Hoàn thiện hoạt động quản lý chi trả bảo hiểm xã hội trên địa bàn thành phố bắc ninh tỉnh bắc ninh - Pdf 28


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT
HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP HÀ NỘI NGUYỄN THỊ THU HƯƠNG
HOÀN THIỆN HOẠT ĐỘNG QUẢN LÝ
CHI TRẢ BẢO HIỂM XÃ HỘI TRÊN ĐỊA BÀN
THÀNH PHỐ BẮC NINH, TỈNH BẮC NINH LUẬN VĂN THẠC SĨ HÀ NỘI, 2014

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT
HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP HÀ NỘI Tôi xin cam đoan đây là đề tài nghiên cứu của riêng tôi. Các số liệu được sử
dụng trong luận văn là trung thực, có nguồn gốc rõ ràng. Các kết quả nghiên cứu
trong luận văn được tập hợp tại cơ quan Bảo hiểm xã hội thành phố Bắc Ninh chưa
từng được ai nghiên cứu và công bố trong bất cứ công trình khoa học nào.

Người cam
đ
o
an Nguyễn Thị Thu Hương Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page ii

LỜI CẢM
ƠNTrong quá trình viết luận văn tôi đã nhận được sự quan tâm giúp đỡ của các
thầy cô giáo Bộ môn Kinh tế Tài nguyên và Môi trường, Khoa Kinh tế và Phát triển
nông thôn - Học viện Nông nghiệp Việt Nam; Ban Giám đốc BHXH thành phố Bắc

Mục lục iii
Danh mục các chữ viết tắt vi
Danh mục bảng vii
Danh mục hình viii
Danh mục sơ đồ viii
PHẦN 1: MỞ ĐẦU 1
1.1 Tính cấp thiết của đề tài 1
1.2 Mục tiêu nghiên cứu 3
1.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3
PHẦN II: TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU 4
2.1 Cơ sở lý luận của đề tài 4
2.1.1 Khái niệm và bản chất của BHXH 4
2.1.2 Vai trò

của bảo hiểm xã hội 8
2.1.3 Đối tượng và đối tượng tham gia BHXH 10
2.1.4 Quỹ bảo hiểm xã hội 11
2.1.5 Hệ thống chế độ bảo hiểm xã hội 13
2.1.6 Hệ thống tổ chức, quản lý hoạt động và quy trình chi trả BHXH 14
2.2 Cơ sở thực tiễn 23
2.2.1 Kinh nghiệm tổ chức và hoạt động chi trả các chế độ BHXH ở một số
nước trên thế giới và bài học kinh nghiệm cho Việt Nam 23
2.2.2 Khái quát về chính sách BHXH ở Việt Nam 27
2.2.3 Tổ chức bộ máy Bảo hiểm xã hội Việt Nam 28
2.2.4 Quy định cụ thể về chi trả các chế độ bảo hiểm xã hội 30
2.3 Kinh nghiệm và bài học rút ra từ tổng quan và cơ sở lý luận và thực
tiễn 38

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page iv

4.3 Các nhân tố ảnh hưởng đến công tác quản lý chi BHXH 77

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page v

4.3.1 Tổ chức bộ máy quản lý, chi trả BHXH: 77
4.3.2 Hệ thống văn bản quy định về quản lý chi trả BHXH 80
4.3.3 Cơ sở hạ tầng, trang thiết bị và phương tiện làm việc 81
4.3.4 Phối hợp trong công tác quản lý chi trả BHXH 84
4.3.5 Những thuận lợi, khó khăn, tồn tại trong quá trình tổ chức và quản lý
hoạt động chi trả các chế độ BHXH 85
4.4 Giải pháp hoàn thiện công tác quản lý chi trả các chế độ bảo hiểm xã
hội ở thành phố Bắc Ninh 87
4.4.1 Định hướng phát triển BHXH ở TP Bắc Ninh đến năm 2020 87
4.4.2 Giải pháp hoàn thiện hệ thống tổ chức và quản lý hoạt động chi trả
BHXH TP Bắc Ninh 89
PHẦN 5: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 103
5.1 Kết luận 103
5.2 Kiến nghị 105
TÀI LIỆU THAM KHẢO 107
PHỤ LỤC 110

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page vi


3.1 Hiện trạng sử dụng đất tính đến 01/01/2014 của TP Bắc Ninh 41
3.2 Dân số TP Bắc Ninh giai đoạn 2011-2013 42
3.3 Dân số trung bình phân theo giới tính và khu vực giai đoạn 2011-2013 43
3.4 Tình hình kinh tế TP Bắc Ninh giai đoạn 2011 - 2013 44
3.5 Đối tượng và địa điểm điều tra 54
4.1 Tổng hợp số người và số tiền chi bảo hiểm xã hội giai đoạn 2011 -
2013 59
4.2 Số người được hưởng và số tiền chi trả chế độ hưu trí hàng tháng giai
đoạn 2011 - 2013 60
4.3 Số người được hưởng và số tiền chi trả chế độ MSLĐ, Tuất hàng
tháng và TNLĐ - BNN hàng tháng giai đoạn 2011 - 2013 62
4.4 Số lượt người được hưởng và số tiền chi trả trợ cấp BHXH một lần
giai đoạn 2011 - 2013 63
4.5 Số lượt người được hưởng và số tiền chi trả các chế độ BHXH ngắn
hạn giai đoạn 2011 - 2013 64
4.6 Mức thay đổi của tiền lương tối thiểu giai đoạn 2011-2013 64
4.7 Tốc độ tăng số người hưởng các chế độ BHXH giai đoạn 2011-2013 66
4.8 Tốc độ tăng số tiền chi trả các chế độ BHXH giai đoạn 2011-2013 67
4.9 Tổng hợp đối tượng hưởng lương hưu và trợ cấp BHXH từ trần vẫn
có tên trong danh sách chi trả 69
4.10 Tổng số tiền chi trả và kinh phí 2% giữ lại để chi trợ cấp ốm đau,
thai sản, dưỡng sức phục hồi sức khỏe 77
4.11 Đánh giá về thái độ phục vụ của cán bộ BHXH và đại lý chi trả 79
4.12 Ý kiến về việc tuyên truyền chế độ chính sách BHXH bằng phương
tiện nào dễ nắm bắt nhất 97 Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page viii

Page 1

PHẦN 1: MỞ ĐẦU

1.1 Tính cấp thiết của đề tài
Bảo hiểm xã hội là nhu cầu khách quan của người lao động, xuất hiện trên
thế giới hàng trăm năm, được pháp luật của nhiều nước ghi nhận, là một trong
những chính sách xã hội cơ bản của mỗi quốc gia, là trụ cột trong hệ thống an sinh xã
hội Trong công cuộc đổi mới, xây dựng và phát triển đất nước hiện nay, Đảng ta
xác định “Bảo hiểm xã hội và bảo hiểm y tế là hai chính sách xã hội quan trọng, là
trụ cột chính của hệ thống an sinh xã hội, góp phần thực hiện tiến bộ và công bằng
xã hội, bảo đảm ổn định chính trị - xã hội và phát triển kinh tế - xã hội." (Bộ Chính
trị, 2012; Nghị quyết số 21-NQ/TW ngày 22/11 về tăng cường sự lãnh đạo của
Đảng đối với công tác bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế giai đoạn 2012 – 2020, [13]).
Thành phố Bắc Ninh là trung tâm kinh tế - chính trị, văn hóa, khoa học kỹ
thuật của tỉnh, kinh tế tăng trưởng với nhịp độ cao (bình quân trên 17%/năm).
(UBND thành phố Bắc Ninh, 2011; Kế hoạch phát triển kinh tế xã hội 5 năm 2011-
2015 [35]). Sau hơn 7 năm thực hiện Luật BHXH (01/01/2007) trên địa bàn thành
phố đã đạt được nhiều kết quả quan trọng: nhận thức của các cấp, các ngành, người
lao động và nhân dân về BHXH được nâng lên, chủ sử dụng lao động đã có ý thức
trong việc quan tâm bảo đảm quyền lợi cho người lao động, đồng thời người lao
động đã dần nhận thức đầy đủ và sâu sắc hơn về quyền và trách nhiệm của mình khi
tham gia BHXH ….Số đơn vị, đối tượng tham gia và thụ hưởng BHXH, BHYT trên
địa bàn thành phố hàng năm đều gia tăng với tốc độ cao. Năm 2013, thành phố có 993
đơn vị, với 115.648 người tham gia BHXH, BHYT, số tiền thu BHXH trên 344.250
tỷ đồng. Công tác tổ chức quản lý chi trả BHXH được thực hiện đúng quy định,
năm 2013, BHXH TP Bắc Ninh quản lý 22.605 đối tượng hưởng các chế độ BHXH
thường xuyên hàng tháng, chiếm 28,85% so với toàn tỉnh, tổng số tiền chi trả trên
446 tỷ đồng, chiếm 30,93% so với toàn tỉnh, tăng 21,9% so với năm 2012 (BHXH
thành phố Bắc Ninh, 2014; Báo cáo tổng kết công tác BHXH năm 2013 [5]). Việc tổ

những khó khăn, thách thức không nhỏ đòi hỏi BHXH TP phải có những biện pháp
giải quyết. Đặc biệt, từ tháng 6/2013 trở về trước, việc chi trả lương hưu, trợ cấp
BHXH thông qua đại lý chi trả của các xã, phường và từ tháng 7/2013 đến nay việc
chi trả được thực hiện thông qua hệ thống bưu điện. Đây là vấn đề mới cần nghiên
cứu nhằm thực tốt công tác chuyển giao, hạn chế ở mức thấp nhất những xáo trộn ảnh
hưởng công tác tổ chức hoạt động chi trả và tâm lý của người hưởng chế độ BHXH.
Do đó cần có giải pháp để hoàn thiện công tác quản lý chi trả ở TP Bắc Ninh.
Xuất phát từ thực tế nêu trên, việc nghiên cứu đề tài “Hoàn thiện hoạt động
quản lý chi trả bảo hiểm xã hội trên địa bàn thành phố Bắc Ninh, tỉnh Bắc Ninh"
là vấn đề cấp thiết, có ý nghĩa về mặt lý luận và thực tiễn.

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page 3

1.2 Mục tiêu nghiên cứu
1.2.1 Mục tiêu chung
Trên cơ sở đánh giá thực trạng công tác quản lý chi trả BHXH ở địa bàn
nghiên cứu, đề ra các giải pháp nhằm hoàn thiện hoạt động quản lý chi trả BHXH
tại thành phố Bắc Ninh, tỉnh Bắc Ninh.
1.2.2 Mục tiêu cụ thể
- Hệ thống hoá những vấn đề lý luận và thực tiễn liên quan đến BHXH và
hoạt động quản lý chi trả BHXH cho đối tượng và NLĐ.
- Đánh giá thực trạng hệ thống tổ chức quản lý chi trả BHXH và thực tế cơ
chế quản lý chi trả BHXH cho đối tượng và NLĐ ở thành phố Bắc Ninh hiện nay.
- Đề xuất các giải pháp để hoàn thiện hoạt động quản lý chi trả BHXH ở
thành phố Bắc Ninh tốt hơn, hiệu quả hơn trong thời gian tới.
1.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
1.3.1 Đối tượng nghiên cứu
Nghiên cứu các hoạt động quản lý chi trả BHXH của BHXH thành phố Bắc
Ninh, cơ chế chi trả và hệ thống đại lý chi trả BHXH; Công tác quản lý, tổ chức chi

tệ tập trung, quỹ này còn được bổ sung từ ngân sách Nhà nước khi cần thiết nhằm
đảm bảo đời sống cho NLĐ khi gặp phải những rủi ro, bất lợi. Chính nhờ những mối
quan hệ ràng buộc đó mà rủi ro, bất lợi của NLĐ được dàn trải, cuộc sống của NLĐ
và gia đình họ ngày càng được đảm bảo ổn định. Giới chủ cũng thấy mình có lợi và
được bảo vệ, sản xuất kinh doanh diễn ra bình thường. Vì vậy, nguồn quỹ tiền tệ tập
trung được thiết lập ngày càng lớn. Khả năng giải quyết các phát sinh lớn của quỹ
ngày càng đảm bảo (Nguyễn Văn Định, 2008; Giáo trình Bảo hiểm xã hội [25]).
Ngày nay, BHXH được nghiên cứu dưới nhiều góc độ khác nhau. Vì vậy, có
thể có nhiều định nghĩa khác nhau về BHXH. Cụ thể:
- Theo Giáo trình Bảo hiểm của trường Đại học Kinh tế quốc dân: “BHXH là

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page 5

sự đảm bảo thay thế hoặc bù đắp một phần thu nhập của NLĐ khi họ gặp phải những
biến cố làm giảm hoặc mất khả năng lao động, mất việc làm dẫn đến mất thu nhập
trên cơ sở hình thành và sử dụng một quỹ tiền tệ tập trung nhằm đảm bảo đời sống
cho NLĐ và gia đình họ, góp phần bảo đảm ASXH” (Nguyễn Văn Định, 2008; Giáo
trình bảo hiểm, [25]).
- Ở Việt Nam: "BHXH là sự đảm bảo thay thế hoặc bù đắp một phần thu
nhập của NLĐ khi họ bị giảm hoặc mất thu nhập do ốm đau, thai sản, TNLĐ -
BNN, thất nghiệp, hết tuổi lao động hoặc chết, trên cơ sở đóng vào quỹ BHXH"
(Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, 2006; Luật bảo hiểm xã hội
số 71/2006/QH11 ngày 29/6 [27]).
- Với góc độ tài chính, BHXH được định nghĩa là quá trình thành lập và sử
dụng quỹ tiền tệ dự trữ của cộng đồng những NLĐ, có sự bảo trợ của Nhà nước, để
san sẻ rủi ro, đảm bảo thu nhập cho họ và gia đình trong những trường hợp cần thiết
theo quy định của pháp luật; Ở góc độ pháp luật, BHXH là một chế độ pháp lý quy
định đối tượng, điều kiện, mức độ đảm bảo vật chất và các dịch vụ cần thiết bảo vệ
NLĐ và gia đình họ trong các trường hợp được Nhà nước xác định…(Trường Đào tạo

phải tham gia theo quy định của pháp luật. Việc tổ chức BHXH bắt buộc chủ yếu để
thực hiện mục đích ràng buộc trách nhiệm của NSDLĐ với NLĐ nhằm ổn định nguồn
thu, chi để phát triển BHXH bền vững. Thông qua đó, có thể đảm bảo đời sống cho
NLĐ, đảm bảo ASXH nói chung. BHXH tự nguyện là loại hình bảo hiểm mà NLĐ có
quyền tự quyết định tham gia hay không tham gia, được lựa chọn mức đóng, phương
thức đóng phù hợp, theo các quy định linh hoạt của pháp luật.
Thứ hai: c ăn cứ vào thời gian cân đối và hạch toán quỹ BHXH, có thể phân
loại BHXH thành BHXH ngắn hạn và BHXH dài hạn. BHXH ngắn hạn thường
dùng để chỉ nhóm các chế độ BHXH có thời hạn ngắn, trong khoảng một năm,
chủ yếu trên cơ sở tương trợ cộng đồng giữa những người tham gia bảo hiểm. Như
vậy, yếu tố thời gian đóng BHXH không phải là điều kiện cơ bản để đối tượng
hưởng loại chế độ bảo hiểm này. Nếu có, nó không nhằm mục đích cân đối thu
chi mà chủ yếu là điều kiện để hạn chế lạm dụng quỹ. Nhìn chung, đối tượng
hưởng BHXH ngắn hạn thường là những NLĐ trong độ tuổi lao động, đang có
quan hệ lao động. Do đó, việc hưởng các chế độ BHXH ngắn hạn chủ yếu là trợ cấp
một lần hoặc trong một thời gian ngắn, đã được xác định.
BHXH dài hạn thường được dùng để chỉ nhóm các chế độ BHXH dài hạn,
từ khi NLĐ bắt đầu tham gia cho đến khi quan hệ BHXH kết thúc, theo hình thức
lập quỹ tiết kiệm bắt buộc, có kết hợp với tương trợ cộng đồng. Đối tượng hưởng
BHXH dài hạn chủ yếu là NLĐ đã kết thúc quan hệ lao động, nghỉ việc hưởng
BHXH sau một thời gian dài đóng góp hoặc để lại phần đóng góp cho thân nhân
như một khoản thừa kế, hoặc cần phải tương trợ nuôi thân nhân…Do đó, bên cạnh

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page 7

một số ít trường hợp chi trả một lần, BHXH dài hạn thường chi trả trợ cấp trong
khoảng thời gian dài, khó xác định rõ thời gian hưởng của từng đối tượng.
Thứ ba, căn cứ vào tần suất chi trả bảo hiểm, có thể phân BHXH thành
các loại bảo hiểm một lần, bảo hiểm một thời kỳ và bảo hiểm thường xuyên.

tồn tích lại. Nguồn quỹ này do bên tham gia BHXH đóng góp là chủ yếu, ngoài ra còn
được sự hỗ trợ từ phía Nhà nước. Mục tiêu của BHXH nhằm thỏa mãn những nhu cầu
thiết yếu của NLĐ khi bị giảm hoặc mất thu nhập, mất việc làm (Nguyễn Văn Định,
2008; Giáo trình BHXH [25]).
Do đó, có thể thấy bản chất của BHXH chính là sự tập hợp và san sẻ các rủi ro
mang tính xã hội trên quy luật số lớn. Nguyên tắc số đông bù số ít trong BHXH thể
hiện thông qua việc tập hợp một quĩ tài chính từ đóng góp của NLĐ cần bù đắp hoặc
thay thế thu nhập. Xét về khía cạnh kinh tế, bản chất của BHXH là sự phân phối lại thu
nhập giữa những NLĐ với nhau và giữa NLĐ và NSDLĐ. Hoạt động phân phối lại
thu nhập này được Nhà nước điều tiết trên cơ sở là người có trách nhiệm điều hòa mối
quan hệ lợi ích giữa giới lao động và giới chủ sử dụng lao động, đồng thời là người hỗ
trợ và bảo hộ cho quỹ BHXH.
2.1.2 Vai trò

của bảo hiểm xã hội
Sự ra đời và phát triển của BHXH ngày càng khẳng định được vai trò của nó
trong đời sống kinh tế - chính trị và xã hội. Theo bài giảng BHXH của trường Đại
học Kinh tế quốc dân, vai trò của BHXH thể hiện trên nhiều phương diện trong
cuộc sống cũng như trong phát triển kinh tế - xã hội như sau:
2.1.2.1 Đối với NLĐ
BHXH bảo đảm bù đắp hoặc thay thế một phần thu nhập cho NLĐ, góp phần
ổn định thu nhập, từ đó góp phần ổn định cuộc sống cho NLĐ và gia đình họ khi NLĐ
gặp phải rủi ro hoặc các sự kiện bảo hiểm, như: ốm đau, tai nạn, thời kỳ mang thai,
hoặc về già… Bên cạnh đó, BHXH còn là chỗ dựa về mặt tâm lý để NLĐ yên tâm làm
việc, gắn bó với đơn vị mình công tác, tạo niềm tin cho họ trong cuộc sống tương lai.
Từ đó sẽ giúp họ phát huy khả năng sáng tạo trong lao động sản xuất, nâng cao năng
suất lao động và hiệu quả công tác.
2.1.2.2 Đối với NSDLĐ
BHXH góp phần kích thích NLĐ hăng hái lao động sản xuất nâng cao năng
suất lao động cá nhân và năng suất lao động xã hội, tăng hiệu quả sản xuất kinh

ngang và chiều dọc (Nguyễn Văn Định, 2008; Giáo trình BHXH, [25]).
Mối quan hệ giữa các bên tham gia BHXH thể hiện tính xã hội hóa, tính nhân đạo
và nhân văn cao cả của chính sách BHXH. NLĐ tham gia BHXH là nhằm bảo vệ quyền
lợi của mình, đồng thời góp phần thực hiện trách nhiệm của mình đối với cộng đồng và
xã hội. NSDLĐ tham gia BHXH là để quan tâm, chia sẻ rủi ro với NLĐ, nhưng cũng là
gián tiếp bảo vệ lợi ích của chính cơ quan và doanh nghiệp họ. Nhà nước thực hiện chính

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page 10

sách BHXH góp phần bảo vệ, ổn định cuộc sống của các thành viên trong xã hội, đảm
bảo công bằng xã hội, nhưng cũng là trong quản lý xã hội của Nhà nước.
2.1.3 Đối tượng và đối tượng tham gia BHXH
2.1.3.1 Đối tượng của BHXH
Đối tượng của BHXH là phần thu nhập của NLĐ bị biến động giảm hoặc
mất đi do bị giảm hoặc mất khả năng lao động, mất việc làm của những người
tham gia BHXH (Nguyễn Văn Định, 2008; Giáo trình BHXH, [25]).
2.1.3.2 Đối tượng tham gia BHXH
Theo Giáo trình Bảo hiểm của Trường Đại học kinh tế quốc dân, đối tượng tham
của BHXH là NLĐ và NSDLĐ. Họ là những người trực tiếp tham gia đóng góp tạo nên
quỹ BHXH với một khoản phần trăm nhất so với tiền lương của NLĐ theo quy định của
luật BHXH. Tuỳ theo điều kiện phát triển kinh tế - xã hội của mỗi nước mà đối tượng
này có thể là tất cả hoặc một bộ phận những NLĐ nào đó trong xã hội.
Hiện nay khi nền kinh tế phát triển nhu cầu sử dụng NLĐ trong và ngoài doanh
nghiệp nhà nước tăng lên rất nhiều thì đối tượng tham gia BHXH và đối tượng của
BHXH cũng được mở rộng ra. Vì vậy đối tượng tham gia của BHXH bao gồm:
Theo Luật BHXH, BHXH bắt buộc là loại hình BHXH mà NLĐ và NSDLĐ
phải tham gia; BHXH tự nguyện là loại hình BHXH mà NLĐ tự nguyện tham gia,
được lựa chọn mức đóng và phương thức đóng phù hợp với thu nhập của mình để
hưởng BHXH.

2.1.4 Quỹ bảo hiểm xã hội
2.1.4.1 Khái niệm và đặc điểm
Quỹ BHXH được quản lý thống nhất, dân chủ, công khai, minh bạch, được sử
dụng đúng mục đích, được hạch toán độc lập theo các quỹ thành phần của BHXH bắt
buộc, BHXH tự nguyện và bảo hiểm thất nghiệp (Quốc hội nước Cộng hoà xã hội
chủ nghĩa Việt Nam, 2006; Luật bảo hiểm xã hội số 71/2006/QH11 ngày 29/6 [27]).
Quỹ BHXH là quỹ tài chính độc lập, tập trung nằm ngoài ngân sách Nhà
nước. Quỹ có mục đích và chủ thể riêng. Mục đích tạo lập quỹ BHXH là dùng để
trợ cấp cho NLĐ, giúp họ ổn định cuộc sống khi gặp các sự kiện hoặc rủi ro. Chủ
thể của quỹ BHXH chính là những người tham gia đóng góp để hình thành quỹ, đó
có thể bao gồm cả: NLĐ, NSDLĐ và Nhà nước.
Theo Giáo trình bảo hiểm của Trường Đại học kinh tế quốc dân, Quỹ BHXH
có những đặc điểm chủ yếu sau

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page 12

- Quỹ ra đời, tồn tại và phát triển gắn với mục đích đảm bảo ổn định cuộc sống
cho NLĐ và gia đình họ khi gặp các biến cố, rủi ro làm giảm hoặc mất thu nhập từ
lao động. Hoạt động của quỹ không nhằm mục đích kinh doanh kiếm lời. Vì vậy,
nguyên tắc quản lý quỹ BHXH là cân bằng thu - chi.
- Quỹ BHXH là một quỹ tiền tệ tập trung, tồn tại trong một thời gian dài,
luôn vận động, biến đổi và thường có số dư tạm thời nhàn rỗi lớn. Quỹ BHXH được
tạo lập từ sự đóng góp của đông đảo người tham gia BHXH nên có quy mô rất lớn.
- Phân phối quỹ BHXH vừa mang tính chất hoàn trả, vừa mang tính chất
không hoàn trả. Tính chất hoàn trả thể hiện ở chỗ, NLĐ là đối tượng tham gia đóng
góp, đồng thời cũng là đối tượng được nhận trợ cấp, được chi trả từ quỹ BHXH. Tuy
nhiên thời gian trợ cấp và mức trợ cấp của mỗi người sẽ khác nhau, tuỳ thuộc vào
những biến cố hoặc rủi ro mà họ gặp phải, cũng như mức đóng góp và thời gian đóng
góp BHXH của họ. Tính không hoàn trả thể hiện ở chỗ, cùng tham gia và đóng góp

thuê mướn. Đồng thời còn góp phần giảm bớt tình trạng tranh chấp và thiết lập được mối
quan hệ tốt đẹp giữa chủ - thợ. Về phía NLĐ đóng góp để hình thành quỹ BHXH thực
chất là đóng góp cho mình để tự gánh chịu rủi ro của chính mình. Từ đó sẽ ràng buộc
được quyền lợi và nghĩa vụ của cả hai bên.
Quỹ BHXH được sử dụng chủ yếu cho các mục đích chi trả trợ cấp các chế
độ BHXH, chi hoạt động đầu tư quỹ nhàn rỗi; chi phí quản lý BHXH, chi khen
thưởng, đóng BHYT cho người đang hưởng lương hưu hoặc nghỉ việc hưởng trợ cấp
tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp hàng tháng (Quốc hội nước Cộng hoà xã hội
chủ nghĩa Việt Nam, 2006; Luật bảo hiểm xã hội số 71/2006/QH11 ngày 29/6 [27]).
Trong các nội dung chi nêu trên thì chi trả trợ cấp cho các chế độ
BHXH là lớn nhất và quan trọng nhất. Khoản chi này được thực hiện theo luật định
và phụ thuộc vào phạm vi trợ cấp của từng hệ thống BHXH. Về nguyên tắc, có thu
mới có chi, thu trước chi sau. Vì vậy, quỹ BHXH chỉ chi cho các chế độ trong
phạm vi có nguồn thu, về nguyên tắc thu của chế độ nào thì chi ở chế độ đó. Ngoài
ra, quỹ BHXH luôn có một bộ phận dự phòng và bộ phận này cũng được sử dụng
để chi phí cho hoạt động đầu tư quỹ nhàn rỗi để bảo toàn và tăng trưởng quỹ. Chi
quản lý cũng là một khoản chi tất yếu, song phải được quản lý chặt chẽ và tiết kiệm.
2.1.5 Hệ thống chế độ bảo hiểm xã hội
Theo Công ước số 102 của ILO tháng 6 năm 1952, hệ thống các chế độ
BHXH bao gồm:
1. Chế độ chăm sóc y tế

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page 14

2. Chế độ trợ cấp ốm đau
3. Chế độ trợ cấp thất nghiệp
4. Chế độ trợ cấp tuổi già
5. Chế độ trợ cấp tai nạn lao động hoặc bệnh nghề nghiệp
6. Chế độ trợ cấp gia đình


theo đúng quy định, được tổ chức theo ngành dọc từ trung ương đến địa phương,
nhằm đảm bảo quyền lợi cho người tham gia và thụ hưởng BHXH.
Chi trả trợ cấp BHXH luôn được coi là nhiệm vụ trọng tâm và có vai trò
quan trọng đối với hệ thống BHXH. Hoạt động chi trả có tác động trực tiếp đến
quyền lợi của NLĐ và gia đình họ. Sau khi đã hoàn thành nghĩa vụ đóng góp
BHXH theo quy định của luật pháp và khi đủ điều kiện để hưởng trợ cấp BHXH,
NLĐ và gia đình họ có quyền được hưởng trợ cấp từ quỹ BHXH.
Cơ quan BHXH là tổ chức sự nghiệp có nhiệm vụ tổ chức triển khai thực
hiện các chế độ BHXH theo quy định của Nhà nước thông qua hệ thống văn bản
pháp quy về BHXH, với nhiệm vụ chủ yếu quản lý nghiệp vụ BHXH gồm: quản
lý đối tượng, quản lý thu BHXH, quản lý đối tượng thụ hưởng BHXH, quản lý
việc thực hiện chi trả các chế độ cho NLĐ. Việc chi trả các chế độ BHXH
thường được cơ quan BHXH tổ chức theo mô hình thống nhất từ trung ương đến
địa phương, trong đó cơ quan BHXH trung ương sẽ có trách nhiệm hướng dẫn,
xét duyệt, cấp phát nguồn kinh phí để chi trả; còn cơ quan BHXH địa phương sẽ
chịu trách quản lý và chi trả trực tiếp hoặc gián tiếp cho các đối tượng hưởng
BHXH theo đúng chế độ, chính sách và quy định của cơ quan BHXH trung
ương.
2.1.6.2 Hoạt động quản lý chi trả bảo hiểm xã hội
Quản lý diễn ra trong tất cả mọi lĩnh vực hoạt động của con người, khi có
nhiều người liên kết hợp tác với nhau, diễn ra trên nhiều cấp độ khác nhau.
Quản lý được hiểu chung nhất là sự tác động của chủ thể quản lý lên đối tượng
quản lý nhằm đạt được những mục tiêu nhất định trong điều kiện tác động của
môi trường (Trường Đại học Kinh tế quốc dân, (2007); Giáo trình khoa học
quản lý, Nxb Khoa học kỹ thuật [32]).
Trong hệ thống quản lý BHXH có chủ thể quản lý là Nhà nước và đối
tượng quản lý là tất cả mọi đối tượng tham gia và hưởng BHXH. Nhà nước ủy
quyền cho BHXH quản lý toàn bộ hoạt động BHXH trên phạm vi cả nước với
hoạt động tổ chức từ trung ương đến địa phương. Cơ quan BHXH địa phương


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status