BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ NỘI VỤ
HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA
NGUYỄN HỌC SƠN
QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ TRẬT TỰ AN TOÀN
XÃ HỘI TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN THANH TRÌ,
THÀNH PHỐ HÀ NỘI
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ CÔNG
HÀ NỘI, 2018
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ NỘI VỤ
HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA
NGUYỄN HỌC SƠN
QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ TRẬT TỰ AN TOÀN
XÃ HỘI TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN THANH TRÌ,
THÀNH PHỐ HÀ NỘI
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ CÔNG
Chuyên ngành: Quản lý công
Xin chân thành bày tỏ lòng biết ơn đến Quý thầy cô đã không ngừng hỗ trợ
và tạo mọi điều kiện tốt nhất cho tôi trong suốt thời gian nghiên cứu và thực
hiện luận văn.
Cuối cùng, tôi xin chân thành cảm ơn đến gia đình, các anh chị và các bạn
đồng nghiệp đã hỗ trợ cho tôi rất nhiều trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu
và thực hiện đề tài luận văn thạc sĩ một cách hoàn chỉnh.
Hà Nội, ngày …… tháng
năm 2018
Học viên thực hiện
Nguyễn Học Sơn
MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU ................................................................................................... 1
CHƯƠNG 1. NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ
TRẬT TỰ AN TOÀN XÃ HỘI ............................................................................ 8
1.1. Những khái niệm cơ bản ................................................................................ 8
1.1.1. Trật tự an toàn xã hội .................................................................................. 8
1.1.2. Quản lý nhà nước về trật tự an toàn xã hội ............................................... 10
1.2. Nội dung và vai trò quản lý nhà nước về trật tự an toàn xã hội ................... 16
1.2.1. Nội dung .................................................................................................... 16
1.2.2. Vai trò Quản lý nhà nước về trật tự an toàn xã hội ................................... 21
1.3. Những yếu tố tác động đến quản lý nhà nước về trật tự an toàn xã hội. ..... 23
1.3.1. Về chính trị ................................................................................................ 23
1.3.2. Về pháp luật .............................................................................................. 24
1.3.3. Về kinh tế .................................................................................................. 25
1.3.4. Hội nhập quốc tế ....................................................................................... 25
TIỂU KẾT CHƯƠNG 2 ...................................................................................... 61
CHƯƠNG 3. PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN QUẢN LÝ
NHÀ NƯỚC VỂ TRẬT TỰ AN TOÀN XÃ HỘI TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN
THANH TRÌ, THÀNH PHỐ HÀ NỘI. .............................................................. 62
3.1. Phương hướng hoàn thiện quản lý nhà nước về trật tự an toàn xã hội trên
địa bàn huyện Thanh Trì, Hà Nội........................................................................ 62
3.1.1. Phương hướng kết hợp đảm bảo trật tự an toàn xã hội, giữ gìn an ninh
quốc gia, quốc phòng trên địa bàn huyện và thực hiện nhiệm vụ quốc phòng trên
địa bàn huyện Thanh Trì ..................................................................................... 62
3.1.2. Quản lý Nhà nước về trật tự an toàn xã hội phải hướng đến phục vụ và
đáp ứng tốt cho nhu cầu của người dân. ............................................................. 63
3.1.3. Nâng cao trách nhiệm các cấp, các ngành trên địa bàn đảm bảo trật tự an
toàn xã hội. .......................................................................................................... 64
3.2. Giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước về trật tự an toàn xã hội ... 65
3.2.1. Tăng cường sự lãnh đạo của cấp ủy Đảng, củng cố hệ thống chính trị
cơ sở .................................................................................................................... 65
3.2.2. Tăng cường phổ biến giáo dục pháp luật, xã hội trên địa bàn huyện và
hoàn thiện bộ máy công an huyện Thanh Trì đáp ứng đảm bảo trật tự an toàn xã
hội trên địa bàn huyện ......................................................................................... 66
3.2.3. Nâng cao năng lực thực thi nhiệm vụ đảm bảo trật tự an toàn xã hội của
cán bộ công an huyện Thanh Trì ......................................................................... 70
3.2.4. Tăng cường mối quan hệ phối hợp giữa công an huyện và các ngành, các
cấp trong quản lý nhà nước về trật tự an toàn xã hội trên địa bàn huyện. ......... 71
3.2.5. Tăng cường cơ sở vật chất, phương tiện cho lực lượng đảm bảo trật tự an
toàn xã hội. .......................................................................................................... 72
3.2.6. Tăng cường và hoàn thiện chức năng thanh tra, kiểm tra, xử lí vi phạm
trong trật tự an toàn xã hội. ................................................................................. 73
TIỂU KẾT CHƯƠNG 3 ...................................................................................... 75
HĐND
Hội đồng nhân dân
TNGT
Tai nạn giao thông
TNXH
Tệ nạn xã hội
CATP
Công an thành phố
CBCS
Cán bộ cảnh sát
ANQG
An ninh quốc gia
ANTQ
An ninh Tổ quốc
ANTT
theo đúng định hướng mà còn góp phần quan trọng vào việc tăng niềm tin của
nhân dân vào Đảng và Nhà nước, vào chế độ XHCN. Do đó, QLNN về
TTATXH là một nhiệm vụ quan trọng của Nhà nước, có vai trò quan trọng trong
sự nghiệp bảo vệ, xây dựng và phát triển đất nước.
Gần đây, tình hình quốc tế có những diễn biến hết sức phức tạp, khó lường.
Chiến tranh, bạo lực nổ ra ở Ucraina, Iraq, Palestine, đảo chính ở Thái Lan,
khủng bố ở Tân Cương - Trung Quốc, dịch bệnh Ebola đang bùng phát, hoành
hành tại các quốc gia Tây Phi, đặc biệt là việc Trung Quốc ngang nhiên đưa giàn
khoan Hải Dương 981 vào vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của Việt
Nam, là hành động vi phạm luật pháp quốc tế, Công ước Liên hợp quốc về Luật
biển năm 1982, đã có những ảnh hưởng, tác động sâu sắc đến tình hình an ninh
của Việt Nam. Đây cũng là những vấn đề mới phát sinh, đặt ra cho hoạt động
quản lý nhà nước nói chung, trong đó có quản lý nhà nước về ANTT nói riêng.
Thực hiện công cuộc đổi mới của đất nước cũng như công cuộc xây dựng
Thủ đô, địa bàn huyện Thanh Trì không tránh khỏi chịu sự ảnh hưởng tích cực
và tiêu cực của các địa bàn khác. Chính phủ, thành phố và huyện triển khai thực
hiện nhiều dự án công trình trọng điểm về giao thông, đô thị, khu công nghiệp,
dự án đấu giá quyền sử dụng đất; hàng trăm ha đất nông nghiệp phải thu hồi dẫn
đến tình trạng người dân thiếu việc làm. Mặt khác, do tác động của mặt trái cơ
chế thị trường, sự phân hóa giàu nghèo trong các tầng lớp nhân dân diễn ra
1
nhanh chóng và rõ rệt, người huyện ngoài về huyện cư trú, tạm trú, làm việc, lao
động, học tập ngày càng đông, các cơ sở kinh doanh dịch vụ, nhạy cảm về
ANTT ngày càng nhiều. Hơn nữa, hoạt động của tội phạm và tệ nạn xã hội diễn
biến phức tạp với thủ đoạn tinh vi, xảo quyệt, liều lĩnh... tình hình an ninh nông
thôn, an ninh tôn giáo có nhiều tiềm ẩn phức tạp đã tác động không nhỏ đến
công tác đảm bảo ANTT trên địa bàn huyện.
Thực tế những năm gần đây cho thấy tình hình ANTT, TTATXH trên địa bàn
điểm chung của đất nước, tình hình cụ thể tại huyện Thanh Trì, đề tài được tiến
hành nghiên cứu, nhằm tổng kết, khắc phục những khuyết điểm, phát huy những
ưu điểm, tìm ra những giải pháp, đóng góp kinh nghiệm để tăng cường công tác
quản lý, giữ gìn TTATXH của cán bộ chiến sĩ công an huyện Thanh Trì. Với lý do
đó, học viên lựa chọn đề tài “Quản lý nhà nước về trật tự an toàn xã hội trên địa
bàn huyện Thanh Trì, thành phố Hà Nội ” làm đề tài luận văn thạc sĩ, chuyên
ngành Quản lý công.
2. Tình hình nghiên cứu có liên quan đề tài luận văn
Cho đến nay, lý luận quản lý nhà nước về trật tự an toàn xã hội đã được đề
cập đến nhiều trong các giáo trình, bài viết, sách, luận án….. như:
- Học viện Cảnh sát nhân dân (2016), Giáo trình quản lý Nhà nước về an
ninh trật tự, Nxb Khoa học và Kỹ thuật, Hà Nội.
-Học viện chính trị Quốc gia thành phố Hồ Chí Minh: “Tăng cường quản lý
nhà nước bằng pháp luật về trật tự an toàn xã hội trong hoạt động của cảnh sát
nhân dân ở nước ta hiện nay” - Lê Thế Tiệm (1996).
- Học viện Hành chính quốc gia (2007), Giáo trình Hành chính Công, Nxb
Khoa học và Kỹ thuật, Hà Nội.
- Học viện Hành chính (2010), Giáo trình lý luận Hành chính Nhà nước,
Nxb Khoa học kỹ thuật, Hà Nội.
- Học viện Hành chính Quốc gia (2015), Giáo trình Quản lý công, Nxb
Bách khoa, Hà Nội.
- Bài viết của ThS Nguyễn Trung Anh – Phó trưởng khoa Dân vận và Công
tác xã hội Học viện cán bộ thành phố Hồ Chí Minh với chủ đề “Nhận thức quản
lý Nhà nước về trật tự an toàn xã hội”.
3
- “Cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội” - Chỉ đạo biên soạn Đại
tá Phạm Văn Đức – NXB Công An Nhân dân, Hà Nội – (1998).
- “Kỹ năng giao tiếp của cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội” Chủ biên PGS. TS Đinh Trọng Hoàn – NXB Công An Nhân Dân – (2009).
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở nghiên cứu cơ sở lý luận, đánh giá đúng những ưu điểm và hạn chế
của công tác QLNN về TTATXH trên địa bàn huyện Thanh Trì cùng với những
nguyên nhân và hạn chế, luận văn xác định phương hướng và đề xuất những giải pháp
nhằm nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước về trật tự an toàn xã hội trên địa bàn huyện,
góp phần vào việc thực hiện thắng lợi nhiệm vụ giữ vững ANTT tại địa phương.
3.2 Nhiệm vụ
Để thực hiện mục đích trên, luận văn có những nhiệm vụ sau:
- Nghiên cứu làm rõ những vấn đề lý luận cơ bản như: khái niệm, đặc điểm,
nguyên tắc, nội dung quản lý nhà nước về trật tự an toàn xã hội
- Phân tích đánh giá đúng thực trạng công tác quản lý nhà nước về trật tự
an toàn xã hội tại huyện Thanh Trì.
- Rút ra những ưu diểm, khuyết điểm, xác định rõ nguyên nhân của những
ưu điểm và hạn chế, thiếu xót đang đặt ra đối với công tác này trên địa bàn
huyện Thanh Trì
- Qua việc phân tích thực trạng, luận văn đề xuất những giải pháp nhằm
tăng cường công tác quản lý nhà nước về trật tự an toàn xã hội trên địa bàn
huyện Thanh Trì, thành phố Hà Nội.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Những vấn đề lý luận và thực tiễn về công tác quản lý nhà nước và trật tự
an toàn xã hội.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
Đề tài tập trung nghiên cứu hoạt động quản lý nhà nước của cán bộ, chiến
sĩ về trật tự an toàn xã hội theo chức năng của lực lượng Công an huyện Thanh
Trì, Thành phố Hà Nội.
5
7. Kết cấu luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục số
liệu, nội dung của luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Những vấn đề lý luận quản lý nhà nước về trật tự an toàn xã
hội.
Chương 2: Thực trạng quản lý nhà nước về trật tự an toàn xã hội trên địa
bàn huyện Thanh Trì, thành phố Hà Nội.
Chương 3: Phương hướng và giải pháp hoàn thiện quản lý nhà nước về trật
tự an toàn xã hội trên địa bàn huyện Thanh Trì, Hà Nội.
7
CHƯƠNG 1
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC
VỀ TRẬT TỰ AN TOÀN XÃ HỘI
1.1. Những khái niệm cơ bản
1.1.1. Trật tự an toàn xã hội
Trong một số tài liệu, từ điển, bài viết… thuật ngữ “trật tự an toàn xã hội”
được hiểu một cách phổ biến là sự hoạt động ổn định hài hòa của các thành phần
xã hội trong cơ cấu xã hội; trật tự xã hội nhằm duy trì sự phát triển xã hội và cơ
chế bảo đảm tính trật tự xã hội là các thiết chế xã hội. Trật tự xã hội biểu hiện
tính tổ chức của đời sống xã hội, tính chuẩn mực của các hành động xã hội. Nhờ
trật tự xã hội mà hệ thống xã hội đạt được sự ổn định, cho phép nó hoạt động
một cách có hiệu quả dưới sự tác động của các yếu tố bên trong và bên ngoài.
Cũng có tác giả tách thuật ngữ “trật tự an toàn” thành hai vấn đề riêng biệt là
“trật tự” và “an toàn”. Chẳng hạn: “trật tự là tình trạng ổn định, có thứ bậc trên
dưới, trước sau... An toàn là yên ổn trọn vẹn, yên ổn hẳn, không sợ tai nạn”
[26, Tr 16].
- Đó là một trạng thái trật tự, nề nếp, kỷ cương, bình yên của xã hội.
- Trạng thái này chỉ đạt tới độ vững chắc khi được thiết lập trên cơ sở sự tự
giác tuân thủ quy phạm pháp luật, đạo đức của mọi người trong xã hội.
- Là kết quả tổng hợp của công tác phòng ngừa, đấu tranh chống tội phạm,
tệ nạn xã hội; công tác quản lý, bảo vệ, gìn giữ trật tự, an toàn trên nhiều llĩnh
vực khác nhau của đời sống xã hội.
Trật tự an toàn xã hội là trạng thái xã hội bình yên, trong đó mọi người
được sống yên ổn trên cơ sở các quy phạm pháp luật, các quy tắc và chuẩn mực
đạo đức, pháp lí xác định. Giữ gìn trật tự an toàn xã hội là phòng ngừa, phát
hiện, ngăn chặn, đấu tranh chống tội phạm và các hành vi vi phạm pháp luật về
trật tự an toàn xã hội.
9
Có nhiều quan điểm về “trật tự an toàn xã hội” đều có những ưu điểm nhất
định. Tuy nhiên các quan điểm này không tránh khỏi những hạn chế khi xác
định nội hàm, khách thể và phương pháp điều chỉnh.
Để có khái niệm TTATXH một cách chính xác, có ý nghĩa chỉ đạo thực
tiễn, xuất phát từ 3 căn cứ sau: Thứ nhất, trật tự an toàn xã hội là sản phẩm tất
yếu của xã hội có Nhà nước. Trong tất cả các kiểu Nhà nước đều hình thành và
tồn tại một trật tự an toàn xã hội của mình nhằm bảo vệ Nhà nước và xã hội đó.
Vì vậy, khái niệm trật tự an toàn xã hội phải phản ánh được bản chất của Nhà
nước của dân, do dân và vì dân mà chúng ta đang xây dựng. Thứ hai, TTATXH
còn phải được quan niệm như là kết quả của trạng thái xã hội ổn định vững vàng
của Nhà nước và hệ thống chính trị, trong đó quyền của công dân được bảo vệ
và tôn trọng. Thứ ba, trật tự an toàn xã hội được điều chỉnh bởi một hệ thống các
quy phạm pháp luật, đạo đức, chính trị và bằng phương pháp giáo dục thuyết
phục, cưỡng chế Nhà nước, trong đó quy phạm pháp luật đóng vai trò quan
trọng trong việc hình thành trật tự đó.
Quản lý là sự tác động có tổ chức, có hướng đích của chủ thể quản lý tới
đối tượng quản lý nhằm đạt mục đích đề ra. Như vậy:
- Quản lý xuất hiện ở bất kỳ đâu, khi nào nếu có ở đó và lúc đó có hoạt
động chung của con người.
- Quản lý là sự tác động có mục đích của các chủ thể quản lý đối với các
đối tượng quản lý.
- Mục đích và nhiệm vụ của quản lý và điều khiển, chỉ đạo hoạt động
chung của con người, phối hợp các hoạt động riêng lẻ của từng cá nhân tạo
thành một hoạt động chung thống nhất của cả tập thể và hướng hoạt động chung
đó theo những phương hướng thống nhất, nhằm đạt được mục đích đã định
trước.
- Quản lý được thực hiện bằng tổ chức và quyền uy.
- Quản lý nhà nước
Quản lý nhà nước là một quá trình phức tạp, đa dạng và là một yếu tố
không thể thiếu trong đời sống xã hội. Các – Mác cho rằng quản lý xã hội là một
11
chức năng đặc biệt nảy sinh, trước hết là chính bản chất của quá trình lao động
xã hội, ông viết: “Bất kỳ lao động xã hội trực tiếp hay lao động chung nào đó mà
tiến hành tuân theo một quy mô tương đối lớn đều cần có sự quản lý ở mức độ
nhiều hay ít nhằm phối hợp những hoạt động cá nhân và thực hiện những chức
năng chung phát sinh từ sự vận động của toàn bộ cơ thể sản xuất, sự vận động
này khác với sự vận động của những cơ quan độc lập của cơ thể đó. Một nhạc
công tự điều khiển mình nhưng một dàn nhạc phải có nhạc trưởng” [5, Tr 342].
Sau này ông còn nói: “Lao động giám sát và quản lý ở tất cả những nơi mà hoạt
động sản xuất trực tiếp có hình thức của một quá trình phối hợp mang tính xã
hội, chứ không phải là lao động riêng rẽ của những người sản xuất độc lập” [6,
Tr 432].
“Quản lý nhà nước là hoạt động của nhà nước trên các lĩnh vực lập pháp,
nhà nước bao gồm: Chính phủ, các bộ, UBND các cấp. Dĩ nhiên, quản lý nhà
nước phải do cơ quan QLNN tiến hành như các tổ chức quần chúng, tổ chức
chính trị xã hội hoặc nhân dân trực tiếp thực hiện nhưng phải do nhà nước giao
quyền, nhân danh trên cơ sở quyền lực nhà nước.
- Quản lý nhà nước về trật tự an toàn xã hội
Quản lý nhà nước về trật tự an toàn xã hội là bộ phận rất quan trọng của
quản lý nhà nước nói chung, của quản lý nhà nước về an ninh, trật tự nói riêng.
Về thực chất, quản lý nhà nước về trật tự an toàn xã hội bao gồm những
điểm chính yếu sau:
-
Là sự tác động có tổ chức, có hệ thống và bằng pháp luật vào tất cả những
yếu tố cấu thành nên trật tự an toàn xã hội nhằm điều chỉnh có hiệu lực, hiệu
quả các quan hệ xã hội, tạo nên những cơ sở vững chắc đảm bảo cho một nền
trật tự an toàn xã hội theo ý chí của nhà nước.
-
Là một dạng quản lý xã hội mang tính quyền lực nhà nước để điều chỉnh
các mối quan hệ xã hội và hành vi hoạt động của con người liên quan đến trật
tự an toàn xã hội.
13
-
Hệ thống các chủ thể quản lý rất rộng, trong đó chủ thể trực tiếp, nòng cốt
là lực lượng Công an nhân dân.
Là một dạng quản lý xã hội mang tính quyền lực nhà nước để điều chỉnh
các mối quan hệ xã hội và hành vi hoạt động của con người liên quan đến trật tự
an toàn xã hội.
Bên cạnh đó, quyền lực của nhà nước còn thể hiện trong việc các chủ thể
có thẩm quyền tiến hành những hoạt động cần thiết để đảm bảo thực hiện ý chí
nhà nước như các biện pháp về tổ chức, về kinh tế, tuyên truyền giáo dục, thuyết
phục, cưỡng chế …. Chính các biện pháp này thể hiện sự tập trung rõ nét của
sức mạnh Nhà nước, một bộ phận tạo nên quyền lực nhà nước, nhờ đó ý chí của
chủ thể nhà nước được thực hiện.
QLNN về trật tự ATXH là hoạt động được tiến hành bởi những chủ thể có
quyền năng hành pháp nhằm tạo nên sự ổn định, an toàn cho đất nước trên mọi
phương diện kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội nhằm đạt tới các mục tiêu xây
dựng thành công và bảo vệ vững chắc XHCN.
Đối tượng quản lý nhà nước về trật tự an toàn xã hội là tất cả các cơ quan,
tổ chức, nhóm người, cộng đồng người, các cá nhân tham gia các mối quan hệ
thuộc phạm trù trật tự an toàn xã hội. Cơ quan quản lý phải thể hiện những quy
định khắt khe, hàng loạt các điều kiện đảm bảo TTATXH, cán bộ công chức
phải có trình độ chuyên môn nhất định có trách nhiệm với công việc xử lý các vi
phạm pháp luật về TTATXH đều dựa trên cơ sở pháp luật, đúng pháp luật.
Trong quá trình đó các chủ thể này, không chỉ tự mình thực hiện pháp luật mà
quan trọng hơn cả, chúng nhận chức năng chỉ đạo nhằm vận hành hoạt động của
các cơ quan, đơn vị trực thuộc theo một quy trình thống nhất; tổ chức để mọi đối
tượng có liên quan thực hiện pháp luật nhằm hiện thực hóa các quyền và nghĩa
vụ của bên trong quan hệ quản lý.
Quản lý nhà nước về trật tự an toàn xã hội thường xuyên khai thác, kế thừa,
sử dụng kiến thức của nhiều ngành khoa học khác nhau. Nhất là trong giai đoạn
hiện nay, khi mà kỹ thuật điện, điện tử và khoa học công nghệ, thông tin viễn
thông phổ biến …. Từ đó đòi hỏi các cơ quan QLNN cần có kế hoạch đầu tư,
15
16
lượng tổng hợp và chiến đấu cao. Giữ vững môi trường hòa bình, ổn định cho sự
phát triển của đất nước, nâng cao vị thế của Việt Nam trên khu vực và thế giới.
Trên cơ sở những mục tiêu chung và mục tiêu cụ thể, có thể đưa ra mục
tiêu cụ thể cho từng lĩnh vực như sau:
Về chính trị: Đảm bảo giữ vững ổn định chính trị xã hội, xác định, củng cố
phát huy vai trò lãnh đạo của ĐCSVN, tăng cường hiệu quả QLNN đối với quản
lý xã hội, đảm bảo quyền tự do dân chủ của nhân dân.
Về kinh tế - xã hội: Bảo vệ đường lối phát triển kinh tế - xã hội của đất
nước, góp phần bảo vệ nguồn lực của nền kinh tế, tạo môi trường đầu tư thuận
lợi, đảm bảo công bằng xã hội đi đôi với tăng trưởng kinh tế của đất nước.
Về tư tưởng – văn hóa: Bảo vệ sự phát triển đúng đắn của chủ nghĩa Mác – Lê
nin, tư tưởng HCM, kế thừa phát huy truyền thống, bản sắc văn hóa dân tộc, tiếp
thu có chọn lọc tinh hoa, văn hóa nhân loại phù hợp với văn hóa Việt Nam, củng cố
khối đại đoàn kết dân tộc Việt Nam trên cơ sở đoàn kết các cộng đồng dân tộc.
Về trật tự an toàn xã hội: Ngăn chặn, kiềm chế sự gia tăng của tội phạm,
tập trung phòng, chống có hiệu quả các loại tội phạm nguy hiểm gây hậu quả tác
hại, gây bức xúc trong xã hội, bài trừ các tệ nạn xã hội nhất là tệ nạn nghiện hút,
cờ bạc, mại dâm, tệ nạn quan liêu, tham nhũng; ngăn ngừa, làm giảm các tai
nạn; duy trì trật tự, kỷ cương, xây dựng nếp sống văn hóa lành mạnh, nghiêm
minh trong đời sống xã hội.
1.2.1.2 Ban hành các văn bản quy phạm pháp luật về trật tự an toàn xã hội
Hiện nay, khuôn khổ pháp lý trong lĩnh vực TTATXH được Quốc hội,
Chính phủ và Thanh tra hướng dẫn đầy đủ. Nhiệm vụ của các cơ quan hành
chính nhà nước, cá nhân người có thẩm quyền trong cơ quan hành chính nhà
nước phải thể chế hóa các Luật, Nghị định của Chính phủ để triển khai trong
ngành và lĩnh vực mình quản lý. Đây là cơ sở pháp lý quan trọng nhằm tạo điều
kiện thuận lợi cho công tác QLNN về TTATXH cũng như đảm bảo quyền và lợi