Sinh viên: Phạm Đức Minh - Lớp: K43-01.03
LỜI MỞ ĐẦU
V n giáo d c là v n c a m i th i i, m i qu c gia dân t c vàấ đề ụ ấ đề ủ ọ ờ đạ ọ ố ộ
c ng là c a m i nhà, m i ng i. Không ch là chi n l c Qu c sách" mà cònũ ủ ọ ọ ườ ỉ ế ượ ố
là chuy n th ng ngày c a t ng gia ình. ệ ườ ủ ừ đ
Tuy th vi c nh n th c và làm công tác giáo d c không ph i qu c giaế ệ ậ ứ ụ ả ố
nào c ng gi ng nhau. Nh ng t t c cùng h ng v m t i u b t bi n ó làũ ố ư ấ ả ướ ề ộ đề ấ ế đ
nh n th c th gi i c i t o nó nh m ph c v cu c s ng. Các b c v nhânậ ứ ế ớ để ả ạ ằ ụ ụ ộ ố ậ ĩ
trong ho t ng và lãnh o cách m ng c a mình ã xác nh vai trò v tríạ độ đạ ạ ủ đ đị ị
giáo d c là nhân t thi t y u m ng cho s nh n th c và c i t o th gi iụ ố ế ế ở đườ ự ậ ứ ả ạ ế ớ
ng th i c ng là v n có ý ngh a s ng còn c a cu c cách m ng. Các Mácđồ ờ ũ ấ đề ĩ ố ủ ộ ạ
cho r ng "Ch có cái ch a bi t, ch không có cái không bi t". Còn V.I. Lê-ằ ỉ ư ế ứ ế
Nin thì: "H c, h c n a, h c mãi". Ðây là m t m nh có tính chi n l c thọ ọ ữ ọ ộ ệ đề ế ượ ể
hi n t t ng quan i m, t m quan tr ng c a giáo d c i v i cách m ng. Chệ ư ưở để ầ ọ ủ ụ đố ớ ạ ỉ
có h c m i có th gi i quy t c m i chuy n c p bách và b o v v ng ch cọ ớ ể ả ế đượ ọ ệ ấ ả ệ ữ ắ
thành qu cách m ng m t cách t t nh t. Vi t Nam ngay sau khi Cách m ngả ạ ộ ố ấ Ở ệ ạ
tháng Tám thành công Bác H ã coi "D t" là m t trong ba th gi c c c kồ đ ố ộ ứ ặ ự ỳ
nguy hi m c a dân t c c n ph i tiêu tr ngay. D t là m t th gi c vô hình c nể ủ ộ ầ ả ừ ố ộ ứ ặ ả
tr cách m ng h t s c tai h i. B i vì "M t dân t c d t là m t dân t c y u",ở ạ ế ứ ạ ở ộ ộ ố ộ ộ ế
"d t thì d i, d i thì hèn". Theo Bác: "m t ch m i ra i, i u c n thi tố ạ ạ ộ ế độ ớ đờ đề ầ ế
u tiên là nhanh chóng xóa b n n giáo d c nô l , Th c dân Pháp mu n làmđầ ỏ ề ụ ệ ự ố
cho dân ta ngu tr " để ị
1
Sinh viên: Phạm Đức Minh - Lớp: K43-01.03
Ng i ã xác nh ườ đ đị v trí, vai trò c a giáo d c ị ủ ụ và ào t o là b c uđ ạ ướ đầ
tiên c a s s ng còn cho m t qu c gia. Ngay sau khi h n m t tháng củ ự ố ộ ố ơ ộ đọ
"Tuyên ngôn Ð c l p" Ng i ã nói: "Nay chúng ta giành quy n c l p. M tộ ậ ườ đ ề độ ậ ộ
trong nh ng công vi c ph i th c hi n c p t c trong lúc này là nâng cao dânữ ệ ả ự ệ ấ ố
trí" vì "N c nhà c n ph i ki n thi t. Ki n thi t c n ph i có nhân tài". Bácướ ầ ả ế ế ế ế ầ ả
nh n m nh: "Bây gi xây d ng kinh t , không có cán b không làm c.ấ ạ ờ ự ế ộ đượ
Không có giáo d c, không có cán b thì c ng không nói gì n kinh t , v nụ ộ ũ đế ế ă
Chương 3: Một số giải pháp nhằm tăng cường quản lý chi NSNN cho
giáo dục THPT tại thành phố Hải Phòng trong thời gian tới
Do hiểu biết và kinh nghiệm còn hạn chế, nên bài luận văn không thể
tránh được sai sót, vì vậy em rất mong nhận được ý kiến đóng góp của toàn
các thầy cô và các bạn.
Cuối cùng em xin cảm ơn sự hướng dẫn nhiệt tình của thầy giáo, Tiến
sĩ. Đặng Văn Du và các thầy cô khác trong khoa Tài Chính Công, các cô chú
trong phòng Ngân sách và phòng Văn - xã, sở Tài chính Hải Phòng đã giúp
đỡ tận tình giúp em hoàn thành bài luận văn này.
3
Sinh viên: Phạm Đức Minh - Lớp: K43-01.03
CHƯƠNG 1
GIÁO DỤC ĐÀO TẠO VÀ QUẢN LÝ CHI THƯỜNG XUYÊN
NGÂN SÁCH CHO GIÁO DỤC ĐÀO TẠO
1.1 - Giáo dục đào tạo đối với sự phát triển kinh tế, xã hội
1.1.1 - Nhận thức chung về Giáo dục đào tạo
Theo nghĩa rộng, giáo dục là sự truyền đạt kinh nghiệm, trí tuệ của thế
hệ trước cho thế hệ sau những kinh nghiệm sản xuất, đời sống, sinh hoạt.
Theo nghĩa hẹp, giáo dục là quá trình được tổ chức có ý thức, hướng tới mục
đích khơi gợi hoặc biến đổi nhận thức, năng lực, tình cảm, thái độ của người
dạy và người học theo hướng tích cực. Nghĩa là góp phần hoàn thiện nhân
cách người học bằng những tác động có ý thức từ bên ngoài, góp phần đáp
ứng các nhu cầu tồn tại và phát triển của con người trong xã hội.
Giáo dục đào tạo không chỉ bao gồm việc dạy và học mà còn mang ý
nghĩa sâu sắc hơn nhưng ít hữu hình hơn, đó là quá trình truyền thụ, phổ biến
tri thức, những suy luận đúng đắn và sự hiểu biết. Có thể nói rằng, giáo dục là
nền tảng cho việc truyền thụ, phổ biến văn hóa từ thế hệ này đến thế hệ khác.
Giáo dục cũng là một phương tiện để đánh thức và khơi gợi khả năng, năng
lực tiềm ẩn của chính mỗi cá nhân, đánh thức trí tuệ của mọi người. Việc ứng
dụng phương pháp giáo dục, nghiên cứu mối quan hệ giữa dạy và học giúp
hàng năm, do Sở Giáo dục và Đào tạo các địa phương chủ trì.
- Giáo dục chuyên biệt:
• Trung học phổ thông chuyên, năng khiếu: Từ năm 1966, hệ
thống trung học phổ thông chuyên được lập ra, bắt đầu với
những lớp chuyên Toán tại các trường đại học lớn về khoa
học cơ bản, sau đó các trường chuyên được thiết lập rộng rãi
tại tất cả các thành phố thành. Để được vào học tại các trường
chuyên, học sinh tốt nghiệp cấp II phải thoả mãn các điều
kiện về học lực, hạnh kiểm ở cấp II và đặc biệt là phải vượt
5
Sinh viên: Phạm Đức Minh - Lớp: K43-01.03
qua các kỳ thi tuyển chọn đầu vào tương đối khốc liệt của các
trường này.
• Trường phổ thông dân tộc nội trú: Đây là các trường nội trú
dặc biệt, có thể là cấp II hoặc có thể là cấp III. Các trường
này dành cho con em các dân tộc thiểu số, vùng sâu, vùng xa,
vùng đặc biệt khó khăn về kinh tế - xã hội nhằm bồi dưỡng
nguồn nhân lực, tạo nguồn cán bộ cho các địa phương này.
• Trường giáo dưỡng: Đây là loại hình trường đặc biệt dành
cho các thanh thiếu niên hư hỏng, phạm tội. Trong trường,
các học sinh này được học văn hoá, được dạy nghề, giáo dục
đạo đức để có thể ra trường, về địa phương sau một vài năm.
Các năm trước, các trường loại này do Bộ Công an quản lý,
nhưng bây giờ, Bộ Lao động - Thương binh - xã hội quản lý.
- Chương trình sau phổ thông:
• Dự bị đại học: Các học sinh dân tộc ít người nếu không trúng
tuyển vào đại học có thể theo học tại các trường dự bị đại
học. Sau một năm học tập, các học sinh này có thể chọn một
trong các trường đại học trong cả nước để theo học (Trừ Đại
học Ngoại thương và các trường thuộc ngành quân sự).
và Đào tạo Việt Nam có dự định thay đổi trong cách tuyển
chọn nhằm nâng cao chất lượng nghiên cứu sinh. Thời gian
làm nghiên cứu sinh thường là 4 năm với người có bằng cử
nhân, kỹ sư và 3 năm với người có bằng thạc sĩ. Tuy nhiên,
thời gian làm nghiên cứu sinh còn phụ thuộc vào ngành học
và loại hình học (học tập trung hay không tập trung). Sau khi
hoàn thành thời gian và bảo vệ thành công luận án, các
nghiên cứu sinh sẽ được cấp bằng Tiến sĩ.
1.1.2 - Vai trò của giáo dục đối với sự phát triển kinh tế, xã hội
Trong thời đại công nghiệp hóa, hiện đại hóa hiện nay, giáo dục đào
tạo có vai trò hết sức quan trọng đối với sự phát triển của xã hội và tăng
trưởng kinh tế của đất nước. Một đất nước sẽ không thể đạt được nền kinh tế
vững mạnh và xã hội văn minh nếu không có một nguồn nhân lực phát triển
cả về thể lực lẫn trí lực. Quốc gia nào có nền giáo dục hiện đại và phát triển
7
Sinh viên: Phạm Đức Minh - Lớp: K43-01.03
thì đồng nghĩa với việc quốc gia đó có tầng lớp trí thức đông đảo, tạo điều
kiện thuận lợi để tiến sâu vào nền khoa học kỹ thuật đang phát triển của thế
giới, không ngừng đưa nền kinh tế phát triển.
Nhìn chung, sự nghiệp giáo dục và đào tạo đã và mang lại những lợi
ích trên nhiều khía cạnh, đóng góp to lớn vào sự phát triển kinh tế, xã hội của
đất nước, cụ thể như:
Giáo dục đào tạo có tác dụng tích cực trong việc giúp cho người lao
động có năng lực tự giải quyết công ăn việc làm. Khả năng giải quyết việc
làm phụ thuộc vào nhiều yếu tố, nhưng trí tuệ, hiểu biết có vai trò quan trọng
nhất hình thành năng lực tự giải quyết việc làm của người lao động. Thông
thường, những người được đào tạo tốt, có trình độ học vấn, có hiểu biết khoa
học, kỹ thuật, kinh tế, có trình độ chuyên môn và tay nghề cao dễ tìm được
việc làm cho mình hơn những người không được đào tạo hay đào tạo kém,
thậm chí những người được đào tạo tốt còn có thể tạo ra việc làm cho nhiều
“NSNN là toàn bộ các khoản thu, chi của Nhà nước đã được cơ quan
nhà nước có thẩm quyền quyết định và được thực hiện trong một năm để đảm
bảo thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước”.
Ngân sách nhà nước bao gồm hai hoạt động chủ yếu đó là thu NSNN
và chi NSNN. Nói về hoạt động chi NSNN thì: “chi NSNN là quá trình phân
phối, sử dụng quỹ NSNN do quá trình thu tạo lập nên nhằm duy trì sự tồn tại,
hoạt động bình thường của bộ máy nhà nước và thực hiện các chức năng
nhiệm vụ của Nhà nước”. Hoạt động chi NSNN phản ánh mục tiêu hoạt động
của ngân sách, đó là đảm bảo về mặt vật chất (tài chính) cho hoạt động của
Nhà nước, với tư cách là chủ thể của NSNN trên hai phương diện:
- Duy trì sự tồn tại và hoạt động bình thường của bộ máy Nhà nước
- Thực hiện chức năng nhiệm vụ mà Nhà nước phải gánh vác.
Các khoản chi NSNN rất đa dạng và có nhiều cách phân loại khác
nhau.
- Phân loại theo ngành kinh tế quốc dân (giúp so sánh chi ngân sách
được thuận lợi theo Hệ thống tài khoản quốc gia và cẩm nang
Thống kê Tài chính của Chính phủ)
9
Sinh viên: Phạm Đức Minh - Lớp: K43-01.03
- Phân loại theo nội dung kinh tế, chi NSNN được chia thành bốn
nhóm đó là:
• Chi thường xuyên
• Chi đầu tư phát triển
• Chi cho vay hỗ trợ quỹ và tham gia góp vốn của Chính phủ
• Chi trả nợ gốc và các khoản vay của Nhà nước
- Phân loại theo tính chất các khoản chi thì chi NSNN được chia
thành chi thường xuyên (những khoản chi phát sinh tương đối đều
đặn cả về mặt thời gian và quy mô các khoản chi) và chi không
thường xuyên (những khoản chi ngân sách phát sinh không đều
đặn, bất thường như chi đầu tư phát triển, viện trợ, trợ cấp thiên
Nhóm chi này chiếm tỷ trọng lớn nhất trong tổng chi NSNN cho hệ
thống giáo dục. Nó đáp ứng được nhu cầu về đời sống vật chất, tinh thần cho
cán bộ giáo viên nhằm tái sản xuất sức lao động của họ, từ đó kích thích động
viên tinh thần giảng dạy, nâng cao chất lượng giáo dục.
- Các khoản chi về nghiệp vụ chuyên môn:
Bao gồm các khoản chi mua sắm sách giáo khoa, đồ thí nghiệm, các
mô hình, đồ dùng cho hoạt động giảng dạy như: sách giáo khoa, tài liệu tham
khảo cho giáo viên, đồ dung học tập, phấn viết, bảng đen, vật liệu hóa chất thí
nghiệm, thước kẻ…
Đây là khoản chi có ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng giáo dục vì vậy
cần phải được chú trọng để có mức đầu tư thích hợp nâng cao chất lượng,
hiệu quả của công tác giáo dục.
- Các khoản chi mua sắm tài sản, sửa chữa lớn, xây dựng nhỏ:
Đây là khoản chi không diễn ra thường xuyên hàng ngày, hàng tháng,
do vậy khi có nhu cầu thì khoản chi thường rất lớn. Bao gồm các khoản chi
về mua sắm, sửa chữa có tính ổn định không cao phụ thuộc vào tình trạng nhà
11
Sinh viên: Phạm Đức Minh - Lớp: K43-01.03
cửa và trang thiết bị của nhà trường nên không thể định mức chi được. Khoản
chi này thường diễn ra hàng năm do trong quá trình sử dụng bàn ghế, bảng,
trường lớp xuống cấp, hỏng hóc, vì vậy cần có một khoản kinh phí đảm bảo
cho việc tu bổ xây dựng mới, nhằm phục vụ tốt cho công tác giảng dạy. Mức
chi cho công tác sửa chữa lớn và xây dựng nhỏ được thiết lập dựa trên tình
hình tài sản, khả năng tài chính và khâu dự tính mức chi cho mua sắm, sửa
chữa lớn và xây dựng nhỏ.
- Các khoản chi quản lý hành chính:
Đây là khoản chi nhằm đảm bảo nhu cầu vật chất phục vụ cho hoạt
động của nhà trường. Bao gồm các khoản như: thanh toán dịch vụ công cộng,
chi trả tiền điện, nước; Chi phí văn phòng phẩm tại các phòng làm việc, dịch
vụ bưu điện, tiền công tác phí, hội phí,… các khoản này tương đối ổn định và
giảng dạy, phụ cấp ưu đãi, phụ cấp dạy thêm giờ Đây cũng là những yếu tố
khích lệ góp phần nâng cao chất lượng giáo dục.
- Nguồn vốn NSNN là nguồn duy nhất đảm bảo kinh phí để thực hiện
các chương trình - mục tiêu quốc gia về giáo dục như: Chương trình phổ cập
giáo dục tiểu học và chống mù chữ, chương trình tăng cường cơ sở vật chất
trường học, chương trình đầu tư cho giáo dục vùng cao…
- Đầu tư của NSNN tạo điều kiện ban đầu để khuyến khích nhân dân
đóng góp xây dựng, tăng cường cơ sở vật chất để phục vụ cho công tác giảng
dạy được tốt hơn, thu hút các nguồn nhân lực, tài lực trong xã hội cùng tham
gia chăm lo sự nghiệp giáo dục.
- Thông qua cơ cấu, định mức ngân sách cho giáo dục có tác dụng điều
chỉnh cơ cấu, quy mô giáo dục trong toàn ngành. Trong điều kiện đa dạng hóa
giáo dục đào tạo như hiện nay thì vai trò định hướng của Nhà nước thông qua
chi ngân sách để điều phối quy mô, cơ cấu giữa các cấp học, ngành học, giữa
các vùng là hết sức quan trọng, đảm bảo cho giáo dục đào tạo phát triển cân
đối, theo đúng định hướng đường lối của Đảng và Nhà nước.
- Sự đầu tư của NSNN có tác dụng hướng dẫn, kích thích thu hút các
nguồn vốn khác đầu tư cho giáo dục đào tạo. Nhà nước đầu tư hình thành nên
các trung tâm giáo dục có tác dụng thu hút sự đầu tư của các tổ chức, cá nhân
phát triển các loại dịch vụ phục vụ cho trung tâm giáo dục đó. Mặt khác trong
13
Sinh viên: Phạm Đức Minh - Lớp: K43-01.03
điều kiện các tổ chức, cá nhân chưa có đủ tiềm lực đầu tư độc lập cho các dự
án giáo dục thì sự đầu tư vốn của NSNN là số vốn đối ứng quan trọng để thu
hút các nguồn lực khác cùng đầu tư cho giáo dục. Thông qua sự đầu tư của
Nhà nước vào cơ sở vật chất và một phần kinh phí hỗ trợ đối với các trường
bán công, tư thục, dân lập có tác dụng thúc đẩy mạnh mẽ phong trào xã hội
hóa giáo dục đào tạo.
1.2.3 - Quản lý chi NSNN cho giáo dục đào tạo
Với mục tiêu nhằm sử dụng tiết kiệm và hiệu quả kinh phí NSNN đầu
duyệt.
Bước 3: Căn cứ vào dự toán chi đã được cơ quan quyền lực nhà nước
thông qua, cơ quan tài chính sau khi xem xét điều chỉnh lại cho phù hợp sẽ
chính thức phân bổ theo dự toán cho sự nghiệp giáo dục thông qua hệ thống
kho bạc nhà nước (KBNN).
Chấp hành dự toán chi NSNN cho giáo dục đào tạo:
Thực hiện kế hoạch chi ngân sách cho sự nghiệp giáo dục cần chú ý
đến các yêu cầu sau:
o Đảm bảo việc phân phối nguồn vốn một cách hợp lý, có trọng điểm
dựa trên cơ sở dự toán chi đã có.
o Thực hiện việc cấp phát kinh phí một cách kịp thời, chặt chẽ, tránh lãng
phí cho ngân sách nhà nước.
o Trong quá trình sử dụng các khoản chi ngân sách phải đảm bảo tính tiết
kiệm, hiệu quả trong quản lý chi, đúng với chinh sách chế độ.
Trong công tác điều hành, cấp phát và sử dụng các khoản chi ngân
sách cho sự nghiệp giáo dục phải dựa trên các căn cứ sau:
o Dựa vào mức chi đã được duyệt của từng chỉ tiêu trong dự toán. Đây là
căn cứ tác động có tính chất bao trùm đến việc cấp phát và sử dụng các
khoản chi bởi vì mức chi của từng chi tiêu là cụ thể hoá mức chi tổng hợp
đã được cơ quan quyền lực nhà nước phê duyệt.
15
Sinh viên: Phạm Đức Minh - Lớp: K43-01.03
o Dựa vào thực lực nguồn kinh phí NSNN đáp ứng chi ngân sách cho sự
nghiệp giáo dục trong quản lý và điều hành NSNN phải quán triệt quan
điểm: lường thu mà chi. Mức chi trong dự toán mới chỉ là con số dự kiến,
khi thực hiện phải căn cứ vào điều kiện thực tế của năm kế hoạch thì mới
chuyển hoá được chỉ tiêu dự kiến thành hiện thực.
o Dựa vào định mức, chế độ chỉ tiêu sử dụng kinh phí NSNN hiện hành.
Đây là căn cứ có tính pháp lý bắt buộc quá trình cấp phát sử dụng các
khoản chi phải tuân thủ, là căn cứ để đánh giá tính hợp lệ, hợp pháp của
o Báo cáo quyết toán của các đơn vị dự toán không được để xảy ra tình
trạng quyết toán chi lớn hơn thu
o Thủ trưởng các đơn vị dự toán cấp trên có trách nhiệm kiểm tra và
duyệt quyết toán thu, chi ngân sách của các đơn vị trực thuộc, chịu
trách nhiệm theo dõi các khoản chi thường xuyên của NSNN đảm bảo
được tiến hành thuận lợi, có như vậy mới tạo được cơ sở vững chắc cho
việc phân tích, đánh giá quá trình chấp hành dự toán một cách chính
xác, trung thực và khách quan.
Chi NSNN cho sự nghiệp giáo dục đào tạo được thực hiện tại các đơn
vị cụ thể. Do đó việc quyết toán chi NSNN cho sự nghiệp giáo dục đào tạo
là trách nhiệm của các đơn vị dự toán và cơ quan tài chính.
17
Sinh viên: Phạm Đức Minh - Lớp: K43-01.03
CHƯƠNG 2
THỰC TRẠNG QUẢN LÝ CHI NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC CHO GIÁO
DỤC THPT TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
2.1 - Khái quát một số nét cơ bản về tình hình kinh tế và văn hóa xã hội
trên địa bàn thành phố Hải Phòng
Hải Phòng là một thành phố ven biển, thuộc vùng Đồng bắng sông
Hồng và vùng kinh tế trọng điểm Bắc bộ, cách thủ đô Hà Nội 102km. Tổng
diện tích tự nhiên của Hải Phòng là 1507,57km
2
chiếm khoảng 0,4% diện tích
của cả nước. Dân số Hải Phòng vào khoảng 1.884.685 người chiếm 2,17%
dân số cả nước và 13,29% dân số vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ, thu nhập
bình quân đầu người đạt 5,469 triệu đồng. Thành phố gồm có 7 quận nội
thành, 8 huyện ngoại thành, 70 phường, 10 thị trấn và 143 xã. Hải Phòng có
trên 100.000km
2
thềm lục địa về ranh giới hành chính, Hải Phòng tiếp giáp
nghiệp chế tác, các sản phẩm có giá trị gia tăng cao; sản phẩm xuất khẩu, sản
phẩm truyền thống đã được chú trọng đầu tư, áp dụng kỹ thuật và công nghệ
khá hiện đại, đạt tốc độ tăng trưởng cao. Kim ngạch xuất khẩu các mặt hàng
công nghiệp tăng nhanh, đạt tốc độ bình quân 20,1%/năm và chiếm khoảng
83% tổng kim ngạch xuất khẩu của thành phố.
Các khu công nghiệp đã được quan tâm phát triển, xây dựng cơ sở hạ
tầng theo đúng kế hoạch, đến nay diện tích đất công nghiệp của thành phố
được quy hoạch tăng lên 4.700 ha. Việc thu hút các dự án vào khu công
nghiệp ngày càng tốt hơn.
Chương trình phát triển các ngành công nghiệp trên địa bàn nông thôn
được quan tâm. Tỷ lệ cơ giới hóa được tăng lên đáng kể, làm đất 68%, tưới
tiêu 85%, tuốt đập lúa 90%, xay xát thóc, nghiền 100%. Công nghiệp chế tạo
máy diezen dưới 40 mã lực cung cấp 50% nhu cầu tiêu dung trên địa bàn
thành phố và 35% nhu cầu các thành phố đồng bằng sông Hồng. Từng bước
đã và đang hình thành các cụm công nghiệp trên địa bàn nông thôn, góp phần
đẩy nhanh quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn.
* Sản xuất nông nghiệp, thủy sản
19
Sinh viên: Phạm Đức Minh - Lớp: K43-01.03
Nông nghiệp, nông thôn tiếp tục phát triển theo hướng công nghiệp
hóa, hiện đại hóa. GDP của nhóm ngành nông-lâm-thủy sản tăng bình quân
4,7%/năm, giá trị sản xuất tăng 6,3%/năm.
Sản xuất nông nghiệp, mặc dù mỗi năm diện tích đất canh tác đều giảm
hàng ngàn hec-ta do tốc độ đô thị hóa, công nghiệp hóa, nhưng nhờ áp dụng
các thành tựu khoa học kỹ thuật nên sản lượng lương thực quy thóc hàng năm
vẫn tăng trên 1%; giá trị sản xuất tăng trung bình 4,03%/năm. Đã hình thành
một số vùng sản xuất nông sản tập trung tạo sản lượng hàng hóa lớn, cho thu
nhập cao. Sản xuất giống cây trồng được ưu tiên, kỹ thuật canh tác được cải
tiến, từng bước tiếp thu công nghệ mới.
Ngành chăn nuôi mặc dù gặp nhiều khó khăn do dịch bệnh song số
bình quân 27,7%/năm.
Hoạt động thương mại phát triển khá mạnh và toàn diện, tổng mức bán
lẻ hàng hóa xã hội tăng ở mức khá cao, bình quân 23,6%/năm, tỷ trọng trong
GDP của thành phố liên tục tăng.
Bưu chính viễn thông tiếp tục phát triển nhanh với công nghệ hiện đại,
đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế, xã hội, quốc phòng, an ninh và đời sống
nhân dân; điện thoại (cố định và di động thuê bao cước phí trả sau) đạt mật độ
bình quân trên 18 máy/100 dân (tiêu chí đề ra là 9-10 máy/100 dân)
Hoạt động dịch vụ tài chính là lĩnh vực có nhiều tiềm năng đang có
chiều hướng phát triển tốt trên nhiều mặt.
Một số các hoạt động dịch vụ như giáo dục và đào tạo, y tế, thể dục thể
thao, các hoạt động công ích, dịch vụ tư vấn… đang trên đà phát triển. Xu thế
xã hội hóa các hoạt động dịch vụ này được mở rộng và đạt được kết quả bước
đầu. Các dịch vụ như kinh doanh tài sản, kinh doanh bất động sản, cung cấp
phần mềm… đã hình thành và từng bước phát triển.
2.1.2 - Khái quát tình hình văn hóa xã hội trên địa bàn thành phố Hải Phòng
* Giáo dục và đào tạo, phát triển nguồn nhân lực
Giáo dục và đào tạo có bước tiến bộ và phát triển khá toàn diện, được
công nhận trong tốp dẫn đầu toàn quốc. Quy mô giáo dục ổn định và phát
triển. Giữ vững kết quả phổ cập giáo dục tiểu học đúng độ tuổi và đạt chuẩn
21
Sinh viên: Phạm Đức Minh - Lớp: K43-01.03
quốc gia về phổ cập giáo dục trung học cơ sở. Hệ thống giáo dục thường
xuyên được củng cố, hiệu quả hoạt động được nâng lên. Đội ngũ giáo viên
hầu hết đạt chuẩn về trình độ chuyên môn, nghiệp vụ. Chất lượng giảng dạy
và học tập có chuyển biến tiến bộ. Cơ sở vật chất, thiết bị trường học được
tăng cường, 157 trường đạt chuẩn quốc gia. Đầu tư cho giáo dục tăng nhanh.
Xã hội hóa giáo dục được đẩy mạnh đúng hướng, đạt hiệu quả rõ nét; triển
khai xây dựng các trung tâm học tập cộng đồng, bước đầu hình thành xã hội
học tập…
tuổi thọ trung bình đạt 73,4 tuổi.
* Hoạt động thể dục thể thao
Hoạt động thể dục thể thao phát triển ổn định và đạt những tiến bộ mới
phù hợp với phát triển kinh tế - xã hội thành phố. Tiếp tục thực hiện cuộc vận
động toàn dân rèn luyện thân thể theo gương Bác Hồ vĩ đại. Công tác giáo
dục thể chất trong trường học được quan tâm hơn.
Thể thao thành tích cao tiếp tục được đầu tư, giữ vững vai trò là một
trong những trung tâm thể thao mạnh của cả nước. Thành phố đã đóng góp
nhiều vận động viên vào các đội tuyển quốc gia. Công tác xã hội hóa thể thao
được quan tâm đạt kết quả tích cực.
* Các chính sách xã hội, những vấn đề xã hội đáng quan tâm
Trong thời gian qua đã giải quyết được 18,83 vạn lao động, tỷ lệ thất
nghiệp khu vực thành thị giảm dần, còn 6% vào năm 2005; tỷ lệ sử dụng thời
gian lao động ở nông thôn được tăng lên đáng kể, đạt 78,7% vào năm 2005.
Cơ cấu lao động từng bước có sự chuyển biến phù hợp với chuyển dịch cơ
cấu kinh tế. Tỷ trọng lao động trong nông nghiệp giảm xuống còn 43,5%, tỷ
trọng lao động trong công nghiệp - xây dựng tăng lên 26,6%.
Tỷ lệ hộ nghèo đã giảm, ước còn 3% vào năm 2005, vượt xa so với kế
hoạch đề ra. Hoàn thành chương trình hỗ trợ nghèo xóa nhà tranh vách đất
với hơn 6.500 ngôi nhà. Thực hiện tốt các chính sách xã hội, nhất là đối với
những người có công với nước, phong trào đền ơn, đáp nghĩa phát triển sâu
rộng, tạo được sự đồng thuận, tham gia tích cực của nhân dân. Bảo hiểm xã
hội tiếp tục phát triển, số người tham gia bảo hiểm xã hội hàng năm tăng gần
10%; thực hiện tốt công tác bảo hiểm y tế, quan tâm mua bảo hiểm y tế cho
người nghèo, phát triển các loại hình bảo hiểm y tế tự nguyện. Công tác
23
Sinh viên: Phạm Đức Minh - Lớp: K43-01.03
phòng chống các tệ nạn xã hội được thực hiện tích cực, tạo được chuyển biến
mới, nhất là ở những địa bàn trọng điểm. Mô hình xây dựng cụm dân cư,
phường, xã không có ma túy và tệ nạn xã hội được nhiều cơ sở hướng ứng
công tăng ít nhất 73 học sinh. Thành phố có thêm 1 trường THPT công lập
nâng tổng số trường THPT lên 59 trường. Năm học 2007-2008, số trường
THPT công lập tăng lên 38 trường do việc chuyển đổi 4 trường THPT bán
công sang THPT công lập cụ thể là các trường THPT Nguyễn Khuyến, THPT
Nhữ Văn Lan, THPT Thủy Sơn và THPT Lê Chân, tuy nhiên tổng số trường
THPT trên toàn thành phố vẫn không đổi giữ nguyên là 59 trường. Tổng số
học sinh THPT của năm học này là 77.522 học sinh, giảm 400 học sinh so
với năm học 2006-2007 tương ứng với tỷ lệ giảm là 5.1%. Mức giảm này là
do các trường THPT bán công khi chuyển đổi sang thành THPT công lập còn
25
Năm học 2005-2006 2006-2007 2007 -2008
Tổng số trường công lập 33 34 38
Tổng số lớp công lập 870 905 1026
Tổng số học sinh công lập 42380 44384 48318
Tổng số trường dân lập, tư
thục
20 20 20
Tổng số lớp dân lập, tư thục 524 544 547
Tổng số học dân lập, tư thục 26003 27891 28144
Tổng số trường bán công 5 5 1
Tổng số lớp bán công 126 136 27
Tổng số học sinh bán công 5574 5647 1060