DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
Chữ cái viết tắt/ký hiệu Cụm từ đầy đủ
BHXH Bảo hiểm xã hội
BNN Bệnh nghề nghiệp
CNTT Công nghệ thông tin
DSPHSK Dưỡng sức phục hồi sức khỏe
NSNN Ngân sách Nhà nước
TNLĐ Tai nạn lao động
UBND Ủy ban nhân dân
MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 1: Tổng hợp đối tượng hưởng BHXH bắt buộc từ năm 2009 đến năm
2013……………………………………………………………………………….26
Bảng 2: Tổng hợp chi trả các chế độ BHXH bắt buộc từ năm 2009 đến năm
2013……………………………………………………………………………….27
Bảng 3: Bảng tổng hợp chi ốm đau, thai sản, nghỉ DSPHSK giai đoạn 2009 –
2013……………………………………………………………………………….29
Bảng 4: Bảng tổng hợp chi TNLĐ – BNN giai đoạn 2009 – 2013………… 30
Bảng 5: Bảng tổng hợp chi hưu trí, tử tuất giai đoạn 2009 – 2013………… 32
LỜI MỞ ĐẦU
BHXH là một chính sách lớn đối với các nước trên thế giới nói chung và đối
với Đảng và Nhà nước ta nói riêng, BHXH mang trong nó bản chất nhân văn sâu
sắc, vì cuộc sống an lành, hạnh phúc của con người. BHXH đã góp phần ổn định
tài chỉnh cho người tham gia trước tổn thất do rủi do xảy ra, đề phòng và hạn chế
tổn thất giúp cho cuộc sống con người an toàn hơn, xã hội an sinh hơn, giảm bớt
nỗi lo cho mỗi cá nhân, mỗi doanh nghiệp, là chỗ dựa tinh thần cho mọi cá nhân và
tổ chức.
Bảo hiểm xã hội tỉnh Thái Nguyên trực thuộc Bảo hiểm xã hội Việt Nam là
một trong những bộ phân nằm trong hệ thống của BHXH Việt Nam. Qua nhiều
năm xây dựng và phát triển, BHXH tỉnh Thái Nguyên đã đạt được những thành
dịch vụ việc làm, chăm sóc y tế cho họ trên cơ sở quỹ BHXH do các bên tham gia
đóng góp, nhằm ổn định đời sống cho người lao động và gia đình người lao đọng,
đảm bảo an sinh xã hội.
Theo nghĩa hẹp, BHXH là sự đảm bảo thay thế hoặc bù đắp một phần thu
nhập cho người lao động và gia đình họ từ quỹ BHXH do các bên tham gia đóng
góp, khi người lao động tham gia BHXH bị giảm hoặc mất thu nhập từ lao động do
các sự kiện bảo hiểm xảy ra, nhằm đảm bảo ổn định đời sống gia đình người lao
động và đảm bảo an sinh xã hội.
Trong Luật Bảo hiểm xã hội, khái niệm BHXH được hiểu theo nghĩa hẹp
này. Luật Bảo hiểm xã hội được Quốc hội thông qua ngày 29 tháng 6 năm 2006 đã
xác định “Bảo hiểm xã hội là sự đảm bảo thay thế hoặc bù đắp một phần thu nhập
của người lao động khi họ bị giảm hoặc mất thu nhập do ốm đau, thai sản, tai nạn
lao động, bệnh nghề nghiệp, thất nghiệp, hết tuổi lao động hoặc chết”.
1.1.2. Bản chất của Bảo hiểm xã hội.
- BHXH là nhu cầu khách quan , đa dạng và phức tạp của xã hội mà sản xuất hang
hoá hoạt động theo cơ chế thị trường, mối quan hệ thuê mướn lao động phát triển
đến mức độ nào đó. Kinh tế càng phát triển thì BHXH càng đa dạng và hoàn thiện.
Vì thế có thể kinh tế là nền tảng của BHXH hay BHXH không vượt quá trạng thái
kinh tế của mỗi nước .
- Mối quan hệ giữa các bên trong BHXH phát sinh trên cơ sở quan hệ lao động và
6
diễn ra giữa ba bên: bên tham gia BHXH, bên BHXH và bên được BHXH .Bên
tham gia BHXH có thể chỉ là người lao động hoặc cảc người lao động và người sử
dụng lao động .Bên BHXH (bên nhận nhiệm vụ BHXH ) thông thường là các cơ
quan chuyên trách do nhà nước lập ra và bảo trợ. Bên được BHXH là người lao
động và gia đình họ khi có đủ điều kiện rang buộc cầc thiết .
- Những biến cố làm giảm hoặc mất khả năng lao động ,mất việc làm trong BHXH
là người lao động có thể là những rủi ro ngẫu nhiên trái với ý muốn của con người
như: Ốm đau, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp hoặc cũng có thể là những
trường hợp xảy ra không ngẫu nhiên như: Tuổi già, thai sản …Đồng thời những
nhau.
1.1.4. Quỹ BHXH
1.1.4.1. Khái niệm quỹ BHXH
Sự ra đời, tồn tại và phát triển quỹ BHXH phụ thuộc vào trình độ phát
triển kinh tế - xã hội của từng quốc gia vào điều kiện lịch sử trong thời kỳ nhất
định của đất nước. Trình độ kinh tế - xã hội càng phát triển thì các chế độ BHXH
dược áp dụng càng mở rộng, nhu cầu thoả mãn về BHXH đối với người lao động
càng được nâng cao và khi kinh tế phát triển,người lao động có thu nhập cao, càng
có điều kiện tham gia BHXH.
Quỹ BHXH là một quỹ tiền tệ tập trung giữ vị trí là khâu tài chính trung
gian trong hệ thống tài chính quốc gia. Nó ra đời tồn tại và gắn với mục đích bảo
đảm ổn định cuộc sống cho người lao động và gia đình họ khi gặp rủi ro làm giảm
hoặc mất thu nhập từ lao động, mà không nhằm mục đích kinh doanh kiếm lời.
Như vậy, Quỹ BHXH là quỹ tài chính độc lập, tập trung nằm ngoài Ngân sách Nhà
nước.
8
1.1.4.2. Đặc điểm quỹ BHXH
Quỹ bảo hiểm xã hội mang đầy đủ những đặc trưng cơ bản nhất của một
quỹ, ngoài ra do đặc thù của BHXH mà quỹ BHXH có những đặc trưng riêng có
sau:
- Quỹ BHXH là quỹ an toàn về tài chính.
Nghĩa là, phải có một sự cân đối giữa nguồn vào và nguồn ra của quỹ
BHXH. Chức năng của bảo hiểm xã hội là đảm bảo an toàn về thu nhập cho người
lao động và để thực hiện chức năng này, đến lượt nó, BHXH phải tự bảo vệ mình
trước nguy cơ mất an toàn về tài chính. Để tạo sự an toàn này, về nguyên tắc tổng
số tiền hình thành nên quỹ phải bằng tổng số tiền chi ra từ quỹ. Tuy nhiên, không
phải cứ đồng tiền nào vào quỹ là được dùng để chi trả ngay ( nếu vậy đã không tồn
tại cái gọi là quỹ BHXH ) mà phải sau một khoảng thời gian nhất định, đôi khi
tương đối dài ( như đối với chế độ hưu trí ) số tiền ấy mới được chi ra, cùng thời
gian ấy đồng tiền luôn biến động và có thể bị giảm giá trị do lạm phát, điều này đặt
hưởng, thời hạn hưởng BHXH, nghĩa vụ và mức đóng góp cho từng trường hợp cụ
thể phù hợp với quy luật khách quan của xã hội và phù hợp với điều kiện kinh tế-
xã hội của quốc gia.
Chế độ BHXH thường được biểu hiện dưới dạng các văn bản pháp luật như
Luật, Nghị định, Điều lệ, các thông tư Tuy nhiên dù có cụ thể hoá đến đâu thì các
chế độ BHXH cũng khó có thể bao hàm được đầy đủ mỗi chế độ thường nắm vững
những vấn đề mang tính cốt lõi của chính sách BHXH, để đảm bảo tính đúng đắn
và nhất quán trong toàn bộ hệ thống các chế độ BHXH.
Các chế độ BHXH có tính pháp lý cao nhưng để thực thi được phải đặt trong
tổng thể hệ thống BHXH. Thông qua hệ thống BHXH có thể đánh giá được trình
10
độ quản lý, sức mạnh kinh tế và tính ưu việt của một thể chế. Trong hệ thống
BHXH, các chế độ BHXH giữ vai trò trung tâm. Mọi hoạt động của hệ thống
BHXH phải xoay quanh các hệ thống BHXH.
1.2.2. Cơ sở xây dựng các chế độ BHXH
Một chế độ BHXH phải được xây dựng chặt chẽ để tránh những lạm dụng
nhưng đồng thời cùng không làm tổn hại tới lợi ích vật chất và tinh thần của các
bên tham gia BHXH. Ngoài ra cũng phải xem xét tới những công ước những quy
định quốc tế khi xây dựng chế độ BHXH. Nhìn chung một chế độ BHXH được xác
định bởi các yếu tố chính sau:
- Đối tượng được hưởng BHXH.
- Các trường hợp được BHXH
- Điều kiện hưởng BHXH
- Mức trợ cấp và thời hạn hưởng trợ cấp BHXH
1.2.2.1. Theo công ước quốc tế
Năm 1952, Nghị viện của Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO) đã thông qua
công ước 102 về an toàn xã hội (những tiêu chuẩn tối thiểu). Có thể nói đây là
công ước quốc tế có những nội dung đầy đủ nhất, phát triển hoá những tiêu chuẩn
quốc tế đã có đến thời điểm đó, mở ra một cơ cấu thống nhất và có sự phối hợp
trong lĩnh vực BHXH giữa các thành viên của ILO. Công ước 102 có hiệu lực từ
tượng khác lại không được hưởng. Ví dụ: trong chế độ thất nghiệp thì công chức
không thuộc đối tượng hưởng
* Các trường hợp được BHXH
Các trường hợp được BHXH thường liên quan đến những sự kiện gọi là "rủi
ro xã hội". Những rủi ro này có thể phát sinh trong quá trình lao động hoặc trong
cuộc sống của người lao động. Tuy nhiên, không phải bắt cứ "rủi ro xã hội" nào
cũng được bảo hiểm. Điều này phụ thuộc vào điều kiện kinh tế - xã hội và khả
năng tài chính của quỹ BHXH.
* Các điều kiện hưởng
Để được hưởng các chế độ BHXH, người lao động phải có đủ những điều
kiện nhất định như:
Phải tham gia BHXH, phải đóng BHXH và phải có những rủi ro xảy ra. Tuỳ
theo từng loại chế độ mà có những điều kiện riêng kèm theo như:
12
- Điều kiện sinh học được coi là điều kiện mang tính khách quan khi xây
dựng chế độ BHXH. Nó bao gồm các yếu tố về tuổi già, điều kiện về giới tính của
người lao động, ngoài ra sự kiện sinh đẻ ở nữ giới, hiện tượng ốm đau xảy ra bất
thường đối với người lao động là nguyên nhân làm suy giảm tự nhiên khả năng lao
động của con người và làm ảnh hưởng đến "tuổi thọ lao động".
- Điều kiện lao động và môi trường lao động: Đây là yếu tố có liên quan tới
"tuổi thọ lao động" của người lao động, trong điều kiện làm việc này thì đã đủ già
phải nghỉ việc hoặc chuyển việc, nhưng trong điều kiện làm việc khác thì vẫn được
coi là trẻ, vẫn tiếp tục làm việc được.
- Điều kiện kinh tế- xã hội: Đây không phải là căn cứ quan trọng để xây
dựng các chế độ BHXH nhưng lại là điều kiện để thực hiện chế độ BHXH. Các
điều kiện kinh tế- xã hội có thể là:
+ Khả năng hoặc tiềm lực phát triển kinh tế của đất nước
+ Trình độ quản lý lao động, quản lý xã hội.
+ Các chính sách dân số của quốc gia
+ Các chính sách lao động việc làm.
thời gian quy định
1.3.2. Vai trò của quản lý chi các chế độ bảo hiểm xã hội
1.3.2.1. Đối với đối tượng thụ hưởng.
Thực hiện tốt công tác quản lý chi là trực tiếp đảm bảo quyền lợi của người
được thụ hưởng các chế độ bảo hiểm xã hội, đầy đủ, kịp thời thuận tiện tức khi xảy
ra rủi ro thì sau nhiều nhất ba ngày người thụ hưởng sẽ được chi trả luôn, và tiền
trợ cấp đó sẽ đến ngay người thụ hưởng
1.3.2.2. Đối với hệ thống bảo hiểm xã hội
- Quản lý quỹ được an toàn, không bị thất thoát, đặc biệt là quỹ tiền mặt, đây vừa là
nhiệm vụ và cũng là mục tiêu của quản lý chi
- Tiết kiệm chi phí quản lý hành chính, chi phí đầu tư xây dựng cơ bản,
góp phần cân đối quỹ bảo hiểm xã hội, nâng cao hiệu quả sử dụng các quỹ
1.3.2.3. Đối với hệ thống an sinh xã hội.
14
Thực hiện tốt công tác quản lý chi là góp phần thực hiện tốt chính sách an
sinh xã hội cơ bản nhất của quốc gia vào phát triển con người, thúc đẩy tăng
trưởng kinh tế và phát triển đất nước bền vững, nó được thể hiện ở các mặt sau:
- Góp phần thực hiện tốt sự đảm bảo an toàn đời sống cho người lao động tham gia
bảo hiểm xã hội , nó liên quan trực tiếp đến an toàn cuộc sống và phát triển của con
người và của người lao động
- Góp phần thực hiện tốt mục tiêu phát triển đất nước là dân giàu nước mạnh, xã hội
công bằng, dân chủ văn minh
- Thực hiện tốt công tác quản lý chi là đảm bảo cho quỹ bảo hiểm xã hội được an
toàn và phát triển bền vững, điều đó sẽ tạo động lực và là yếu tố góp phần tăng
trưởng kinh tế, phát triển đất nước bền vững
1.3.2.4. Đối với xã hội
Thực hiện công tác quản lý chi góp phần đam r bảo an ninh chính trị, trật
tự an toàn xã hội, thể hiện ở các mặt sau
- Góp phần trực tiếp vào việc đáp ứng nhu cầu cần thiết nhất của con người, của
người lao động
mất mát, nhưng đồng thời cũng giảm được các chi phí, tiết kiệm cho quỹ BHXH.
1.3.5. Quy trình chi trả các chế độ BHXH
Tổ chức bộ máy BHXH được thành lập từ Trung ương xuống địa phương.
Cơ quan BHXH trung ương có trách nhiệm ban hành, hướng dẫn quy trình chi trả,
đảm bảo đầy đủ, kịp thời nguồn kinh phí để thực hiện chi trả các chế độ BHXH,
kiểm tra quá trình thực hiện công tác chi trả của cơ quan BHXH địa phương và
quản lý chặt chẽ đối tượng được hưởng BHXH, nguồn kinh phí chi trả. Cơ quan
BHXH địa phương trực tiếp thực hiện nhiệm vụ chi trả chế độ BHXH theo đúng
quy trình chi trả, chế độ kế toán, báo cáo thống kê theo quy định của Nhà nước và
16
quy định của cơ quan BHXH Trung ương. Quy trình chi trả các chế độ BHXH
được thực hiện như sau:
Một là, quản lý đối tượng: Đối tượng hưởng các chế độ BHXH thường được
chia ra đối tượng hưởng chế độ dài hạn và đối tượng hưởng trợ cấp ngắn hạn.
Đối tượng hưởng chế độ dài hạn bao gồm những người hưởng các chế độ
hưu trí, TNLĐ-BNN, trợ cấp tàn tật, trợ cấp tuất. Đối tượng hưởng trợ cấp ngắn
hạn bao gồm những người hưởng các chế độ ốm đau, thai sản, trợ cấp mai táng phí
và trợ cấp 01 lần. Quản lý đối tượng là khâu đầu tiên trong quy trình chi trả nhằm
đảm bảo cho công tác chi trả được thực hiện đúng, đủ.
Hai là, phân cấp chi trả: Thông thường hệ thống BHXH được tổ chức theo
nhiều cấp từ Trung ương xuống địa phương. Trong đó mỗi cấp vừa chịu sự ràng
buộc bởi các chế độ, thể lệ chung, vừa có tính chất tự chủ. Phân cấp chi trả được
hiểu là sự phân định phạm vị, trách nhiệm, quyền hạn và các chế độ BHXH của
các cấp cơ quan BHXH trong việc tổ chức thực hiện công tác chi trả chế độ
BHXH.
Ba là, lập, xét duyệt dự toán chi BHXH: Việc lập dự toán chi đúng đắn dựa
trên các báo cáo về số đối tượng tăng, giảm và có mặt thường xuyên trong kỳ có
một ý nghĩa quan trọng trong việc bố trí kinh phí đầy đủ, kịp thời cho quá trình chi
trả. Bởi vì quỹ BHXH được quản lý tập trung, thống nhất tại cơ quan BHXH cấp
Trung ương, trong thời gian tạm thời nhàn rỗi, quỹ BHXH được thực hiện các biện
+ Phòng Kế hoạch tài chính
+ Phòng Công nghệ thông tin
+ Phòng Kiểm tra
+ Phòng Tiếp nhận-Quản lý hồ sơ
+ Phòng Chế độ BHXH
+ Phòng Giám định BHYT
+ Phòng Cấp sổ, thẻ
Bảo hiểm xã hội 9 Huyện, Thị, Thành phố
+ BHXH TP Thái Nguyên
+ BHXH huyện Phú Bình
+ BHXH huyện Phổ Yên
+ BHXH huyện Phú Lương
+ BHXH Thị xã Sông Công
+ BHXH huyện Đại Từ
+ BHXH huyện Đồng Hỷ
+ BHXH huyện Đinh Hóa
+ BHXH huyện Võ Nhai
2.1.2. Chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của cơ quan BHXH tỉnh Thái Nguyên
2.1.2.1. Chức năng
Bảo hiểm xã hội tỉnh Thái Nguyên là cơ quan trực thuộc Bảo hiểm xã hội
Việt Nam, chịu sự quản lý trực tiếp, toàn diện của Tổng Giám đốc Bảo hiểm xã hội
Việt Nam và chịu sự quản lý hành chính Nhà nước trên địa bàn tỉnh của UBND
tỉnh Thái Nguyên, có nhiệm vụ tổ chức thực hiện chế độ chính sách của Đảng và
Nhà nước về Bảo hiểm xã hội, Bảo hiểm y tế, gồm: Chế độ Ốm đau, chế độ Thai
19
sản, chế độ Tai nạn lao động, Bệnh nghề nghiệp, chế độ Hưu trí, chế độ Tử tuất,
Bảo hiểm xã hội tự nguyện, Bảo hiểm thất nghiệp và Khám chữa bệnh Bảo hiểm y
tế cho người lao động và nhân dân trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên.
2.1.2.2. Nhiệm vụ, quyền hạn của BHXH tỉnh Thái Nguyên
Hướng dẫn và tổ chức tiếp nhận hồ sơ, giải quyết hưởng các chế độ BHXH,
BHXH tỉnh và đối tượng đó sẽ không có tên trong danh sách chi trả của tháng liền
kề. Đối tượng này muốn nhận lại trợ cấp thì phải làm đơn có xác nhận của UBND
xã và đại lý chi trả tại nơi cư trú gửi BHXH huyện, BHXH huyện báo cáo BHXH
tỉnh để giải quyết.
2.2.2. Phân cấp chi trả
Việc chi trả lương hưu và trợ cấp BHXH trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên
được phân cấp như sau:
* BHXH tỉnh: Trực tiếp xét duyệt và chi trả các chế độ trợ cấp ốm đau, thai
sản, nghỉ DSPHSK, trợ cấp BHXH một lần cho người lao động làm việc trong các
đơn vị do BHXH tỉnh quản lý thu và ghi sổ BHXH, chi trả trợ cấp một lần cho đối
tượng nghỉ việc theo khoản a điểm 7 mục II của Thông tư số 07/2003/TT-
BLĐTBXH ngày 12/3/2003 của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội.
* BHXH huyện:
21
+ Tổ chức xét duyệt và chi trả trợ cấp ốm đau, thai sản , nghỉ DSPHSK cho
người lao động làm việc trong các đơn vị do BHXH huyện quản lý thu và ghi sổ
BHXH và những đơn vị do BHXH tỉnh uỷ quyền.
+ Thực hiện chi trả các chế độ trợ cấp một lần cho người lao động do BHXH
huyện quản lý thu và ghi sổ BHXH và những đơn vị do BHXH tỉnh, thành phố uỷ
quyền.
+ Thực hiện chi trả các chế độ BHXH hàng tháng cho các đối tượng hưởng
lương hưu, trợ cấp BHXH trên địa bàn quản lý.
2.2.3. Lập, xét duyệt dự toán chi BHXH
- Hàng năm BHXH huyện lập dự toán kinh phí các chế độ BHXH gửi
BHXH tỉnh. Trong năm có biến động phát sinh chi ngoài kế hoạch được duyệt,
BHXH huyện phải báo cáo, giải trình để BHXH tỉnh xem xét, cấp bổ sung kinh
phí, đảm bảo đủ nguồn chi trả cho đối tượng.
- Trên cơ sở tổng hợp dự toán chi được duyệt của BHXH huyện và số chi
trực tiếp do BHXH tỉnh đảm nhận BHXH tỉnh lập dự toán chi các chế độ BHXH
trên địa bàn quản lý gửi BHXH Việt Nam. Trong năm thực hiện nếu có biến động
trực tiếp phải được thực hiện bởi ít nhất là hai cán bộ của BHXH huyện. Tại
BHXH tỉnh Thái Nguyên, ngay từ ngày thành lập đến nay đã thực hiện phương
thức chi trả trực tiếp này trên toàn bộ 9 huyên, thành phố, thị xã và chỉ có một số
xã thuộc các huyện ở những địa bàn nhỏ lẻ do xá cử đại lý chi.
2.2.4.2. Chi trả các chế độ trợ cấp 1 lần
*Tại BHXH tỉnh:
23
Thực hiện chi trả trợ cấp cho người lao động làm việc ở những đơn vị do
BHXH tỉnh trực tiếp thu và gi sổ BHXH và những đối tượng hưởng trợ cấp BHXH
một lần sau khi nghỉ việc về nơi cư trú theo khoản a, điểm 7, mục II Thông tư số
07/2003/TT-BLĐTBXH ngày 12/3/2003. Căn cứ vào Quyết định và danh sách đối
tượng hưởng trợ cấp BHXH một lần để gửi giấy báo lĩnh tiền cho đối tượng và trực
tiếp chi trả cho đối tượng. Uỷ quyền cho BHXH huyện chi trả trợ cấp BHXH một
lần cho người lao động làm việc trong những đơn vị có trụ sở xa trung tâm tỉnh.
*Tại BHXH huyện:
Căn cứ Quyết định va danh sách đối tượng hưởng trợ cấp BHXH một lần
do BHXH tỉnh gửi, BHXH huyện kiểm tra, gửi giấy báo lĩnh tiền cho đối tượng và
chi trả trực tiếp cho đối tượng làm việc ở những đơn vị do BHXH huyện trực tiếp
thu và ghi sổ BHXH; những đơn vị do BHXH tỉnh uỷ quyền chi trả. Thực hiện chi
trả trực tiếp chế độ trợ cấp BHXH một lần cho thân nhân những đối tượng đang
hưởng chế độ BHXH chết, chế độ mai táng phí, tuất một lần.
2.2.4.3. Chi trả trợ cấp ốm đau, thai sản và nghỉ DSPHSH
Hàng tháng hoặc quý, đơn vị sử dụng lao động tập hợp chứng từ như giấy
chứng nhận nghỉ ốm hưởng BHXH, giấy khai sinh lập 3 Danh sách người lao
động hưởng trợ cấp BHXH (mẫu C 04-BH) gửi cp quan BHXH nơi trực tiếp thu và
ghi sổ BHXH để giải quyết. Cơ quan BHXH tiếp nhận hồ sơ giải quyết trợ cấp ốm
đau, thai sản, nghỉ DSPHSK tổng hợp, đối chiếu xác nhận số đã nộp BHXH để làm
căn cứ xét duyệt. Căn cứ vào báo cáo tổng hợp và danh sách người lao động hưởng
trợ cấp BHXH đã được duyệt (riêng chứng từ chi nghỉ DSPHSK phải kèm theo
quyết định của đơn vị sử dụng lao động) chuyển tiền và uỷ quyền cho đơn vị sử