền lực thực sự của các nhãn hiệu lại có từ khi dấu hiệu này được
truyền từ một cá nhân nào đó sang một cộng đồng kinh doanh lớn hơn. Quá trình
chuyển đổi này tăng cường giá trị nhãn hiệu, mở rộng mức độ ảnh hưởng của nó và
kết quả là nó tạo ra của cải vật chất cho người sở hữu.
Josiah Wedgood thường được coi là cha đẻ của quản lý nhãn hiệu hiện đại Từ những
năm 1760, Wedgwood đã đặt tên của ông lên các bình gốm sứ để chỉ rõ nguồn gốc và
chất lượng của chúng. Tuy nhiên, ông này không chỉ dừng lại ở đó. Gần 200 năm
trước khi các phương tiện truyền thông đại chúng được phát minh, Wedgwood đã biết
sử dụng chiêu "tiếp thị truyền khẩu”, ông dùng các sản phẩm tinh xảo của mình tặng

chóng trước sự xuất hiện của nhiều phương tiện truyền thông mới có thể tác động vào
các phân mảng thị trường hẹp hơn nhiều.
Thêm vào đó, nền kinh tế dịch vụ hình thành đã làm thay đổi các quan niệm
truyền thống trong quản trị nhãn hiệu: trước đây, quản trị nhãn hiệu chỉ giới hạn trong
khoảng từ nhận thức của người tiêu dùng tới quyết định mua hàng. Nay, quá trình này
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel (: 0918.775.368
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel (: 0918.775.368
mở rộng ra thành mối quan bệ lâu đài giữa người tiêu dùng với nhãn hiệu và sự tương
tác qua lại giữa hai chủ thể này.
Kết quả của các quá trình trên là có nhiều quan niệm sai lầm về nhãn hiệu đã tồn
tại trong bối cảnh hiện nay. Việc hiểu rõ các quan niệm sai lầm này có tác dụng lớn
tới việc xem xét lại chiến lược nhãn hiệu của mỗi tập đoàn.
Các quan niệm sai lầm khác:
* Nhãn hiệu chủ yếu được xây dựng thông qua quảng cáo trên các phương tiện
thông tin đại chúng
Trong nền kinh tế tri thức hiện nay, có một yếu tố đang dần thay thế vai trò chủ
đạo của quảng cáo đại chúng đối với quá trình xây dựng nhãn hiệu: kinh nghiệm của
người tiêu dùng. Yếu tố này bao gồm tổng hoà các tương tác của một người tiêu dùng
đối với một Công ty mà theo các mức độ khác nhau, các tương tác này có thể làm
mạnh lên hoặc suy yếu nhãn hiệu. Một "kinh nghiệm" tích cực mà người tiêu dùng
cảm nhận được khi sử dụng sản phẩm hay nhãn hiệu của Công ty sẽ có vai trò rất
quan trọng đối với việc xây dựng nhãn hiệu của tập đoàn và duy trì lòng trung thành
của người tiêu dùng đó. Hành động mua hàng, trước đây được xem là kết thúc của mô
hình marketing truyền thống vẫn thường được giảng dạy trong các rường đại học, giờ
trở thành sự khởi đầu của một mối quan hệ giữa công ty-khách hàng và sự hình thành
của các yếu tố vô hình của sản phẩm (dịch vụ hậu mãi và nhu cầu thoả mãn của người
tiêu dùng).
Do có sự xuất hiện của yếu tố "kinh nghiệm của người tiêu dùng", nhiều nhãn
hiệu lớn ngày nay đang được xây dựng nhờ kích thích kinh nghiệm của người tiêu
dùng thay cho quảng cáo truyền thống. Trước khi quảng cáo ồ ạt, nhà cung cấp dịch

trước một thế hệ người tiêu dùng mới. Vì thế, các nhà quản trị nhãn hiệu phải biết
nhìn xa trông rộng và dự tính trước các biến cố có thể xảy ra.
* Nhãn hiệu là biểu tượng và mang tính cảm xúc nên vì thế, nó được xây dựng
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel (: 0918.775.368
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel (: 0918.775.368
chủ yếu nhờ sự sáng tạo chứ không phải phân tích.
Chúng ta biết rằng nhãn hiệu có sức thu hút đối với cả trái tim và khối óc, song
các chiến lược nhãn hiệu đây đủ có thể lượng hoá và phân tích bằng các mô hình kinh
tế. Một trong những khái niệm được sử dụng lâu nay là “vốn nhãn hiệu” (hay còn gọi
là giá trị nhãn hiệu - brand equity) hiện đang được sử dụng ngày càng rộng rãi. Việc
tăng giá trị của "vốn nhãn hiệu” được coi là một trong những mục tiêu chủ đạo của
các nhà quản lý nhãn hiệu ngày nay.
* Nhãn hiệu là trách nhiệm của phòng marketing.
Cũng như việc nhiều người cho rằng quảng cáo là công cụ duy nhất để xây dựng
nhãn hiệu, đây là một hiểu lầm khá phổ biến. Bởi vì nhãn hiệu được coi như một lời
cam kết ngầm định giữa Công ty và người tiêu dùng, nên lời cam kết này có vai trò rất
quan trọng. Lâu nay không ai phủ nhận chính sản phẩm là yếu tố để thực hiện “lời
cam kết ngầm" của Công ty với khách hàng. Tuy nhiên, trong nền kinh tế mới, khi vai
trò của ngành dịch vụ tăng lên nhanh chóng, không chỉ sản phẩm mà chính là toàn bộ
các nhân viên của một tập đoàn mới là người thực hiện "lời cam kết ngầm" với khách
hàng. Vì thế, nhiệm vụ của các nhà quản trị cao cấp là làm sao phải cung cấp phương
tiện cho nhân viên thoả mãn toàn bộ các "kinh nghiệm" của khách hàng khi tiếp cận
với sản phẩm của mình. Do đó, thực hiện "lời cam kết ngầm" hàm chứa trong nhãn
hiệu, toàn bộ các nhân viên của một tổ chức kinh doanh đều phải có trách nhiệm đối
với nhãn hiệu của mình chứ không chỉ riêng phòng marketing.
Hiện nay, nhãn hiệu chiếm lĩnh một vị trí quan trọng trong thương mại. Nhãn hiệu
có thể được mua bán hoặc có thể cho thuê quyền sử dụng. Nhãn hiệu có thể được bảo
hộ trong nước hoặc trên quốc tế.
1.2/ Ở Việt Nam
Nhãn hiệu là những dấu hiệu để phân biệt hàng hoá,dịch vụ cùng loại của các cơ

Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel (: 0918.775.368
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel (: 0918.775.368
sản phẩm đáp ứng các tiêu chuẩn định sẵn. Tại nhiều quốc gia, điểm khác biệt chính
giữa các nhãn hiệu tập thể và nhãn hiệu chứng nhận đó là nhãn hiệu tập thêr chỉ có thể
được sử dụng bởi một nhóm các doanh nghiệp, như thành viên của một hiệp hội trong
khi nhãn hiệu chứng nhận có thể được sử dụng bởi bất kì một ai đáp ứng các tiêu
chuẩn do chủ sở hữu nhãn hiệu chứng nhận quy định. Một yêu cầu quan trọng đói với
nhãn hiệu chứng nhận là chủ thể nộp đơn đăng kí được coi là có thẩm quyền chứng
nhận các sản phẩm liên quan. Ví dụ : Biểu tượng Woolmark là một nhãn hiệu chứng
nhân đã đăng kí của công ti woolmark, đây là biểu tượng bảo đảm chất lượng xác
nhận rằng các sản phẩm mang biểu tượng đó. Được làm từ 100 % len mới và tuân thủ
các chỉ tiêu kĩ thuật nghiêm ngặt do công ty quy định. Nhãn hiệu này được đăng kí tại
hơn 140 nước và được cấp Li-xăng cho các nhà sản xuất có đủ khả năng đáp ứng các
tiêu chuẩn kĩ thuật tại 67 nước.
Nhãn hiệu nổi tiếng : Là nhãn hiệu được coi là nổi tiếng trên thị trường và được cơ
quan có thẩm quyền của quốc gia mà nhãn hiệu đó chứng nhận và bảo hộ. Nhãn hiệu
nổi tiếng có thể được bảo hộ thậm chí khi nhãn hiệu đó không được đăng kí (hoặc
chưa bao giờ được sử dụng) trên một lãnh thổ cụ thể. Hơn nữa, trong khi nhãn hiệu
được bảo hộ nhằm chống lại các nhãn hiệu tương tự gây nhầm lẫn chỉ khi chúng được
dùng cho các sản phẩm trùng hoặc tương tự , còn nhãn hiệu nổi tiếng được bảo hộ
nhằm chống lại các nhãn hiệu tương tự gây nhầm lẫn ngay cả khi chúng được dùng
cho sản phẩm không cùng loại nếu thỏa mãn một số điều kiện cụ thể. Mục đích chính
của việc bảo hộ mạnh hơn này là ngăn chặn việc các công ty lơi dụng danh tiếng của
nhãn hiệu nổi tiếng và/hoặc gây thiệt hại cho uy tín và danh tiếng của nhãn hiệu nổi
tiếng đó. VD: Giả sử nhãn hiệu Wondercola là một nhãn hiệu nổi tiếng dùng cho nước
ngọt. Sau đó công ty được hưởng lợi từ việc bảo hộ tự động ở các nước dành sự bảo
hộ mạnh hơn cho các nhãn hiệu nổi tiếng và ở các nước mà nhãn hiệu của họ là nổt
tiếng cho sản phẩm nước ngọt. Sự bảo hộ đó cũng sẽ được áp dụng cho các hàng hóa
dịch vụ không liên quan. Điều này có nghĩa là nếu một công ty khác quyết định đưa ra
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel (: 0918.775.368

nhãn hiệu tra cứu được qua internet. Mặt khác, nếu nhãn hiệu của một công ty đang
được sử dụng dưới hình thức một tên miên hoặc đang bị một cá nhân hoặc công ty
khác chiếm dụng trái phép trên mạng thì ta có thể tiến hành các biện pháp để chấm
dứt hành vi vi phạm và lạm dụng quyền đó của các công ty mình. Trong trường hợp
này có thể lựa chọn thủ tục hành chính trực tuyến rất phổ biến của WIPO để giải
quyết tranh chấp về tên miền trên địa chỉ :arbiter.wipo.int/doimans/. Trang web này
cung cấp mẫu đơn cũng như bản mục lục để tiếp cận hàng ngàn vụ tranh chấp liên
quan đến tên miền
* Chức năng của nhãn hiệu
Chức năng chính của một nhãn hiệu giúp người tiêu dùng xác định một sản phẩm
(là một hàng hóa dịch vụ) của một công ty cụ thể nhăm phân biệt sản phẩm giống
hoặc tương tự do các công ty khác cung cấp. Khi người tiêu dùng hài lòng với sản
phẩm đó, có khả năng họ sẽ mua hoặc sử dụng sản phẩm đó trong tương lai. Vì vậy
nhãn hiệu cần phân biệt được dễ dàng trong số các sản phẩm giống hoặc tương tự.
Bằng việc giúp các công ty phân biệt sản phẩm của họ với sản phẩm của các công ty
khác, nhãn hiệu đóng vai trò quan trọng trong chiến lược nhãn hiệu và tiếp thị của các
công ty, góp phần xây dựng hình ảnh và danh tiếng sản phẩm của các công ty trong
con mắt người tiêu dung. Hình ảnh và danh tiếng của sản phẩm tạo niềm tin, làm cơ
sở để hình thành những khách hàng trung thành và nâng cao danh tiếng của công ty.
Người tiêu dùng thường hình thành một sự gắn kết tình cảm với một số nhãn hiệu
nhất định, dựa trên một số phẩm chất hoặc đặc điểm mà họ mong muốn từ sản phẩm
mang những nhãn hiệu đó. Một ví dụ điển hình về giá trị mạng lại từ nhãn hiệu đối
với một công ty là Coca-cola hoặc IBM, giá trị của những nhãn hiệu nổi tiếng này lên
tới hơn 50 tỉ đô la Mĩ. Hơn nữa nhãn hiệu cũng tạo ra một động lực khuyến khích các
công ty đầu tư vào việc duy trì và nâng cao chất lượng sản phẩm của mình nhằm đảm
bảo rằng các sản phẩm mang nhãn hiệu của họ một danh tiếng tốt. Bởi thế sở hữu một
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel (: 0918.775.368
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel (: 0918.775.368
nhãn hiệu với một hình ảnh và danh tiếng tốt tạo cho công ty một lợi thế cạnh tranh so
với các đối thủ khác.

• Chức năng của phòng tiếp thị, kinh
doanh trong công ty
• Có tính vô hình: tình cảm, lòng trung
thành của khách hàng
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel (: 0918.775.368
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel (: 0918.775.368
2/ Quản lý Nhà nước sở hữu trí tuệ (SHTT) nhãn hiệu hàng hóa
2.1/ SHTT nhãn hiệu hàng hóa
a/ Khái niệm SHTT
Mặc dù có rất nhiều các hiệp định và công ước quốc tế về sở hữu trí tuệ nhưng
không một văn kiện nào đề cập đến một định nghĩa về cụm từ này, có chăng thì cũng
chỉ liệt kê ra các phạm trù của sở hữu trí tuệ một cách khái quát. Công ước thành lập
Tổ chức Sở hữu trí tuệ thế giới (WIPO) được kí tại Stockholm vào ngày 14/7/1967
điều 2 (viii) quy định rằng sở hữu trí tuệ bao gồm các quyền đối với :
(1) Các tác phẩm văn học, nghệ thuật và khoa học;
(2) Chương trình biểu diễn của các nghệ sĩ biểu diễn, các bản ghi âm và chương trình
phát thanh, truyền hình
(3) Sáng chế và giải pháp hữu ích trong tất cả các lĩnh vực hoạt động của con người
(4) Các phát minh khoa học
(5) Kiều dáng công nghiệp;
(6) Nhãn hiệu hàng hóa, nhãn hiệu dịch vụ, các chỉ dẫn thương mại và tên thương mại
(7) Bảo hộ chống cạnh tranh không lành mạnh
Kể từ khi thông qua công ước này, quyền sở hữu trí tuệ còn được mở rộng thêm,
bao gồm đối với giống cây trồng, mạch dẫn tích hợp bán dẫn, bí mật thương mại và
thông tin bí mật và thể hiện nghệ thuật truyền thống dân gian. Một danh mục đầy đủ
hơn về các quyền sở hữu trí tuệ được liệt kê trong phần II của hiệp định TRIPS với
danh nghĩa là các đối tượng của hiệp định nay, cụ thể là quyền tác giả và quyền liên
quan, nhãn hiệu, chỉ dẫn địa lý, kiểu dáng công nghiệp, sáng chế, thiết kế bố trí mạch
tích hợp bán dẫn và thông tin bí mật
Sở hữu trí tuệ được chia thành hai nhánh: Sở hữu công nghiệp và quyền tác giả và

Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel (: 0918.775.368
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel (: 0918.775.368
chính xác về nó không phải nhiều doanh nghiệp thậm chí cơ quan quản lý nhà nước
làm được. SHTT nhãn hiệu hàng hóa trước đây chỉ áp dụng với các sản phẩm là hàng
hóa nhưng ngày nay nó đã được mở rộng ra cả dịch vụ.
2.2/ Quản lý nhà nước về SHTT nhãn hiệu hàng hóa ở Việt Nam
Quản lý nhà nước về SHTT nhãn hiệu hàng hóa là một trong các hoạt động để
quản lý kinh tế cũng như thực hiện các chính sách giám sát, thực thi pháp luật trong
lĩnh vực này. Năm 2005, luật SHTT ra đời là một bước tiến lớn và là cơ sở để các cơ
quan quản lý trong lĩnh vực SHTT thực hiện tốt hơn hoạt động quản lý nhãn hiệu trên
thị trường. Thực hiện hoạt động quản lý nhà nước về SHTT nhãn hiệu hàng hóa có
một số cơ quan chủ yếu là :Cơ quan quản lý sở hữu công nghiệp ( Cục SHTT Việt
Nam…); Các cơ quan quản lý thị trường; Cơ quan Tiêu chuẩn - Đo lường - Chất
lượng; Bộ Văn hóa – Thông tin – Thể thao và du lịch; Ủy ban nhân dân các cấp; Cơ
quan công an và các cơ quan hành pháp khác ( Cục hải quan …). Nằm trong hệ thống
quản lý đó, Cục Sở hữu trí tuệ Việt nam tiền thân là cục sáng chế hàng năm,ngoài
việc tiếp nhận và xử lý hàng trăm đơn khiếu nại xác lập quyền, đơn yêu cầu chấm dứt,
huỷ bỏ hiệu lực văn bằng bảo hộ, Cục SHTT đã tích cực hỗ trợ nhiều cơ quan, tổ
chức, cá nhân và tham gia các hoạt động tư pháp,tố tụng liên quan đến giải quyết
khiếu nại và tranh chấp quyền SHCN tại Toà án; phối hợp chặt chẽ với các cơ quan
thực thi xử lý rất nhiều vụ vi phạm hành chính và xâm phạm quyền SHTT. Đặc
biệt,Cục SHTT đang chủ trì nghiên cứu, tu chỉnh và trình Chính phủ phê duyệt Đề án
"Nâng cao hiệu quả thực thi quyền SHTT" nhằm từng bước đẩy lùi tình trạng xâm
phạm,vi phạm về SHTT
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel (: 0918.775.368
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel (: 0918.775.368
Chương II
Thực trạng quản lý nhà nước về SHTT nhãn hiệu hàng hóa trong giai đoạn
2005-2007
1/ Thực trạng về SHTT nhãn hiệu hàng hóa

tiêu thụ hàng giả, trong đó hình thức "mượn" nhãn hiệu có tên tuổi chiếm phần lớn.
Theo phản ánh của một số công ty sản xuất xe máy thì nhiều hộ kinh doanh đã bước
đầu nhận thức được hành vi vi phạm quyền SHCN và hậu quả pháp lý của nó. Nhiều
hộ đã yêu cầu các nhà sản xuất, lắp ráp xe máy trong nước phải cam kết sản phẩm của
mình không vi phạm quyền SHCN
Trong lĩnh vực dược phẩm, theo Cục Sở hữu trí tuệ (Bộ Khoa học và Công nghệ),
mỗi năm Việt Nam có khoảng 80 bằng độc quyền được cấp liên quan đến dược phẩm.
Tuy nhiên, đó hầu hết là các loại dược phẩm nước ngoài, trong khi doanh nghiệp
dược trong nước cũng như cơ quan quản lý chưa thích ứng kịp với các quy định liên
quan đến vấn đề này. Điều này đồng nghĩa với việc các sản phẩm dược nội địa đã và
đang đứng ở một vị trí bất lợi mà nó có thể gây ra thiệt hại rất lớn khi tranh chấp sở
hữu trí tuệ xảy ra.
Trong lĩnh vực phần mềm Việt Nam vẫn đang đứng trên top-5 thế giới về tỉ lệ
phần mềm lậu (88%) năm 2006. Không chỉ phần mềm lậu, Việt Nam vốn nổi tiếng là
“thiên đường” của các sản phẩm sở hữu trí tuệ lậu, nhất là phim ảnh, âm nhạc, sách
tiếng Anh, và games. Trong khi đó, chúng ta đã ký công ước Berne và nó có hiệu
lực từ ngày 26 tháng 10 năm 2004
1.2/ Tại địa bàn Hà Nội
Không ít doanh nghiệp vẫn thờ ơ, thậm chí thiếu hiểu biết về bảo hộ sở hữu công
nghiệp hay lợi ích thực sự của việc làm này. Trong khi đó, pháp luật về sở hữu trí tuệ
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel (: 0918.775.368
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel (: 0918.775.368
của VN chưa hoàn chỉnh, còn nhiều kẽ hở. Đây là một thực tế khiến tình trạng vi
phạm diễn ra ngày càng nghiêm trọng và phức tạp.
Theo thống kê, mỗi năm Cục Quản lý thị trường phát hiện và xử lý khoảng 5.000
vụ sản xuất và tiêu thụ hàng giả, trong đó hình thức "mượn" nhãn hiệu có tên tuổi
chiếm phần lớn. Thực trạng này đang gây thiệt hại rất lớn cho các doanh nghiệp cả về
uy tín và doanh thu. Theo ông Trịnh Sỹ, Phó Giám đốc Công ty Bánh kẹo Tràng An,
do sự gia tăng của các sản phẩm bánh kẹo giả, doanh thu của công ty năm nay đã
giảm 30% so với năm ngoái. Tương tự như vậy, các sản phẩm bánh kẹo giả mạo sản

Một số DN, đơn vị VN đặt hàng Trung Quốc sản xuất giống y hàng hiệu đã được
thị trường chấp nhận như: Thiết bị vệ sinh (hiệu Joden, Clever), bếp ga Rinnai,
Paloma, hoá mỹ phẩm (Gucci, Chanel...), máy nghe nhạc MP3, MP4. Hàng hoá này
được đưa ra thị trường, bày bán công khai tại các khu phố thương mại với số lượng
lớn.
Cũng trong thời gian này, cơ quan QLTT HN đã phát hiện thêm thủ đoạn mới của
một số đối tượng như: Mở cửa hàng lấy tên thương hiệu nổi tiếng sau đó lừa bán cả
cửa hàng và hàng hoá cho người khác (tập trung chính vào mặt hàng hoá mỹ phẩm).
Một số đơn vị, cá nhân đăng ký tên thương mại trùng với tên nhãn hiệu đã được bảo
hộ hàng hoá nổi tiếng để lừa dối người tiêu dùng như Cty TNHH cáp điện Trần Phú
đặt Cty Thiên Phú sản xuất dây điện mang tên "Trần Phú" của Cty cơ điện Trần Phú
đã bị CP15 và QLTT tịch thu tiêu huỷ 328 cuộn dây.
Trong lĩnh vực kỹ thuật số hàng giả đã đến mức báo động không chỉ đồng hồ, máy
ảnh mà các loại linh kiện, cạc, sim, bộ nhớ, USB, màn hình LCD... giả mạo nhãn hiệu
xuất xứ tăng rõ rệt với giá bán cạnh tranh tỉ lệ nghịch với chất lượng hàng hoá. Ông
Vương Trí Dũng - Phó Chi cục trưởng Chi cục QLTT HN - cho biết: "Việc kinh
doanh sử dụng tem NK giả, in ấn bao bì nhãn mác giả có quy mô và số lượng lớn
đang tăng lên khó kiểm soát. Một số vụ hàng giả cho thấy có yếu tố móc nối với cá
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel (: 0918.775.368
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel (: 0918.775.368
nhân, tổ chức nước ngoài làm hàng giả, nhất là giả mạo xuất xứ đưa vào VN ( theo
Viêtbao.vn : http://vietbao.vn/Kinh-te/Thi-truong-Ha-Noi-Nan-hang-gia-o-
muc-bao-dong/65097979/88/)
Bên cạnh đó, việc lợi dụng các nhãn hiệu nổi tiếng để sản xuất và tiêu thụ các mặt
hàng kém chất lượng cũng là tình trạng phổ biến và dễ bắt gặp. Chẳng hạn nhãn vụ
nhãn hiệu Bia Hà nội, một thương hiệu được người dân biết đến như là một thương
hiệu nổi tiếng trong thị trường bia và cũng không ngoại lệ nhãn hiệu này bị các cơ sở
sản xuất khác nhái và cung cấp ra thị trường.
thống kê vi phạm nhãn hiệu – Cục sở hữu trí tuệ
1.3/ Đánh giá, kết luận

Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel (: 0918.775.368
Sở hữu trí tuệ. Chúng ta điểm qua một vài điều quan trọng liên quan đến hoạt động
quản lý nhãn hiệu hàng hóa của Cục Sở hữu trí tuệ.
Theo điều 3- Đối tượng quyền sở hữu trí tuệ thì nhãn hiệu hàng hóa nằm trong đối
tượng quyền sở hữu công nghiệp cần được bảo hộ SHTT. Đối tượng SHCN bao gồm
sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, thiết kế bố trí mạch tích hợp bán dẫn, bí mật kinh
doanh, nhãn hiệu, tên thương mại và chỉ dẫn địa lý. Tuy vậy vẫn có nhiều người nhầm
lẫn rằng bảo hộ nhãn hiệu hàng hóa là tách biệt hoàn toàn với sở hữu công nghiệp
trong khi trên thực tế nó lại là một bộ phận của SHCN. Quyền SHCN là quyền của tổ
chức, cá nhân đối với sáng chế, kiều dáng công nghiệp, thiết kế bố trí mạch tích hợp
bán dẫn, nhãn hiệu, tên thương mại, chỉ dẫn địa lý, bí mật kinh doanh do mình sáng
tạo ra hoặc sở hữu và quyền chống cạnh tranh không lành mạnh
Theo nội dung điều 3 ta thấy khi các sản phẩm được trao đổi, tiêu dùng sẽ phát
sinh nhu cầu được bảo hộ nhãn hiệu của hàng hóa đó trong hoàn cảnh ngày càng có
nhiều sản phẩm có chức năng và thiết kế giống nhau. Điều này càng làm tăng ý nghĩa
và tầm quan trọng của nhãn hiệu trong kinh tế thương mại và đời sống.
Điều 6: Căn cứ phát sinh, xác lập quyền sở hữu trí tuệ
Quyền sở hữu công nghiệp được xác lập như sau:
Quyền sở hữu công nghiệp đối với sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, thiết kế bố
trí, nhãn hiệu, chỉ dẫn địa lý được xác lập trên cơ sở quyết định cấp văn bằng bảo hộ
của cơ quan nhà nước có thẩm quyền theo thủ tục đăng ký quy định tại Luật này hoặc
công nhận đăng ký quốc tế theo quy định của điều ước quốc tế mà Cộng hoà xã hội
chủ nghĩa Việt Nam là thành viên; đối với nhãn hiệu nổi tiếng, quyền sở hữu được
xác lập trên cơ sở sử dụng, không phụ thuộc vào thủ tục đăng ký. Như vậy cũng như
quyền sở hữu công nghiệp, nhãn hiệu hàng hóa chỉ được công nhận và xác lập quyền
sở hữu trí tuệ khi nó được đăng kí bảo hộ tại các cơ quan nhà nước có thẩm quyền
như Cục Sở hữu trí tuệ, tuân theo quy định tại luật SHTT và các điều ước quốc tế Việt
Nam tham gia như Thỏa ước Marid về đăng kí quốc tế nhãn hiệu hàng hóa, Công ước
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel (: 0918.775.368
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel (: 0918.775.368

Nhãn hiệu được bảo hộ nếu đáp ứng các điều kiện sau đây:
- Là dấu hiệu nhìn thấy được dưới dạng chữ cái, từ ngữ, hình vẽ, hình ảnh, kể cả
hình ba chiều hoặc sự kết hợp các yếu tố đó, được thể hiện bằng một hoặc nhiều mầu
sắc;
- Có khả năng phân biệt hàng hoá, dịch vụ của chủ sở hữu nhãn hiệu với hàng hoá,
dịch vụ của chủ thể khác.
Điều 73. Dấu hiệu không được bảo hộ với danh nghĩa nhãn hiệu
Các dấu hiệu sau đây không được bảo hộ với danh nghĩa nhãn hiệu:
- Dấu hiệu trùng hoặc tương tự đến mức gây nhầm lẫn với hình quốc kỳ, quốc huy
của các nước;
- Dấu hiệu trùng hoặc tương tự đến mức gây nhầm lẫn với biểu tượng, cờ, huy hiệu,
tên viết tắt, tên đầy đủ của cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã
hội, tổ chức chính trị xã hội - nghề nghiệp, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội - nghề
nghiệp của Việt Nam và tổ chức quốc tế, nếu không được cơ quan, tổ chức đó cho
phép;
- Dấu hiệu trùng hoặc tương tự đến mức gây nhầm lẫn với tên thật, biệt hiệu, bút
danh, hình ảnh của lãnh tụ, anh hùng dân tộc, danh nhân của Việt Nam, của nước
ngoài;
- Dấu hiệu trùng hoặc tương tự đến mức gây nhầm lẫn với dấu chứng nhận, dấu kiểm
tra, dấu bảo hành của tổ chức quốc tế mà tổ chức đó có yêu cầu không được sử dụng,
trừ trường hợp chính tổ chức này đăng ký các dấu đó làm nhãn hiệu chứng nhận;
- Dấu hiệu làm hiểu sai lệch, gây nhầm lẫn hoặc có tính chất lừa dối người tiêu dùng
về nguồn gốc xuất xứ, tính năng, công dụng, chất lượng, giá trị hoặc các đặc tính khác
của hàng hoá, dịch vụ
Điều 105. Yêu cầu đối với đơn đăng ký nhãn hiệu
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel (: 0918.775.368

Trích đoạn Hoạt động thanh tra, kiểm tra của Cục Đánh giá, kết luận * Về hệ thống luật pháp Sự phối hợp giữa các cơ quan
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status