BÀI GIẢNG LUẬT SỞ HỮU TRÍ TUỆ ĐẠI HỌC CẦN THƠ HAY - Pdf 23

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA LUẬT
Bài giảng
LUẬT SỞ HỮU TRÍ TUỆ
(lưu hành nội bộ)
Biên soạn: Th.s Nguyễn Phan Khôi
Tháng 4-2013
1
1
PHẦN MỞ ĐẦU
Cùng với quá trình hội nhập của Việt Nam vào thị trường thế giới, hệ thống các văn bản
pháp luật của Việt Nam cũng phải có sự thay đổi, bổ sung cho phù hợp với tình hình mới.
Cùng với các Luật khác như Luật Doanh nghiệp, Luật cạnh tranh, Luật đầu tư thì hệ thống
các văn bản Luật Sở hữu trí tuệ cũng đã góp một phần không nhỏ vào việc hoàn thiện hệ
thống pháp luật Việt Nam để đáp ứng yêu cầu hội nhập.
Trước năm 2005, hệ thống luật về sở hữu trí tuệ của Việt Nam đã khá hoàn thiện, tuy nhiên
cốt lõi của hệ thống này chỉ là các văn bản dưới luật có hiệu lực pháp lý thấp, tính ổn định
không cao. Hơn nữa, trong khi các đối tượng của sở hữu trí tuệ khá rộng, thì các văn bản
này lại không có tính thống nhất và bao quát, dẫn đến hệ thống văn bản khá rườm rà, phức
tạp. Mặt khác, do tập trung vào các văn bản dưới luật nên hệ thống này thiếu tính ổn định,
làm cho việc tiếp cận các quy định về sở hữu trí tuệ gặp nhiều trở ngại. Giải quyết vấn đề
trên, ngày 12 tháng 12 năm 2005, Chủ tịch nước Trần Đức Lương kí lệnh ban hành Luật sở
hữu trí tuệ với 222 điều, nội dung bao quát toàn diện các đối tượng của lĩnh vực sở hữu trí
tuệ. Từ khi chính thức có hiệu lực ngày 01 tháng 7 năm 2006, Luật Sở hữu trí tuệ đã đóng
vai trò rất quan trọng trong công cuộc hội nhập của nền kinh tế nước ta. Một mặt, Luật đã
bảo vệ được các tài sản trí tuệ của các chủ thể trong nền kinh tế và tạo tâm lí an tâm cho các
nhà đầu tư quốc tế khi vào Việt Nam, một mặt thúc đẩy sự sáng tạo trong các tầng lớp nhân
dân để tạo ra các tài sản trí tuệ cho đất nước.
Nhằm hoàn thiện hơn nữa các quy định của Luật, tháng 6 năm 2009, Quốc hội tiếp tục
thông qua Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật sở hữu trí tuệ, theo đó, điều chỉnh lại
một số vấn đề liên quan đến thời hạn, giải thích từ ngữ, các chủ thể có quyền, chuyển giao,

Việt Nam, các công ước quốc tế có liên quan đến sở hữu trí tuệ.
Người học phải kết hợp giữa các quy định của luật với thực tiễn, nhằm tìm ra mối quan hệ
của chúng đồng thời có sự vận dụng hiệu quả vào thực tế cuộc sống.
CẤU TRÚC BÀI GIẢNG
Bài giảng được thiết kế theo bố cụ sau đây:
BÀI 1 - NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ SỞ HỮU TRÍ TUỆ
BÀI 2 - QUYỀN TÁC GIẢ
BÀI 3 - QUYỀN LIÊN QUAN ĐẾN QUYỀN TÁC GIẢ
BÀI 4 – SÁNG CHẾ
BÀI 5 – NHÃN HIỆU
BÀI 6 – TÊN THƯƠNG MẠI
BÀI 7 – KIỂU DÁNG CÔNG NGHIỆP
BÀI 8 – THIẾT KẾ BỐ TRÍ MẠCH TÍCH HỢP BÁN DẪN
BÀI 9 – CHỈ DẪN ĐỊA LÝ
BÀI 10 – BÍ MẬT KINH DOANH
BÀI 11 – CHỐNG CẠNH TRANH KHÔNG LÀNH MẠNH LIÊN QUAN ĐẾN SỞ
HỮU CÔNG NGHIỆP
BÀI 12 - QUYỀN ĐỐI VỚI GIỐNG CÂY TRỒNG
Bài 13 - CHUYỂN GIAO QUYỀN SỞ HỮU TRÍ TUỆ
Bài 14 – BẢO VỆ QUYỀN SỞ HỮU TRÍ TUỆ
Phần cuối cùng của tài liệu này là các bài tập nhằm giúp học viên củng cố lại các kiến thức
đã học, và phần bài giải của các bài tập đó.
3
3
DANH MỤC VIẾT TẮT TÊN VĂN BẢN
Tên đầy đủ Viết tắt
Bộ luật Dân sự 1995
BLDS 1995
Bộ luật Dân sự 2005
BLDS 2005

Nghị định 104/2006/NĐ-CP ngày 22 tháng 9 năm 2006 về việc quy
định chi tiết, hướng dẫn thi hành một số điều của Luật sở hữu trí tuệ về
quyền đối với giống cây trồng (thay thế cho Nghị định số 13/2001/NĐ-
CP ngày 20 tháng 4 năm 2001 của Chính phủ về bảo hộ giống cây
trồng).
Nghị định 104/2006/NĐ-CP
Nghị định 116/2005/NĐ-CP ngày 15 tháng 9 năm 2005 quy định chi
tiết thi hành một số điều của Luật Cạnh tranh
Nghị định 116/2005/NĐ-CP
Nghị định 105/2006/NĐ-CP ngày 22 tháng 9 năm 2006 quy định chi
tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật sở hữu trí tuệ về bảo
vệ quyền sở hữu trí tuệ và quản lí nhà nước về sở hữu trí tuệ.
Nghị định 105/2006/NĐ-CP
Nghị định 106/2006/NĐ-CP ngày 22 tháng 9 năm 2006 quy định về xử
phạt vi phạm hành chính về sở hữu công nghiệp thay thế cho Nghị
định số 12/1999/NĐ-CP ngày 06 tháng 3 năm 1999 của Chính phủ về
xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực sở hữu công nghiệp.
Nghị định 106/2006/NĐ-CP
Nghị định 89/2006/NĐ-CP ngày 30 tháng 9 năm 2006 về nhãn hàng
hóa
Nghị định 89/2006/NĐ-CP
Nghị định 172/2007/NĐ-CP ngày 28 tháng 11 năm 2007 sửa đổi, bổ
sung một số điều của Nghị định số57/2005/NĐ-CP, ngày 27 tháng 4
năm 2005 của Chính phủvề việc xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh
vực giống cây trồng
Nghị định 172/2007/NĐ-CP
Nghị định 28/2008/NĐ-CP ngày 14 tháng 3 năm 2008 quy định chức
Nghị định 28/2008/NĐ-CP
4
4

Nghị định 88/2010/NĐ-CP
Nghị định 119/2010/NĐ-CP sửa đổi bổ sung một số điều của Nghị
định số 105/2006/NĐ-CP ngày 22 tháng 9 năm 2006 quy định chi tiết
và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật sở hữu trí tuệ và quản lí
nhà nước về Sở hữu trí tuệ.
Nghị định 119/2010/NĐ-CP
Nghị định 85/2011/NĐ-CP ngày 20 tháng 9 năm 2011 sửa đổi bổ sung
một số điều của Nghị định 100/2006/NĐ-CP ngày 21 tháng 9 năm
2006 quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Bộ luật
dân sự, luật Sở hữu trí tuệ về quyền tác giả.
Nghị định 85/2011/NĐ-CP
Nghị định 119/2011/NĐ-CP ngày 16 tháng 12 năm 2011 về việc sửa
đổi, bổ sung thủ tục hành chính tại Nghị định 116/2005/NĐ-CP ngày
15/09/2005 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của
Luật Cạnh tranh
Nghị định 119/2011/NĐ-CP
Nghị định 99/2013/NĐ-CP quy định xử phạt vi phạm hành chính trong
lĩnh vực sở hữu công nghiệp
Nghị định 99/2013/NĐ-CP
Nghị định 131/2013/NĐ-CP ngày 16 tháng 10 năm 2013 quy định xử
phạt vi phạm hành chính về quyền tác giả, quyền liên quan
Nghị định 131/2013/NĐ-CP
Nghị định 18/2014/NĐ-CP ngày 14 tháng 3 năm 2014 quy định về chế
độ nhuận bút trong lĩnh vực báo chí, xuất bản
Nghị định 18/2014/NĐ-CP
Thông tư 27/2001/TT-BVHTT ngày 10 tháng 5 năm 2001 hướng dẫn
thực hiện nghị định số 67/CP ngày 29/11/1996, nghị định 60/CP ngày
6/6/1997 của Chính phủ hướng dẫn thi hành một số quy định về quyền
tác giả trong Bộ luật dân sự
Thông tư 27/2001/TT-

trình, thủ tục tiếp nhận, thụ lí giải quyết đơn yêu cầu xử lí các vụ việc
hành chính về sở hữu trí tuệ của cơ quan Quản lí thị trường
Thông tư 12/2008/TT-BCT
Thông tư 05/2008/TT-BTTTT ngày 12 tháng 11 năm 2008 hướng dẫn
thi hành một số điều của Nghị định 97/2008/NĐ-CP ngày 28 tháng 8
năm 2008 của Chính phủ về quản lí, cung cấp, sử dụng dịch vụ internet
và thông tin điện tử trên internet đối với dịch vụ internet
Thông tư 05/2008/TT-
BTTTT
Thông tư 41/2009/TT-BNNPTNT ngày 09 tháng 7 năm 2009 quy định
về quản lí và sử dụng mẫu giống cây trồng
Thông tư 41/2009/TT-
BNNPTNT
Thông tư 05/2010/TT-BYT ngày 01 tháng 3 năm 2010 hướng dẫn bảo
mật dữ liệu thử nghiệm trong đăng kí thuốc
Thông tư 05/2010/TT-BYT
Thông tư 44/2011/TT-BTC ngày 01 tháng 4 năm 2011 hướng dẫn công
tác chống hàng giả và bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ trong lĩnh vực hải
quan
Thông tư 44/2011/TT-BTC
Thông tư 18/2011/TT-BKHCN-SHTT ngày 22 tháng 7 năm 2011 sửa
đổi, bổ sung một số quy định của Thông tư số 01/2007/TT-BKHCN
ngày 14/02/2007, được sửa đổi, bổ sung theo Thông tư số 13/2010/TT-
BKHCN ngày 31/7/2010 và Thông tư số 01/2008/TT-BKHCN ngày
25/02/2008, được sửa đổi bổ sung theo Thông tư số 04/2009/TT-
BKHCN ngày 27/3/2009
Thông tư 18/2011/TT-
BKHCN-SHTT
Thông tư 37/2011/TT-BKHCN ngày 27 tháng 12 năm 2011 hướng dẫn
thi hành một số điều của Nghị định số 97/2010/NĐ-CP ngày 21 tháng

theo Thông tư số 13/2010/TT-BKHCN ngày 30/7/2010 và Thông tư số
18/2011/TT-BKHCN ngày 22/7/2011
Thông tư 13/2013/TT-
BKHCN
Thông tư liên tịch 01/2001/TANDTC-VKSNDTC-BVHTT ngày 5
tháng 12 năm 2001 hướng dẫn áp dụng một số quy định của Bộ luật
dân sự trong việc giải quyết các tranh chấp liên quan đến quyền tác giả
tại Tòa án nhân dân
Thông tư liên tịch
01/2001/TANDTC-
VKSNDTC-BVHTT
Thông tư liên tịch 21/2003/TTLT-BVHTT-BTC ngày 01 tháng 7 năm
2003 hướng dẫn việc chi trả chế độ nhuận bút, trích lập và sử dụng quỹ
nhuận bút đối với một số loại hình tác phẩm quy định tại Nghị định số
61/2002/NĐ-CP ngày 11/6/2002 của Chính phủ
Thông tư liên tịch
21/2003/TTLT-BVHTT-BTC
Thông tư liên tịch 58/2003/TTLT-BVHTT-BTC ngày 17 tháng 10 năm
2003 hướng dẫn bảo hộ quyền tác giả đối với hàng hóa xuất khẩu,
nhập khẩu
Thông tư liên tịch
58/2003/TTLT-BVHTT-BTC
Thông tư liên tịch 01/2008/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BCA-BTP
ngày 29 tháng 02 năm 2008 hướng dẫn việc truy cứu trách nhiệm hình
sự đối với các hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ
Thông tư liên tịch
01/2008/TTLT-TANDTC-
VKSNDTC-BCA-BTP
Thông tư liên tịch 02/2008/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-
BVHTT&DL-BKH&CN-BTP ngày 03 tháng 4 năm 2008 hướng dẫn

“quyền sở hữu.”
Tài sản trí tuệ là một loại tài sản đặc biệt, bởi sở hữu trí tuệ là một khái niệm được dùng để
nói về một loại tài sản được tạo ta từ trí tuệ, tinh thần của con người.
Việc sở hữu các ý tưởng là không khả thi, do các ý tưởng không thể được chiếm hữu. Vì
vậy, quyền sở hữu trí tuệ phải được phát sinh trên cơ sở các ý tưởng đã được thể hiện. Theo
đó, chủ nhân của các ý tưởng đó sẽ có những quyền liên quan đến chúng – đó là những độc
quyền khai thác. Nói cách khác, “tài sản” ở đây được xem xét tới là tài sản vô hình, nó thể
hiện dưới dạng các quyền tài sản.
Do đặc trưng về đối tượng, nên quyền sở hữu đối với các đối tượng vô hình có sự khác biệt
với loại sở hữu có đối tượng là các tài sản hữu hình theo đó chủ sở hữu có thể thực hiện ba
quyền: chiếm hữu, sử dụng, định đoạt (theo quy định tại điều 164 Bộ luật dân sự 2005).
Việc chiếm hữu các tài sản trí tuệ trên thực tế chỉ mang ý nghĩa tương đối, bởi vì đôi khi chủ
sở hữu của các tài sản trí tuệ không thể ngăn cản một chủ thể khác có được, hay sử dụng đối
tượng giống với tài sản trí tuệ mà mình sở hữu. Đối với quyền sử dụng, chủ sở hữu của đối
tượng sở hữu trí tuệ được pháp luật thừa nhận cho mình những độc quyền nhất định trong
việc sử dụng, do đó họ có thể cho phép, hoặc không cho phép tổ chức, cá nhân khác sử dụng
đối tượng mà mình sở hữu. Cuối cùng, họ cũng có quyền định đoạt đối tượng sở hữu trí tuệ
thông qua việc chuyển giao quyền sở hữu trí tuệ cho các chủ thể khác.
Sở hữu trí tuệ liên quan đến các tài sản vô hình, tuy nhiên, không phải tài sản vô hình nào
cũng là tài sản trí tuệ. Theo quy định của pháp luật về sở hữu trí tuệ, thì chỉ có các đối tượng
đáp ứng được các điều kiện nhất định mới được bảo hộ theo luật sở hữu trí tuệ. Bản thân
1.1.2. Bảo hộ các quyền sở hữu trí tuệ
a. Lí do của việc bảo hộ
Bảo vệ các quyền nhân thân và tài sản của các tác giả, chủ sở hữu. Để có được một tài sản
trí tuệ, thì phải có sự đầu tư về trí tuệ, thời gian, tài chính Do đó, cần có một sự thừa nhận
về công sức của những người tác giả, chủ sở hữu tài sản trí tuệ thông qua việc bảo vệ các
quyền nhân thân và tài sản của họ. Đây có thể coi là sự ‘đền bù’ của xã hội đối với những
người tạo ra thành quả trí tuệ.
Trước đây, pháp luật về quyền tác giả ở một số nước không quan tâm nhiều đến vấn đề
quyền nhân thân, nhưng hiện nay, hầu hết các luật về quyền tác giả đã đề cập đến cả quyền

tuệ cho dù có giá trị, hoặc thể hiện sự sáng tạo như thế nào đi nữa, mà không áp dụng vào
cuộc sống, thì cũng trở thành vô dụng. Do đó, các độc quyền dành cho chủ sở hữu thường
có thời hạn, để tạo một sức ép buộc họ phải phổ biến các tài sản trí tuệ ra công chúng để thu
được lợi ích. Một số đối tượng, ví dụ như sáng chế và nhãn hiệu, chủ sở hữu còn mang
nghĩa vụ sử dụng. Nói cách khác, nếu họ không sử dụng các đối tượng đã đăng kí, nhà nước
sẽ thu hồi lại các đặc quyền đã cấp.
Điều 8 Luật Sở hữu trí tuệ Việt Nam cũng đã chỉ rõ chính sách của Nhà nước về sở
hữu trí tuệ, đây cũng có thể coi là những mục tiêu của Luật:
1. Công nhận và bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ của tổ chức, cá nhân trên cơ sở bảo
đảm hài hoà lợi ích của chủ thể quyền sở hữu trí tuệ với lợi ích công cộng; không
bảo hộ các đối tượng sở hữu trí tuệ trái với đạo đức xã hội, trật tự công cộng, có hại
cho quốc phòng, an ninh.
2. Khuyến khích, thúc đẩy hoạt động sáng tạo, khai thác tài sản trí tuệ nhằm góp
phần phát triển kinh tế - xã hội, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân
dân.
9
9
3. Hỗ trợ tài chính cho việc nhận chuyển giao, khai thác quyền sở hữu trí tuệ phục
vụ lợi ích công cộng; khuyến khích tổ chức, cá nhân trong nước và nước ngoài tài
trợ cho hoạt động sáng tạo và bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ.
4. Ưu tiên đầu tư cho việc đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức,
các đối tượng liên quan làm công tác bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ và nghiên cứu,
ứng dụng khoa học - kỹ thuật về bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ.
Việc phổ biến các sáng tạo vào cuộc sống còn thể hiện qua việc các chủ sở hữu tài sản trí
tuệ chuyển giao quyền sở hữu/quyền sử dụng đối tượng trí tuệ mà mình sở hữu cho người
khác. Việc chuyển giao này được khuyến khích không chỉ trong phạm vi một quốc gia, mà
còn trên phạm vi toàn thế giới. Do đa số các tài sản trí tuệ là kết tinh của sáng tạo, của tri
thức và công nghệ, nên việc chuyển giao chúng giữa các quốc gia sẽ góp phần làm rút ngắn
khoảng cách về trình độ công nghệ giữa các nước phát triển và các nước đang phát triển.
Xét một cách tổng thể, Luật Sở hữu trí tuệ dù ở phạm vi bảo hộ ở quốc gia hay quốc tế, phải

10
Hết thời hạn bảo hộ. Khi hết thời hạn bảo hộ, các độc quyền sẽ chấm dứt, và các tài sản trí
tuệ sẽ là tài sản chung của công chúng. Một mặt, tác giả sáng tạo các tài sản trí tuệ này sẽ
phải nghiên cứu những thứ mới hơn để có những độc quyền mới, mặt khác, khi các độc
quyền về một tài sản trí tuệ bị chấm dứt, những nhà sáng tạo khác cũng được tự do sử dụng
những tài sản trí tuệ này phục vụ cho việc nghiên cứu của mình mà không bị ràng buộc bởi
độc quyền của người sáng tạo trước.
Việc bảo hộ bị hạn chế trong phạm vi quốc gia. Dù các tài sản trí tuệ có thể được khai thác
vượt qua biên giới giữa các quốc gia, nhưng việc bảo hộ các quyền Sở hữu trí tuệ lại do luật
pháp của mỗi quốc gia quy định. Do đó, không thể tránh khỏi có sự khác biệt trong quy định
giữa các nước với nhau về cùng một vấn đề có liên quan. Việc bảo hộ sở hữu trí tuệ nhìn
chung bị giới hạn trong lãnh thổ của quốc gia hay vùng lãnh thổ. Mặc dù có nhiều công ước
quốc tế quy định về các lĩnh vực khác nhau của sở hữu trí tuệ, tuy nhiên, hoặc các công ước
đó không đề cập đến các vấn đề nội dung, hoặc các công ước đó chỉ đưa ra các quy định
khung, làm cho luật pháp của các quốc gia thành viên công ước cũng có những quy định
không giống nhau. Nhìn chung, việc một đối tượng được bảo hộ thành công ở nước này,
không có nghĩa sẽ đương nhiên được bảo hộ ở nước khác.
Việc bảo hộ có thể bị hạn chế nếu xảy ra xung đột về lợi ích với tổ chức, cá nhân khác, hoặc
với nhà nước, xã hội. Về nguyên tắc, việc thực hiện quyền sở hữu trí tuệ không được xâm
phạm lợi ích của Nhà nước, lợi ích công cộng, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá
nhân khác và không được vi phạm các quy định khác của pháp luật có liên quan. Nếu như
có những xung đột này, thì các quyền của các chủ sở hữu tài sản trí tuệ sẽ bị thu hẹp.
Li-xăng bắt buộc.
1
Trong trường hợp nhằm bảo đảm mục tiêu quốc phòng, an ninh, dân sinh
và các lợi ích khác của Nhà nước, xã hội, Nhà nước có quyền cấm hoặc hạn chế chủ thể
quyền sở hữu trí tuệ thực hiện quyền của mình hoặc buộc chủ thể quyền sở hữu trí tuệ phải
cho phép tổ chức, cá nhân khác sử dụng một hoặc một số quyền của mình với những điều
kiện phù hợp.
d. Đặc trưng cơ bản của tài sản trí tuệ

- Sở hữu công nghiệp. Nhằm bảo hộ các sáng chế bằng Patent (bằng sáng chế), bảo hộ các
lợi ích (tài sản) thương mại như nhãn hiệu hàng hóa, dịch vụ, tên thương mại, kiểu dáng
công nghiệp, các chỉ dẫn thương mại… Ngoài ra, việc bảo hộ các đối tượng sở hữu công
nghiệp còn bao gồm cả vấn đề cạnh tranh, hay chống cạnh tranh không lành mạnh trong sở
hữu công nghiệp.
Công ước Stockholm thành lập Tổ chức sở hữu trí tuệ thế giới
2
ngày 14 tháng 7 năm
1967,
3
tại điều 2(viii) thừa nhận rằng sở hữu trí tuệ bao gồm các đối tượng sau:
- (1) tác phẩm văn học, nghệ thuật, khoa học;
- (2) sự trình diễn của các nghệ sĩ chương trình phát thanh, truyền hình;
- (3) các sáng chế trên mọi lĩnh vực;
- (4) khám phá khoa học (scientific discoveries);
- (5) kiểu dáng công nghiệp;
- (6) nhãn hiệu hàng hóa, nhãn hiệu dịch vụ, tên thương mại, chỉ dẫn thương mại;
- (7) chống cạnh tranh không lành mạnh;
và mọi quyền khác là kết quả của hoạt động trí óc trên các lĩnh vực khoa học, công
nghệ, văn học, nghệ thuật.
Như cách trình bày trên, thì (1) là đối tượng được bảo hộ thuộc lĩnh vực quyền tác giả, (2)
là các quyền liên quan, (3) (5) (6) (7) thuộc về sự điều chỉnh của pháp luật sở hữu công
nghiệp.
Theo pháp luật Việt Nam, thì ngoài hai nhóm đối tượng trên, còn quyền đối với giống cây
trồng.
1.2. PHÁP LUẬT QUỐC TẾ VỀ SỞ HỮU TRÍ TUỆ
1.2.1. Tổ chức sở hữu trí tuệ thế giới – WIPO
Lịch sử hình thành. Tổ chức Sở hữu trí tuệ thế giới được hình thành từ tiền thân là hai
công ước Paris 1883 và Công ước Berne 1886 về sở hữu công nghiệp và quyền tác giả đối
với các tác phẩm văn học nghệ thuật. Ban đầu, hai công ước này đều có văn phòng đại diện

Theo đó, WIPO được tổ chức theo cơ cấu bao gồm: Đại Hội đồng, Hội nghị, Ủy ban điều
phối và Văn phòng Quốc tế WIPO hay Ban thư kí.
Đứng đầu Ban thư kí là Tổng Giám đốc, được bổ nhiệm bởi Đại Hội đồng. Tổng giám đốc
đương nhiệm là ông Francis Gurry. Nhiệm kì của ông kéo dài 6 năm, sẽ chấm dứt vào năm
2014.
Các điều ước quốc tế do WIPO quản lí. Năm 1898, BIRPI chỉ quản lý thực hiện 4 hiệp
định quốc tế. Một thế kỷ sau, WIPO quản lý thực hiện 21 hiệp định và thực hiện một
chương trình hoạt động phong phú và đa dạng. Thông qua các thành viên và ban thư kí,
WIPO tìm cách: (1)Làm hài hoà luật pháp và thủ tục của quốc gia về sở hữu trí tuệ; (2)Cung
cấp dịch vụ đăng kí quốc tế đối với các quyền sở hữu công nghiệp; (3)Trao đổi thông tin về
sở hữu trí tuệ; (4)Hỗ trợ pháp lý và kỹ thuật cho các nước đang phát triển và các nước khác;
(5)Hỗ trợ giải quyết tranh chấp sở hữu trí tuệ của cá nhân, (6)Sử dụng công nghệ thông tin
như một công cụ lưu giữ, tiếp cận và sử dụng thông tin sở hữu trí tuệ quý giá.
Hiện nay, bên cạnh Công ước Stockholm,
5
WIPO đang quản lí 24 điều ước quốc tế có liên
quan đến sở hữu trí tuệ.
Trong lĩnh vực quyền tác giả và quyền liên quan có 8 điều ước, bao gồm:
- Công ước Berne 1886;
6
4 Tiếng Pháp: Bureaux Internationaux Reunis pour la Protection de la Propiete Intellectuelle , tiếng Anh: United
International Bureaus for Protection of Intellectual Property
5 WIPO Convention
6 Berne Convention for the Protection of Literary and Artistic Works
13
13
- Công ước Geneve 1952 có tên gọi là công ước toàn cầu về bản quyền;
7
- Công ước Rome 1961 về bảo hộ người biểu diễn, nhà sản xuất bản ghi âm và tổ chức phát
sóng;

20
- Thỏa ước Madrid về đăng kí quốc tế nhãn hiệu;
21
- Thỏa ước Madrid về Chống lại chỉ dẫn sai và lừa dối đối với nguồn gốc hàng hóa;
22
- Hiệp định Lisbon về tên gọi xuất xứ hàng hóa;
23
- Nghị định thư liên quan đến thỏa ước Madrid về đăng kí quốc tế nhãn hiệu;
24
- Thỏa ước Nice về phân loại quốc tế hàng hóa và dịch vụ vì mục đích đăng kí nhãn hiệu;
25
7 Universal Copyright Conventions - UCC
8 Rome Convention for the Protection of Performers, Producers of Phonograms and Broadcasting Organizations
9 Geneva Convention for the Protection of Producers of Phonograms Against Unauthorized Duplication of Their
Phonograms
10 Brussels Convention Relating to the Distribution of Program-Carrying Signals Transmitted by Satellite
11 WIPO Copyright Treaty
12 WIPO Performances and Phonograms Treaty
13 Beijing Treaty on Audiovisual Performances
14 Paris Convention for the Protection of Industrial Property
15 Patent Cooperation Treaty
16 Patent Law Treaty
17 Trademark Law Treaty
18 Budapest Treaty on the International Recognition of the Deposit of Microorganisms for the Purposes of Patent
Procedure
19 Treaty on Intellectual Property in respect of Intergrated Circuits
20 Hague Argreement Concerning the International Registration of Industrial Designs
21 Madrid Agreement Concerning the International Rergistration of Marks
22 Madrid Agreement for the Repression of False or Deceptive Indications of Source on Goods
23 Lisbon Agreement for the Protection of Apellations of Origin and their International Registration


31
Hiệp hội UPOV là một tổ chức
ra đời vào năm 1961 tại Paris, đã thông qua Công ước UPOV lần đầu tiên có hiệu lực vào
năm 1968. Sau đó, Công ước này được sửa đổi 3 lần vào các năm 1972, 1978 và 1991.
Phiên bản cuối cùng năm 1991 là phiên bản đang được đa số các nước thành viên UPOV áp
dụng hiện nay. Ngày 24 tháng 12 năm 2006, Việt Nam chính thức trở thành thành viên thứ
63 của Công ước này.

32
Hiện nay, Việt Nam đang áp dụng Công ước UPOV phiên bản năm
1991 như đa số các thành viên khác của tổ chức. Là một thành viên của UPOV, Việt Nam
cam kết hoạt động với tuyên ngôn của UPOV là “cung cấp và hỗ trợ hệ thống bảo hộ giống
cây trồng mới hoạt động một cách hiệu quả, với mục tiêu khuyến khích việc phát triển các
giống cây trồng mới vì lợi ích cộng đồng”.
33
Riêng tổ chức Thương mại thế giới WTO cũng có Thỏa thuận về những khía cạnh liên quan
đến thương mại của quyền sở hữu trí tuệ (Hiệp định TRIPS),
34
nằm trong Phụ lục 1C của
Tuyên bố Marakesh ngày 15 tháng 4 năm 1995 tại Morocco, thành lập tổ chức Thương mại
thế giới. Không giống như WIPO, tổ chức Thương mại thế giới có một cơ quan chuyên
trách giải quyết một cách hữu hiệu các xung đột về thương mại giữa các quốc gia thành
viên, trong đó có các tranh chấp có liên quan đến sở hữu trí tuệ. Chính vì vậy, thông qua
26 Locarno Agreement Establishing an International Classification for Industrial Designs
27 Strasbourg Agreement Concerning the International Patent Classification
28 Vienna Argreement Establishing an International Classification of the Figurative Elements of Marks
29 Singapore Treaty on the Law of Trademarks
30 Nairobi Treaty on the Protection of the Olympic Symbol
31

- Nghị định số 106/2006/NĐ-CP của Chính phủ ngày 22 tháng 9 năm 2006 quy định xử phạt
vi phạm hành chính về sở hữu công nghiệp;
- Nghị định số 100/2006/NĐ-CP ngày 21 tháng 9 năm 2006 quy định chi tiết và hướng dẫn
thi hành một số điều của BLDS, luật Sở hữu trí tuệ về quyền tác giả;
- Nghị định số 103/2006/NĐ-CP ngày 22 tháng 9 năm 2006 quy định chi tiết và hướng dẫn
thi hành một số điều của luật Sở hữu trí tuệ về sở hữu công nghiệp;
- Nghị định số 104/2006/NĐ-CP ngày 22 tháng 9 năm 2006 về việc quy định chi tiết, hướng
dẫn thi hành một số điều của luật Sở hữu trí tuệ về quyền đối với cây trồng;
- Nghị định số 105/2006/NĐ-CP ngày 22 tháng 9 năm 2006 quy định chi tiết và hướng dẫn
thi hành một số điều của Luật sở hữu trí tuệ và quản lí nhà nước về Sở hữu trí tuệ;
- Nghị định 47/2009/NĐ-CP Quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực quyền tác
giả, quyền liên quan;
- Nghị định số 109/2011/NĐ-CP ngày 02 tháng 12 năm 2011 sửa đổi, bổ sung một số điều
của Nghị định số 47/2009/NĐ-CP ngày 13 tháng 5 năm 2009 của Chính phủ quy định xử
phạt vi phạm hành chính về quyền tác giả, quyền liên quan.
Ngoài ra, còn một số luật và văn bản dưới luật khác do các cơ quan hữu quan ban hành có
liên quan đến Sở hữu trí tuệ thuộc lĩnh vực mình phụ trách. Ví dụ như các lĩnh vực hải quan,
xuất bản, điện ảnh, chuyển giao công nghệ…
35 Dispute Settlement Body
16
16
Ngày 19 tháng 6 năm 2009, Quốc hội khóa XII đã thông qua Luật số 36/2009/QH12 sửa
đổi, bổ sung một số điều của luật Sở hữu trí tuệ 2005. Luật mới này có hiệu lực từ ngày 01
tháng 01 năm 2010, theo đó, một số điều của luật 2005 được điều chỉnh thay đổi cho phù
hợp hơn. Một số văn bản dưới luật cũng được sửa đổi bổ sung, thay thế văn bản cũ cho phù
hợp với các điều chỉnh mới của Luật Sở hữu trí tuệ sửa đổi bổ sung 2009:
- Nghị định 97/2010/NĐ-CP ngày 21 tháng 9 năm 2010 xử phạt vi phạm hành chính trong
sở hữu công nghiệp, thay thế Nghị định 106/2006/NĐ-CP.
- Nghị định 85/2011/NĐ-CP ngày 20 tháng 9 năm 2011 của Chính phủ sửa đổi bổ sung một
số điều của Nghị định 100/2006/NĐ-CP ngày 21 tháng 9 năm 2006 quy định chi tiết và

- Chương I: Điều kiện bảo hộ quyền tác giả và quyền liên quan.
- Chương II: Nội dung, giới hạn quyền, thời hạn bảo hộ quyền tác giả, quyền liên quan.
- Chương III: Chủ sở hữu quyền tác giả, quyền liên quan.
17
17
- Chương IV: Chuyển giao quyền tác giả, quyền liên quan.
- Chương V: Chứng nhận đăng kí quyền tác giả, quyền liên quan.
- Chương VI: Tổ chức đại diện, tư vấn, dịch vụ quyền tác giả, quyền liên quan.
Phần ba: Quyền Sở hữu công nghiệp, gồm có 5 chương (từ chương VII đến chương XI), 99
điều (từ điều 58 đến điều 156). Nội dung điều chỉnh các vấn đề có liên quan đến sở hữu
công nghiệp.
- Chương VII: Điều kiện bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp đối với các đối tượng sáng
chế, kiểu dáng công nghiệp, thiết kế bố trí, nhãn hiệu, tên thương mại, chỉ dẫn địa lí, bí mật
kinh doanh.
- Chương VIII: Xác lập quyền sở hữu công nghiệp đối với sáng chế, kiểu dáng công
nghiệp, thiết kế bố trí, nhãn hiệu, chỉ dẫn địa lí.
- Chương XIX: Chủ sở hữu, nội dung và giới hạn quyền sở hữu công nghiệp.
- Chương X: Chuyển giao quyền sở hữu công nghiệp.
- Chương XI: Đại diện sở hữu công nghiệp, quy định các vấn đề liên quan đến dịch vụ đại
diện quyền sở hữu công nghiệp như phạm vi đại diện, trách nhiệm đại diện, điều kiện để
kinh doanh dịch vụ đại diện sở hữu công nghiệp.
Phần bốn: Quyền đối với cây trồng, bao gồm 4 chương (từ chương XII đến chương XV),
trong đó có 41 điều (từ điều 157 đến điều 197). Cụ thể:
- Chương XI: Điều kiện bảo hộ quyền đối với giống cây trồng. Quy định về tổ chức, cá
nhân được bảo hộ quyền đối với giống cây trồng, các điều kiện về các tính chất để được bảo
hộ.
- Chương XIII: Xác lập quyền đối với giống cây trồng, thủ tục xử lí đơn xin đăng kí bảo
hộ.
- Chương XIV: Nội dung và giới hạn quyền đối với giống cây trồng.
- Chương XV: Chuyển giao quyền đối với giống cây trồng.

ước hợp tác sáng chế; Thỏa ước Madrid về đăng kí quốc tế nhãn hiệu; Nghị định thư liên
quan đến thỏa ước Madrid về đăng kí quốc tế nhãn hiệu;
38
Công ước UPOV; Hiệp định
TRIPS.
Các điều ước song phương. Hiện nay, trong một số điều ước song phương mà Việt Nam kí
kết có nội dung liên quan đến sở hữu trí tuệ, như: Hiệp định song phương Việt – Mỹ; Hiệp
định Việt Nam – Thụy Sỹ về bảo hộ sở hữu trí tuệ và hợp tác trong lĩnh vực sở hữu trí tuệ;
Hiệp định hợp tác khoa học và công nghệ giữa Việt Nam và Mỹ; Hiệp định đối tác kinh tế
Việt Nam – Nhật Bản.
39
1.3.4. Quản lí nhà nước về Sở hữu trí tuệ
Trước khi ban hành Luật Sở hữu trí tuệ 2005 thì trách nhiệm quản lí nhà nước về sở hữu trí
tuệ được phân công như sau:
- Bộ Khoa học và Công nghệ quản lí nhà nước về quyền sở hữu công nghiệp và quyền tác
giả đối với các tác phẩm không thuộc lĩnh vực văn học, nghệ thuật.
- Bộ Văn hoá - Thông tin quản lí nhà nước về quyền tác giả đối với tác phẩm thuộc lĩnh vực
văn học nghệ thuật.
- Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn quản lí nhà nước về quyền đối với giống cây
trồng.
Hiện nay, trách nhiệm quản lí được quy định cụ thể bao gồm:
40
- Chính phủ thống nhất quản lí nhà nước về sở hữu trí tuệ.
- Bộ Khoa học và Công nghệ chịu trách nhiệm trước Chính phủ chủ trì, phối hợp với Bộ
Văn hoá - Thể thao – Du lịch, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn thực hiện quản lí nhà
nước về sở hữu trí tuệ và thực hiện quản lí nhà nước về quyền sở hữu công nghiệp.
- Bộ Văn hoá – Thể thao – Du lịch trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình thực hiện
quản lí nhà nước về quyền tác giả và quyền liên quan.
- Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình
thực hiện quản lí nhà nước về quyền đối với giống cây trồng.

QUYỀN TÁC GIẢ - QUYỀN LIÊN QUAN
Bài 2 - QUYỀN TÁC GIẢ
Quyền tác giả là một trong hai đối tượng quan trọng nhất của Sở hữu trí tuệ, được đề
cập đến trên phạm vi quốc tế lần đầu tiên bởi công ước Berne 1886. Không như các đối
tượng khác của Sở hữu trí tuệ, quyền tác giả chủ yếu bảo hộ hình thức thể hiện của ý
tưởng chứ không bảo hộ chính các ý tưởng đó. Việc bảo hộ bản quyền có liên quan
chặt chẽ đến việc khuyến khích, làm giàu và phổ biến di sản văn hóa quốc gia. Khi nói
đến luật bản quyền, người ta không chỉ nhắc đến việc bảo vệ quyền của những người
sáng tạo ra các tác phẩm, mà còn bảo vệ quyền cho cả những người góp phần phổ biến
tác phẩm đến công chúng.
2.1. KHÁI QUÁT CHUNG
2.1.1. Khái niệm quyền tác giả
Công ước Berne không có điều khoản nào định nghĩa về quyền tác giả. Tuy nhiên, khái
niệm này lại được quy định rõ trong luật Việt Nam. Khoản 2 điều 4 Luật sở hữu trí tuệ 2005
xác định: quyền tác giả là quyền của tổ chức, cá nhân đối với tác phẩm do mình sáng tạo ra
hoặc sở hữu.
Như vậy, quyền tác giả được trao cho hai loại chủ thể: tác giả và chủ sở hữu. Tuy nhiên,
theo khái niệm trên thì chủ sở hữu được đề cập đến là chủ sở hữu đối với tác phẩm, chứ
không phải là chủ sở hữu quyền tác giả. Cách quy định này không phù hợp với quy định của
BLDS hiện hành, vốn đã bỏ thuật ngữ chủ sở hữu tác phẩm, thay vào đó là thuật ngữ chủ sở
hữu quyền tác giả.
Ta có thể xây dựng một khái niệm khác về quyền tác giả phù hợp hơn với quy định của luật
hiện hành: “Quyền tác giả liên quan đến một tác phẩm là quyền của các tổ chức, cá nhân
nắm giữ các quyền nhân thân và tài sản liên quan đến tác phẩm đó”.
Quyền tác giả bảo vệ cho sự sáng tạo và quyền sở hữu. Sự sáng tạo chỉ liên quan đến
người tác giả, còn quyền sở hữu, có thể dành cho những chủ thể khác không phải là tác giả
sáng tạo. Từ cách xem xét quyền tác giả như trên, dẫn đến việc chủ thể của quyền tác giả có
thể chỉ là tác giả sáng tạo ra tác phẩm hoặc chủ sở hữu quyền tác giả, hoặc chủ thể có thể
bao gồm cả hai tư cách là tác giả và chủ sở hữu quyền tác giả. Đối với tác giả sáng tạo ra tác
phẩm thì chỉ xét tư cách cá nhân, đối với chủ sở hữu quyền tác giả thì có thể là cá nhân hoặc

ngoài có tác phẩm được sáng tạo và thể hiện dưới hình thức vật chất nhất định tại Việt
Nam; (c) Cá nhân nước ngoài có tác phẩm được công bố lần đầu tiên tại Việt Nam; (d) Cá
nhân nước ngoài có tác phẩm được bảo hộ tại Việt Nam theo Điều ước quốc tế về quyền tác
giả mà Việt Nam là thành viên.
Như vậy, theo quy định của pháp luật hiện hành, thì người sáng tạo một phần tác phẩm cũng
được coi là tác giả.
43
Cần lưu ý, tổ chức, cá nhân làm công việc hỗ trợ, góp ý kiến hoặc cung
cấp tư liệu cho người khác sáng tạo ra tác phẩm không được công nhận là tác giả. Ngay cả
khi những phần đóng góp đó có thể là các tác phẩm độc lập, thì những người tác giả của các
phần độc lập đó cũng không được coi là tác giả của tác phẩm được hình thành sau.
Ví dụ 1: Ông C kể lại chuyện đời của mình trong thời chiến tranh cho ông D nghe
trong một lần nói chuyện. Ông D sau đó viết thành tiểu thuyết. Như vậy, ông D được
coi là tác giả duy nhất của tiểu thuyết này.
Ví dụ 2: Nhà xuất bản A sử dụng 10 truyện ngắn của 10 tác giả khác nhau để tạo nên
tuyển tập truyện ngắn, thì quyền tác giả của tuyển tập thuộc về Nhà xuất bản A, chứ
không phải 10 tác giả của các tác phẩm thành phần.
Đồng tác giả. Việc sáng tạo ra tác phẩm phải là công việc trực tiếp của người tác giả. Luật
thừa nhận một người tác giả ngay cả trong trường hợp người đó chỉ sáng tạo một phần của
tác phẩm.
44
Trường hợp có hai hay nhiều người cùng sáng tạo ra tác phẩm thì những người
đó là đồng tác giả. Trong thực tế, thuật ngữ “đồng tác giả” có khi được gọi thành “tập thể
tác giả”. Trong một số trường hợp, một hoặc một số đồng tác giả có vai trò quan trọng hơn
trong việc hình thành tác phẩm có thể được gọi là “chủ biên”, tuy nhiên, theo quy định hiện
hành, các đồng tác giả đều có quyền như nhau đối với đóng góp của mình trong tác phẩm.
Phần đóng góp của mỗi đồng tác giả có khi được thể hiện rõ ràng trong tác phẩm, có khi
không được thể hiện rõ.
45
42 Tuy nhiên, cách dùng thuật ngữ bản quyền đôi khi áp dụng cho cả đối tượng quyền liên quan, tức được hiểu theo

47
Khái niệm mới mang tính bao quát hơn so với khái niệm cũ, vì trên thực tế,
các chủ thể nắm giữ các quyền tài sản của quyền tác giả đối với một tác phẩm có thể rất
nhiều, nhưng không phải là các đồng chủ sở hữu tác phẩm.
Luật hiện hành xác định các tổ chức, cá nhân nào nắm giữ một, một số hoặc toàn bộ các
quyền tài sản của quyền tác giả được xem như là chủ sở hữu quyền tác giả. Như vậy, điều
kiện để trở thành chủ sở hữu quyền tác giả dễ dàng hơn điều kiện trở thành chủ sở hữu tác
phẩm.
Chủ sở hữu quyền tác giả có thể là tác giả; các đồng tác giả; các tổ chức, cá nhân giao
nhiệm vụ cho tác giả hoặc giao kết hợp đồng với tác giả; người được thừa kế quyền tác giả;
người được chuyển giao quyền thông qua hợp đồng. Chủ thể sở hữu quyền tác giả bao gồm
các đối tượng sau:
- Tổ chức, cá nhân Việt Nam;
45 Tuy nhiên, theo Pháp lệnh Bảo hộ quyền tác giả 1994, thì có sự khác biệt về vai trò và quyền của người chủ biên và
các đồng tác giả khác. Cụ thể là người chủ biên của một tác phẩm có quyền công bố, bảo vệ toàn vẹn tác phẩm, cho
hoặc không cho phép người khác sử dụng tác phẩm, trong khi các đồng tác giả khác không phải là chủ biên thì không có
những quyền này. Hiện nay, theo quy định của Luật xuất bản, thì người chủ biên cũng được đề cập đến, nhưng không
xác định rõ sự khác biệt của người này so với các đồng tác giả khác
46 Điều 741 BLDS 2005
47 Nhìn chung, dùng từ “chủ sở hữu quyền tác giả” thì hợp lí hơn. Tuy nhiên, một số văn bản sau đó vẫn còn dùng khái
niệm cũ. Ví dụ: Điều 19 Luật xuất bản 2004 sđbs 2008 quy định: “Việc xuất bản tác phẩm, tái bản xuất bản phẩm chỉ
được thực hiện sau khi có hợp đồng với tác giả hoặc chủ sở hữu tác phẩm theo quy định của pháp luật.” Hiện nay, Luật
xuất bản 2012 đã quy định lại cho phù hợp “Việc xuất bản tác phẩm, tài liệu và tái bản xuất bản phẩm chỉ được thực
hiện sau khi có văn bản chấp thuận của tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả theo quy định của pháp luật” (Điều 21 –
Quyền tác giả trong lĩnh vực xuất bản)
23
23
- Tổ chức, cá nhân nước ngoài có tác phẩm được sáng tạo và thể hiện dưới hình thức
vật chất nhất định tại Việt Nam;
- Tổ chức, cá nhân nước ngoài có tác phẩm được công bố lần đầu tiên tại Việt Nam;

thành các chương, mỗi chương do một tác giả khác nhau viết nên. Như vậy, nếu như có tổ
chức, cá nhân khác muốn sử dụng phần nội dung thuộc chương nào, thì chỉ cần xin phép
người có quyền tác giả đối với chương đó.
Chủ sở hữu quyền tác giả là tổ chức, cá nhân giao nhiệm vụ cho tác giả hoặc giao kết hợp
đồng với tác giả.
50
Theo luật Việt Nam hiện hành thì trong cả hai trường hợp, người giao
nhiệm vụ cho tác giả hoặc giao kết hợp đồng với tác giả để tạo nên tác phẩm thì nắm giữ
quyền công bố tác phẩm và tất cả các quyền tài sản liên quan đến tác phẩm đó. Như vậy,
cũng trong cả hai trường hợp, người tác giả vẫn nắm giữ các quyền nhân thân, trừ quyền
công bố tác phẩm, nếu như không có thỏa thuận khác.
Quy định của một số quốc gia có đôi chút khác biệt với luật Việt Nam. Một số nước coi việc
giao kết hợp đồng tạo ra một tác phẩm giống như một hợp đồng li-xăng quyền tác giả, nghĩa
là người thuê tạo ra tác phẩm chỉ có quyền sử dụng tác phẩm theo các nội dung đã được ghi
48 Điều 37 luật Sở hữu trí tuệ 2005
49 Điều 38 luật Sở hữu trí tuệ 2005
50 Điều 39 luật Sở hữu trí tuệ 2005
24
24
rõ trong hợp đồng. Chủ sở hữu quyền tác giả, theo đó, vẫn là người tác giả sáng tạo nên tác
phẩm đó. Nếu người thuê tạo tác phẩm muốn sử dụng tác phẩm theo những mục đích khác
ngoài phạm vi hợp đồng thì phải tiến hành các thủ tục xin phép, trả tiền bản quyền theo quy
định.
51
Chủ sở hữu quyền tác giả là người thừa kế.
52
Quyền tác giả cũng như nhiều quyền khác, có
thể được để thừa kế theo quy định chung về thừa kế. Tuy nhiên, chỉ có các quyền có thể
chuyển giao – mang tính chất tài sản – bao gồm các quyền tài sản của quyền tác giả và
quyền công bố là có thể được để thừa kế. Do đó, một người chỉ có thể được kế thừa các

thể hiện bằng bất kỳ phương tiện hay hình thức nào.
Theo Điều 2 Công ước Berne, thì “ Thuật ngữ "Các tác phẩm văn học và nghệ thuật" bao
gồm tất cả các sản phẩm trong lĩnh vực văn học, khoa học và nghệ thuật, bất kỳ được biểu
hiện theo phương thức hay dưới hình thức nào, chẳng hạn như sách, tập in nhỏ và các bản
viết khác, các bài giảng, bài phát biểu, bài thuyết giáo và các tác phẩm cùng loại; các tác
phẩm kịch, hay nhạc kịch, các tác phẩm hoạt cảnh và kịch câm, các bản nhạc có lời hay
51 Xem IP Panorama – một giáo trình điện tử do WIPO, KIPO – Cơ quan sở hữu trí tuệ Hàn Quốc và KIPA – Hiệp hội
thúc đẩy sáng chế Hàn Quốc hợp tác sản xuất, nhằm truyền đạt các kiến thức cơ bản về sở hữu trí tuệ cho các doanh
nghiệp, link: http://www.wipo.int/sme/en/multimedia/, cập nhật ngày 27-6-2013
52 Điều 40 luật Sở hữu trí tuệ 2005
53 Điều 41 luật Sở hữu trí tuệ 2005
54 Quy định cụ thể tại điều 42 Luật sở hữu trí tuệ 2005
55 Tuy nhiên, khi công chúng sử dụng tác phẩm đã hết thời hạn bảo hộ quyền tài sản thì vẫn phải tôn trọng các quyền
nhân thân của tác giả
25
25

Trích đoạn Khoản 4 điều 87 luật Sở hữu trí tuệ 2005 163 Điểm h, khoản 2 điều 3 Nghị định 103 sđbs Điểm 42.4 Thông tư 01/2007/TT-BKHCN Xem điều 87 luật SHTT Xem điều 136, điều 95 luật SHTT Điều 11 Nghị định 105/2006/NĐ-CP
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status