ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ VÀ QUẢN TRỊ KINH DOANH
____________________________
QUÁCH MẠNH ĐẢO
GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƢỢNG QUẢN LÝ THU
THUẾ GIÁ TRỊ GIA TĂNG ĐỐI VỚI CÁC DOANH NGHIỆP
TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH QUẢNG NINH
Chuyên ngành: Quản lý kinh tế
Mã số: 60.34.01
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: TS Lê Anh Vũ
chức, đồng nghiệp và ngƣời hƣớng dẫn khoa học TS. Lê Anh Vũ đã hết lòng hƣớng
dẫn và giúp đỡ tôi rất nhiều trong nghiên cứu khoa học và thực hiện hoàn thành luận
văn này.
Tác giả xin trân trọng cảm ơn !
iii
MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN CỦA HỌC VIÊN ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT v
DANH MỤC CÁC BẢNG, SƠ ĐỒ vi
PHẦN MỞ ĐẦU 1
1. Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài 1
2. Mục tiêu nghiên cứu: 2
3. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu: 2
4. Ý nghĩa khoa học của luận văn 2
5. Bố cục của luận văn: 2
Chƣơng 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 3
1.1. Một số nội dung cơ bản của luật thuế GTGT 3
1.1.1. Khái niệm về thuế GTGT 3
1.1.2. Sự cần thiết phải áp dụng thuế GTGT ở nƣớc ta 3
1.1.3. Nội dung cơ bản của Luật thuế GTGT 6
1.1.4. Vai trò của thuế GTGT 20
1.2. Công tác quản lý thuế GTGT 22
1.2.1 Sự cần thiết và khái niệm của công tác quản lý thuế GTGT 22
1.2.2. Mô hình tổ chức quản lý thuế 24
1.2.3 Khái quát nội dung công tác quản lý thuế GTGT 25
3.3.2 Hạn chế và nguyên nhân 65
3.4 Một số khó khăn cụ thể nảy sinh trong công tác quản lý thuế GTGT 76
3.4.1 Về thanh toán qua Ngân hàng: 76
3.4.2 Các doanh nghiệp hoạt động kinh doanh xây dựng, lắp đặt vãng lai ngoại tỉnh. 78
3.4.3 Về khấu trừ thuế GTGT. 79
Chƣơng 4: MỘT SỐ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ QUẢN LÝ THU
THUẾ GIÁ TRỊ GIA TĂNG ĐỐI VỚI CÁC DOANH NGHIỆP TRÊN ĐỊA BÀN
TỈNH QUẢNG NINH 82
4.2 Giải pháp 84
4.2.1 Nhóm giải pháp đối với Chính phủ và các cơ quan ngang Bộ. 85
4.2.2 Nhóm giải pháp đối với Ngành thuế tỉnh Quảng Ninh. 90
KẾT LUẬN 107
TÀI LIỆU THAM KHẢO 108 v
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
Chữ viết tắt Chữ viết đầy đủ
GTGT : Giá trị gia tăng
NNT : Ngƣời nộp thuế
ĐTNT : Đối tƣợng nộp thuế
NQD : Ngoài quốc doanh
NSNN : Ngân sách nhà nƣớc
DN : Doanh nghiệp
CBCC : Cán bộ công chức
UBND : Uỷ ban nhân dân
HĐND : Hội đồng nhân dân
CNH-HĐH : Công nghiệp hoá - hiện đại hoá
QDTƢ : Quốc doanh trung ƣơng
Và là vấn đề đại cục của mỗi Quốc gia, đặc biệt trong tiến trình hội nhập quốc
tế. Nhận thức đƣợc tầm quan trọng đó, Đảng và Nhà nƣớc ta đã thực hiện cải
cách thuế bƣớc hai. Điểm nổi bật của cuộc cải cách này là thay thế Luật thuế
doanh thu bằng Luật thuế giá trị gia tăng đƣợc thông qua tại kỳ họp thứ 11
Quốc hội khoá IX, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/1999. Sự ra đời của Luật
thuế giá trị gia tăng đƣợc xem là một bƣớc ngoặc có tính đột phá trong công tác
quản lý thu thuế và đã thể hiện đƣợc sự mạnh dạn, đƣờng lối đúng đắn của
Đảng và Nhà nƣớc trong công cuộc xây dựng, đổi mới và phát triển đất nƣớc.
Những năm gần đây, số lƣợng các doanh nghiệp đăng ký thành lập tăng
nhanh đã tạo số thu về thuế ngày càng lớn. Tuy nhiên, đây cũng là lĩnh vực thất
thu lớn và gian lận thuế diễn ra khá phổ biến, trong đó: Tình trạng sử dụng hoá
đơn giả, khai khống hoá đơn đầu vào để khấu trừ, hoàn thuế, ghi giá trên hoá
đơn thấp hơn giá thực tế đang là vấn đề mang tính thời sự hiện nay. Để khắc
phục đƣợc những hạn chế trên thì cần thiết phải tăng cƣờng công tác quản lý và
chống thất thu thuế giá trị gia tăng.
Quảng Ninh là một tỉnh công nghiệp, có đủ các loại hình, thành phần
tham gia kinh doanh, từ doanh nghiệp lớn đến các doanh nghiệp nhỏ. Thời gian
qua, Cục thuế tỉnh Quảng Ninh đã đạt đƣợc khá nhiều kết quả tốt trong công tác
quản lý thu thuế GTGT đối với các loại hình doanh nghiệp. Tuy nhiên, trong
công tác quản lý thu thuế giá trị gia tăng Cục thuế tỉnh Quảng Ninh cũng gặp
khá nhiều khó khăn. Điển hình là công tác quản lý hoá đơn chứng từ và sổ sách
kế toán, phát hiện ra một số hiện tƣợng tiêu cực, các sai phạm chủ yếu xuất phát
từ trình độ kém hiểu biết về luật của doanh nghiệp, số khác thì “ quá ” hiểu biết
đến độ tìm mọi kẻ hở để trốn, tránh thuế, thành lập các công ty “ ma ” để xin
hoàn thuế khống, các đơn vị XDCB tỉnh ngoài san gạt, xây dựng tại Quảng 2
Ninh nhƣng không khai, nộp thuế trên địa bàn tỉnh Vì những vấn đề bức xúc
đó và qua quá trình nghiên cứu với những kiến thức đã học và làm đƣợc cùng
Chƣơng 3: Kết quả nghiên cứu của đề tài
Chƣơng 4: Các giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý thu thuế giá trị gia tăng
đối với các doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh 3
Chƣơng 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
1.1. Một số nội dung cơ bản của luật thuế GTGT
1.1.1. Khái niệm về thuế GTGT
Thuế GTGT có nguồn gốc từ thuế doanh thu, đƣợc nghiên cứu từ sau đại
chiến thế giới lần thứ nhất (1914-1918) và chính thức đƣợc áp dụng đầu tiên tại
nƣớc Pháp vào ngày 1 tháng 7 năm 1954.
Khai sinh từ nƣớc Pháp, thuế GTGT đã nhanh chóng đƣợc áp dụng rộng rãi
trên thế giới, trở thành nguồn thu quan trọng của nhiều nƣớc. Đến nay, đã có trên
120 nƣớc áp dụng thuế GTGT, chủ yếu là các nƣớc châu Phi, châu Mỹ Latinh, các
nƣớc trong khối cộng đồng châu Âu và một số nƣớc châu Á.
Thuế GTGT tiếng Anh là Value Added Tax (VAT), tiếng Pháp là Taxe Sur la
Valeur Ajoutée (TVA) là loại thuế đƣợc tính trên phần giá trị tăng thêm của hàng
hóa, dịch vụ phát sinh trong quá trình từ sản xuất, lƣu thông đến tiêu dùng. Do thuế
tính trên phần giá trị tăng thêm của hàng hóa, dịch vụ nên đối tƣợng nộp thuế
phải là các cơ sở sản xuất kinh doanh hàng hóa, dịch vụ có giá trị tăng thêm, nhƣng
thực chất phần thuế mà họ nộp là do ngƣời mua hàng hóa dịch vụ phải thanh toán.
Vì vậy, thuế GTGT là thuế gián thu. Nhƣ vậy, thuế GTGT đƣợc hiểu: "Thuế GTGT
là loại thuế tính trên giá trị tăng thêm của hàng hóa, dịch vụ phát sinh ở từng khâu
trong quá trình sản xuất, lƣu thông đến tiêu dùng".
1.1.2. Sự cần thiết phải áp dụng thuế GTGT ở nƣớc ta
Thực hiện đƣờng lối đổi mới của Đảng theo tinh thần nghị quyết Đại hội Đảng
lần thứ VI, từ năm 1986, nền kinh tế nƣớc ta đã có sự chuyển đổi cơ bản từ một nền
kinh tế theo cơ chế kế hoạch hóa tập trung với hai thành phần kinh tế chủ yếu (kinh
ngày càng nâng cao hiệu quả đầu tƣ, từng bƣớc khắc phục đƣợc hiện tƣợng lãi giả
trong các DNNN; giải thể những cơ sở làm ăn thua lỗ triền miên, dành địa bàn
thích đáng cho các doanh nghiệp thuộc khu vực kinh tế ngoài quốc doanh.
Nhƣng qua quá trình thực hiện, bên cạnh những mặt ƣu điểm, hệ thống chính
sách thuế này ít nhiều đã bộc lộ khuyết tật của nó. Thể hiện trong từng sắc thuế, ví
dụ: Trong Luật thuế doanh thu, việc thu thuế còn trùng lắp. Theo quy định của Luật
thuế doanh thu, đối tƣợng chịu thuế là toàn bộ số tiền thu đƣợc từ hoạt động sản
xuất kinh doanh, điều đó đã làm cho việc tính thuế, thu nộp thuế bị trùng lắp, thuế
thu chồng lên thuế. Bên cạnh đó, hoạt động sản xuất - kinh doanh xuất khẩu chƣa
đƣợc xem xét ƣu đãi đúng mức. Việc quy định quá nhiều thuế suất (11 mức thuế 5
suất, thấp nhất là 0,5%, cao nhất là 30%) của Luật thuế doanh thu tạo cho đối tƣợng
nộp thuế dễ lợi dụng để tính nộp thuế dƣới mức nghĩa vụ quy định.
Để khắc phục những mặt hạn chế nói trên của Luật thuế doanh thu, ngày 10-5-
1997, kỳ họp thứ 11 Quốc hội khóa IX đã nhất trí thông qua Luật thuế giá trị gia
tăng (GTGT) có hiệu lực thi hành từ 1-1-1999 thay cho Luật thuế doanh thu.
Thuế GTGT đƣợc tính trên giá trị mới tăng thêm của hàng hóa dịch vụ phát
sinh trong quá trình sản xuất, lƣu thông đến tiêu dùng mà không đánh vào phần giá
trị đã chịu thuế ở khâu trƣớc nên cách tính thuế GTGT rất khoa học và cần thiết đối
với nhu cầu phát triển sản xuất, phù hợp với yêu cầu hội nhập quốc tế. Thuế GTGT
có những ƣu điểm nổi bật hơn so với thuế doanh thu là:
- Tránh đƣợc hiện tƣợng đánh thuế chồng lên thuế, phù hợp với nền kinh tế
sản xuất hàng hóa theo cơ chế thị trƣờng.
- Thuế GTGT thuộc loại thuế đánh vào tiêu dùng, đƣợc áp dụng rộng rãi đối
với mọi tổ chức, cá nhân có tiêu dùng sản phẩm, hàng hóa, hoặc đƣợc cung ứng
dịch vụ, nên có thể tạo đƣợc nguồn thu lớn cho ngân sách Nhà nƣớc.
- Thuế tính trên giá bán hàng hoặc giá dịch vụ, nên không phải đi sâu xem xét,
phân tích về tính hợp lý, hợp lệ của các khoản chi phí, làm cho việc tổ chức quản lý
- Luật thuế Giá trị gia tăng đƣợc Quốc Hội nƣớc Cộng hoà xã hội chủ nghĩa
Việt Nam khoá XII, kỳ họp thứ 13/2008/QH12 thông qua ngày 03/6/2008 có hiệu
lực thi hành từ 01/01/2009.
- Luật Quản lý thuế số 78/2006/QH11 ngày 29/11/2006.
- Nghị định số 123/2008/NĐ-CP ngày 08/12/2008 của Chính phủ quy định
chi tiết và hƣớng dẫn thi hành một số điều của Luật thuế Giá trị gia tăng
- Nghị định số 85/2007/NĐ-CP ngày 25/5/2007 của Chinh phủ quy định chi
tiết thi hành một số điều của Luật quản lý thuế.
- Thông tƣ số 129/2008/TT-BTC ngày 26/12/2008 của Bộ Tài chính hƣớng
dẫn thi hành một số điều của Luật Thuế giá trị gia tăng và hƣớng dẫn thi hành Nghị
định số 123/2008/NĐ-CP ngày 08 tháng 12 năm 2008 của Chính phủ quy định chi
tiết và hƣớng dẫn thi hành một số điều của Luật Thuế giá trị gia tăng.
- Thông tƣ số 60/2007/TT-BTC ngày 14/6/2007 của Bộ Tài chính Hƣớng dẫn
thi hành một số điều của Luật Quản lý thuế và hƣớng dẫn thi hành Nghị định số 7
85/2007/NĐ-CP ngày 25/5/2007 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số
điều của Luật Quản lý thuế
Nội dung cơ bản của Luật thuế GTGT gồm:
1.1.3.1. Phạm vi áp dụng
* Đối tƣợng chịu thuế GTGT: Theo quy định tại điều 3 Luật thuế GTGT thì
đối tƣợng chịu thuế GTGT là hàng hóa, dịch vụ sử dụng cho sản xuất, kinh doanh
và tiêu dùng ở Việt Nam, trừ các đối tƣợng không chịu thuế GTGT.
* Đối tƣợng không chịu thuế GTGT. Các đối tƣợng không chịu thuế GTGT
đƣợc quy định tại Điều 5 Luật thuế GTGT. Theo đó, các đối tƣợng không chịu thuế
bao gồm 26 nhóm hàng hóa, dịch vụ đặc trƣng của những nhóm hàng này là:
+ Những hàng hóa, dịch vụ mang tính chất thiết yếu phục vụ nhu cầu đời sống
sản xuất cộng đồng không đặt vấn đề điều tiết tiêu dùng nhƣ dịch vụ y tế; văn hoá
giáo dục, đào tạo, vận chuyển hành khách công cộng bằng xe buýt;
1.1.3.2. Căn cứ tính thuế GTGT
Căn cứ tính thuế GTGT là giá tính thuế và thuế suất:
* Giá tính thuế: Giá tính thuế là một căn cứ quan trọng để xác định số thuế
GTGT phải nộp. Giá tính thuế GTGT là giá bán chƣa có thuế GTGT đƣợc ghi trên
hóa đơn bán hàng của ngƣời bán hàng, ngƣời cung cấp dịch vụ hoặc giá chƣa có
thuế GTGT đƣợc ghi trên chứng từ của hàng hoá nhập khẩu.
Theo Điều 7, luật thuế GTGT, giá tính thuế đƣợc quy định nhƣ sau:
- Đối với hàng hoá, dịch vụ do cơ sở sản xuất, kinh doanh bán ra là giá bán
chƣa có thuế giá trị gia tăng. Đối với hàng hóa, dịch vụ chịu thuế tiêu thụ đặc biệt là
giá bán đã có thuế tiêu thụ đặc biệt nhƣng chƣa có thuế giá trị gia tăng;
- Đối với hàng hóa nhập khẩu là giá nhập tại cửa khẩu cộng với thuế nhập
khẩu (nếu có), cộng với thuế tiêu thụ đặc biệt (nếu có). Giá nhập tại cửa khẩu đƣợc
xác định theo quy định về giá tính thuế hàng nhập khẩu;
- Đối với hàng hóa, dịch vụ dùng để trao đổi, tiêu dùng nội bộ, biếu, tặng cho
là giá tính thuế giá trị gia tăng của hàng hóa, dịch vụ cùng loại hoặc tƣơng đƣơng tại
thời điểm phát sinh các hoạt động này;
- Đối với hoạt động cho thuê tài sản là số tiền cho thuê chƣa có thuế giá trị gia
tăng; 9
Trƣờng hợp cho thuê theo hình thức trả tiền thuê từng kỳ hoặc trả trƣớc tiền
thuê cho một thời hạn thuê thì giá tính thuế là tiền cho thuê trả từng kỳ hoặc trả
trƣớc cho thời hạn thuê chƣa có thuế giá trị gia tăng;
Trƣờng hợp thuê máy móc, thiết bị, phƣơng tiện vận tải của nƣớc ngoài loại
trong nƣớc chƣa sản xuất đƣợc để cho thuê lại, giá tính thuế đƣợc trừ giá thuê phải
trả cho nƣớc ngoài;
- Đối với hàng hóa bán theo phƣơng thức trả góp, trả chậm là giá tính theo
giá bán trả một lần chƣa có thuế giá trị gia tăng của hàng hoá đó, không bao gồm
khoản lãi trả góp, lãi trả chậm;
tiêu thụ trên đồng hồ để ghi trên hoá đơn tính tiền.
- Đối với hoạt động kinh doanh bất động sản, xây dựng cơ sở hạ tầng, xây
dựng nhà để bán, chuyển nhƣợng hoặc cho thuê là thời điểm thu tiền theo tiến độ
thực hiện dự án hoặc tiến độ thu tiền ghi trong hợp đồng. Căn cứ số tiền thu đƣợc,
cơ sở kinh doanh thực hiện khai thuế GTGT đầu ra phát sinh trong kỳ.
- Đối với xây dựng, lắp đặt là thời điểm nghiệm thu, bàn giao công trình, hạng
mục công trình, khối lƣợng xây dựng, lắp đặt hoàn thành, không phân biệt đã thu
đƣợc tiền hay chƣa thu đƣợc tiền.
- Đối với hàng hoá nhập khẩu là thời điểm đăng ký tờ khai hải quan.
* Thuế suất
Việc lựa chọn số lƣợng và mức thuế suất thuế GTGT khác nhau tùy thuộc vào
quan điểm, đặc điểm kinh tế - xã hội và mục tiêu đặt ra cho chính sách thuế của
từng nƣớc. Ở Việt Nam, luật thuế GTGT quy định 3 mức thuế suất. Việc quy định các
mức thuế suất khác nhau thể hiện chính sách điều tiết thu nhập và hƣớng dẫn tiêu dùng
đối với hàng hoá dịch vụ. Các mức thuế suất cụ thể hiện hành nhƣ sau:
- Thuế suất 0%
Thuế suất 0% là mức thuế suất áp dụng đối với các hàng hóa, dịch vụ xuất
khẩu, dƣới hình thức trực tiếp hay gia công, nhằm khuyến khích các doanh nghiệp
xuất khẩu hàng hóa thu ngoại tệ.
Áp dụng đối với hàng hóa, dịch vụ xuất khẩu, vận tải quốc tế và hàng hóa,
dịch vụ không chịu thuế giá trị gia tăng khi xuất khẩu, trừ các trƣờng hợp chuyển
giao công nghệ, chuyển nhƣợng quyền sở hữu trí tuệ ra nƣớc ngoài; dịch vụ tái bảo
hiểm ra nƣớc ngoài; dịch vụ cấp tín dụng, chuyển nhƣợng vốn, dịch vụ tài chính
phái sinh; dịch vụ bƣu chính, viễn thông; sản phẩm xuất khẩu là tài nguyên, khoáng
sản khai thác chƣa qua chế biến. 11
- Thuế suất 5%.
Thuế suất 5% là mức thuế suất áp dụng đối với các loại hàng hóa, dịch vụ thiết
=
dịch vụ chịu thuế bán ra của hàng hóa dịch vụ đó
Cơ sở kinh doanh thuộc đối tƣợng tính thuế theo phƣơng pháp khấu trừ khi
bán hàng hóa, dịch vụ phải tính và thu thuế GTGT của hàng hóa dịch vụ bán ra. Khi
lập hóa đơn bán hàng hóa dịch vụ, cơ sở kinh doanh phải ghi rõ giá bán chƣa có
thuế, thuế và tổng số tiền ngƣời mua phải thanh toán.
x 12
Trƣờng hợp sử dụng chứng từ ghi giá thanh toán là giá đã có thuế GTGT thì
thuế GTGT đầu ra đƣợc xác định bằng giá thanh toán trừ (-) giá tính thuế.
- Thuế GTGT đầu vào bằng tổng số thuế GTGT ghi trên hóa đơn GTGT mua
hàng hóa, dịch vụ (bao gồm cả TSCĐ) dùng cho sản xuất, kinh doanh hàng hoá,
dịch vụ chịu thuế GTGT, số thuế GTGT ghi trên chứng từ nộp thuế của hàng hóa
nhập khẩu hoặc chứng từ nộp thuế thay cho phía nƣớc ngoài áp dụng đối với các tổ
chức cá nhân nƣớc ngoài có hoạt động kinh doanh tại Việt Nam nhƣng không thành
lập pháp nhân tại Việt Nam.
- Xác định thuế GTGT đầu vào đƣợc khấu trừ
Cơ sở kinh doanh thuộc đối tƣợng nộp thuế phƣơng pháp khấu trừ thuế đƣợc
tính khấu trừ thuế GTGT đầu vào (gọi là thuế đầu vào) nhƣ sau:
+ Thuế giá trị gia tăng đầu vào của hàng hóa, dịch vụ sử dụng cho sản xuất,
kinh doanh hàng hóa, dịch vụ chịu thuế giá trị gia tăng đƣợc khấu trừ toàn bộ;
+ Thuế giá trị gia tăng đầu vào của hàng hoá, dịch vụ sử dụng đồng thời cho
sản xuất, kinh doanh hàng hóa, dịch vụ chịu thuế và không chịu thuế thì chỉ đƣợc
khấu trừ số thuế giá trị gia tăng đầu vào của hàng hoá, dịch vụ sử dụng cho sản
xuất, kinh doanh hàng hóa, dịch vụ chịu thuế giá trị gia tăng. Cơ sở kinh doanh phải
hạch toán riêng thuế giá trị gia tăng đầu vào đƣợc khấu trừ và không đƣợc khấu trừ;
trƣờng hợp không hạch toán riêng đƣợc thì thuế đầu vào đƣợc khấu trừ tính theo tỷ
lệ (%) giữa doanh số chịu thuế giá trị gia tăng so với tổng doanh số hàng hoá, dịch
khấu trừ bổ sung; thời gian để kê khai, khấu trừ bổ sung tối đa là sáu tháng, kể từ
thời điểm phát sinh sai sót.
+ Số thuế giá trị gia tăng đầu vào không đƣợc khấu trừ, cơ sở kinh doanh đƣợc
hạch toán vào chi phí để tính thuế thu nhập doanh nghiệp hoặc tính vào nguyên giá
của tài sản cố định.
- Điều kiện khấu trừ thuế giá trị gia tăng đầu vào:
+ Có hoá đơn giá trị gia tăng của hàng hoá, dịch vụ mua vào hoặc chứng từ
nộp thuế giá trị gia tăng hàng hoá ở khâu nhập khẩu, chứng từ nộp thuế giá trị gia
tăng đối với trƣờng hợp mua dịch vụ của tổ chức nƣớc ngoài không có cơ sở thƣờng
trú tại Việt Nam, cá nhân ở nƣớc ngoài là đối tƣợng không cƣ trú tại Việt Nam.
+ Có chứng từ thanh toán qua ngân hàng đối với hàng hóa, dịch vụ mua vào,
trừ trƣờng hợp tổng giá trị hàng hoá, dịch vụ mua vào từng lần có giá trị dƣới 20
triệu đồng. 14
Đối với hàng hoá, dịch vụ mua trả chậm, trả góp có giá trị trên 20 triệu đồng,
cơ sở kinh doanh căn cứ vào hợp đồng mua hàng hoá, dịch vụ, hoá đơn giá trị gia
tăng và chứng từ thanh toán qua ngân hàng của hàng hoá, dịch vụ mua trả chậm, trả
góp để kê khai, khấu trừ thuế giá trị gia tăng đầu vào. Trƣờng hợp chƣa có chứng từ
thanh toán qua ngân hàng do chƣa đến thời điểm thanh toán theo hợp đồng thì cơ sở
kinh doanh vẫn đƣợc kê khai, khấu trừ thuế giá trị gia tăng đầu vào. Đến thời điểm
thanh toán theo hợp đồng nếu không có chứng từ thanh toán qua ngân hàng thì
không đƣợc khấu trừ thuế giá trị gia tăng đầu vào, cơ sở kinh doanh phải kê khai,
điều chỉnh lại số thuế giá trị gia tăng đầu vào đã khấu trừ.
Hàng hoá, dịch vụ mua vào theo phƣơng thức bù trừ giữa giá trị hàng hóa,
dịch vụ mua vào với giá trị hàng hóa, dịch vụ bán ra cũng đƣợc coi là thanh toán
qua ngân hàng; trƣờng hợp sau khi bù trừ mà phần giá trị còn lại đƣợc thanh toán
bằng tiền có giá trị từ 20 triệu đồng trở lên thì chỉ đƣợc khấu trừ thuế đối với trƣờng
hợp có chứng từ thanh toán qua ngân hàng.
Phƣơng pháp xác định GTGT làm căn cứ tính thuế GTGT phải nộp đối với từng cơ
sở kinh doanh đã thực hiện đầy đủ việc mua, bán hàng hóa, dịch vụ có hóa đơn,
chứng từ, ghi chép sổ sách kế toán hay không.
1.1.3.4. Khai thuế, nộp thuế
1.1.3.4.1. Khai thuế.
- Trách nhiệm nộp hồ sơ khai thuế giá trị gia tăng cho cơ quan thuế:
+ Ngƣời nộp thuế nộp hồ sơ khai thuế giá trị gia tăng cho cơ quan thuế quản
lý trực tiếp.
+ Trƣờng hợp ngƣời nộp thuế có đơn vị trực thuộc kinh doanh ở địa phƣơng
cấp tỉnh cùng nơi ngƣời nộp thuế có trụ sở chính: nếu đơn vị trực thuộc hạch toán
độc lập thì đơn vị trực thuộc nộp hồ sơ khai thuế giá trị gia tăng cho cơ quan thuế
quản lý trực tiếp đơn vị trực thuộc; nếu đơn vị trực thuộc hạch toán phụ thuộc thì
ngƣời nộp thuế thực hiện khai thuế giá trị gia tăng chung cho cả đơn vị trực thuộc.
Nếu đơn vị trực thuộc hạch toán phụ thuộc có con dấu, tài khoản tiền gửi
ngân hàng, trực tiếp bán hàng hóa, dịch vụ, kê khai đầy đủ thuế giá trị gia tăng đầu
vào, đầu ra muốn kê khai nộp thuế riêng phải đăng ký nộp thuế riêng, cấp mã số
thuế phụ thuộc và sử dụng hóa đơn riêng.
+ Trƣờng hợp ngƣời nộp thuế có đơn vị trực thuộc kinh doanh ở địa phƣơng
cấp tỉnh khác nơi ngƣời nộp thuế có trụ sở chính thì đơn vị trực thuộc nộp hồ sơ
khai thuế giá trị gia tăng cho cơ quan thuế quản lý trực tiếp của đơn vị trực thuộc;
nếu đơn vị trực thuộc không trực tiếp bán hàng, không phát sinh doanh thu thì thực
hiện khai thuế tập trung tại trụ sở chính của ngƣời nộp thuế.
+ Trƣờng hợp ngƣời nộp thuế có hoạt động kinh doanh xây dựng, lắp đặt,
bán hàng vãng lai mà không thành lập đơn vị trực thuộc tại địa phƣơng cấp tỉnh 16
khác nơi ngƣời nộp thuế có trụ sở chính (sau đây gọi là kinh doanh xây dựng, lắp
đặt, bán hàng vãng lai ngoại tỉnh) thì ngƣời nộp thuế phải nộp hồ sơ khai thuế cho chi
cục thuế quản lý địa phƣơng có hoạt động xây dựng, lắp đặt, bán hàng vãng lai đó.
thuế của lần tiếp theo, nhƣng phải trƣớc khi cơ quan thuế công bố quyết định kiểm
tra thuế, thanh tra thuế tại trụ sở ngƣời nộp thuế.
Trƣờng hợp khai bổ sung hồ sơ khai thuế làm tăng số tiền thuế phải nộp,
ngƣời nộp thuế tự xác định số tiền phạt chậm nộp căn cứ vào số tiền thuế chậm nộp,
số ngày chậm nộp và mức xử phạt theo quy định tại Điều 106 Luật Quản lý thuế.
Trƣờng hợp ngƣời nộp thuế không tự xác định hoặc xác định không đúng số tiền
phạt chậm nộp thì cơ quan thuế xác định số tiền phạt chậm nộp và thông báo cho
ngƣời nộp thuế biết để thực hiện.
Trƣờng hợp khai bổ sung hồ sơ khai thuế làm giảm số thuế phải nộp, ngƣời
nộp thuế đƣợc điều chỉnh giảm tiền thuế, tiền phạt (nếu có) tại ngày cuối cùng của
tháng nộp hồ sơ khai bổ sung; hoặc đƣợc bù trừ số thuế giảm vào số thuế phát sinh
của lần khai thuế tiếp theo.
1.1.3.5. Hoàn thuế GTGT
Hoàn thuế GTGT là việc Nhà nƣớc trả lại cho Ngƣời nộp thuế mua hàng hoá
dịch vụ về sử dụng số tiền thuế đầu vào đã trả khi mua hàng hoá dịch vụ mà ngƣời
nộp thuế còn chƣa đƣợc khấu trừ trong kỳ tính thuế.
* Đối tƣợng và trƣờng hợp đƣợc hoàn thuế GTGT:
Thứ nhất: Cơ sở kinh doanh nộp thuế theo phƣơng pháp khấu trừ thuế đƣợc
hoàn thuế GTGT nếu trong 3 tháng liên tục trở lên có số thuế GTGT đầu vào chƣa
đƣợc khấu trừ hết.
Thứ hai: Cơ sở kinh doanh mới thành lập từ dự án đầu tƣ đã đăng ký kinh
doanh, đăng ký nộp thuế GTGT theo phƣơng pháp khấu trừ, hoặc dự án tìm kiếm
thăm dò và phát triển mỏ dầu khí đang trong giai đoạn đầu tƣ, chƣa đi vào hoạt
động, nếu thời gian đầu tƣ từ 01 năm trở lên thì đƣợc hoàn thuế GTGT của hàng
hoá, dịch vụ sử dụng cho đầu tƣ theo từng năm. Trƣờng hợp, nếu số thuế GTGT luỹ
kế của hàng hoá, dịch vụ mua vào sử dụng cho đầu tƣ từ 200 triệu đồng trở lên thì
đƣợc hoàn thuế GTGT. 18