Bài tiểu luận tâm lí học
Chủ đề: Tình yêu
1. Khái niệm chung về tình yêu
a. Một số quan niệm về tình yêu
Có rất nhiều quan niệm phức tạp về tình yêu. Có người cho tình yêu là vấn
đề lãng mạn, ủy mị, không đứng đắn. Có người cho rằng tình yêu chỉ là chuyện
riêng của tuổi trẻ, của thanh niên. Khi con người đã có gia đình hoặc khi lớn tuổi
không còn tình yêu nữa
Nhiều thanh niên thường lầm lẫn giữa tình yêu và tình dục, hoặc cho rằng
tình yêu tức là tình dục, tình yêu là không thể hiểu được, hoặc tình yêu là duyên số
trời định
Những quan niệm trên đây là những quan niệm chưa đầy đủ, chưa đúng đắn
về tình yêu
Theo Tâm lí học xã hội ( Bùi Văn Huệ ): tình yêu là một dạng đặc biệt của
tình cảm, đó là sự rung cảm của hai trái tim khác giới, sự hòa hợp của hai tâm hồn
và có nhu cầu về sự giao tiếp tinh thần cũng như gần gũi về mặt cơ thể
Theo tác giả Đặng Xuân Hoài: tình yêu là tình cảm đặc biệt thúc đẩy hai
người khác giới đi đến hòa hợp với nhau về tâm hồn, thể xác cả cuộc đời
Theo tác giả Phạm Hoàng Gia: tình yêu là một tình cảm đặc biệt bắt đầu từ
lòng nhân ái của con người, vượt ra khỏi vỏ cá nhân của mình để đi đến hòa hợp
trọn vẹn cả về tâm hồn, thể chất là cả cuộc đời với người khác giới. Trong đó mỗi
bên đều trở nên phong phú đa dạng hơn nhờ bên kia
1
Nhà triết gia cổ Ấn Độ: có ba sự say mê: sự say mê tâm hồn dẫn đến tình
bạn, sự say mê trí tuệ dẫn đến lòng kính trọng, sự say mê về thể xác dẫn đến ham
muốn. Cả ba sự say mê này sẽ dẫn đến tình yêu
Theo Ôxô ( tác phẩm từ Dục đến Thiền, Hành trình đến tình yêu chân
chính): tình yêu là gì? Cảm giác về nó thật dễ nhưng định nghĩa rất khó. Những
điều trong cuộc sống có thể thể nghiệm, tìm kiếm nhưng định nghĩa về nó rất khó.
Từ đó ta có thể đưa ra khái niệm chung về tình yêu
b. Khái niệm chung về tình yêu
tượng đó mà hết lòng
Tình yêu nam nữ là có tình cảm thắm thiết dành riêng cho một người khác
giới nào đó muốn chung sống và cùng nhau gắn bó cuộc đời
Thích là có cảm giác bằng lòng, dễ chịu khi tiếp xúc với cái gì hay làm việc
gì khiến muốn tiếp xúc thường xuyên với ai đó hoặc làm việc đó
Rung cảm giới tính xuất hiện khi trẻ 3-6 tuổi theo Freud.
Theo các nhà tâm lí học hiện đại thì rung cảm giới tính xuất hiện từ tuổi dậy
thì do tuổi này có hoocmôn giới tính gửi vào máu khiến nam nữ thanh niên đặc biệt
nhạy cảm với các kích thích tính dục, kích thích đến từ giới khác: quan tâm đến
người khác giới, bị hấp dẫn bởi người khác giới, làm cho mình hấp dẫn. Kích thích
3
đối với nam có thể là vẻ xinh đẹp, da dẻ mịn màng, ánh mắt đen, đối với nữ có
thể là những chàng trai cao to, khỏe mạnh, rắn chắc,
Như vậy thanh niên bị hấp dẫn bởi những đặc điểm, đặc trưng của giới khác
( thị giác, thính giác, khứu giác). Sự động chạm của bản thân vào cơ quan sinh dục
ngoài của chính nam nữ thanh niên cũng đem lại những cảm xúc tình dục. Điều đó
làm thanh niên có những suy nghĩ một cách tự giác hay không tự giác về vấn đề
giới tính như hứng thú với những tri thức giới tính, thích truyện ngắn, tiểu thuyết
phim liên quan đến giới tính, những tài liệu có tính kích dục. Có những quan tâm,
để ý đến người khác giới và bắt đầu có những thái độ nhất định đối với người khác
giới: thích, không thích, nhớ nhung, thường xuyên nghĩ đến, ngưỡng mộ. Thanh
niên đã cảm thấy từ nơi sâu kín trong lòng tồn tại sự hấp dẫn của một người thuộc
giới khác, tìm cách gặp gỡ, gần gũi, quan tâm, để gây sự hấp dẫn với người khác
giới khác. Những cảm xúc thu được khi có sự động chạm vào cơ thể, vào cơ quan
sinh dục, là cơ sở, nền tảng của hoạt động giao lưu tình dục cho tình yêu hay vợ
chồng sau này
2.2. Nhân tố tâm lí
Là sự hòa hợp về mặt tình cảm, được nảy sinh trên cơ sở các rung cảm: thẩm
mĩ, trí tuệ, đạo đức, là sự thống nhất về tư tưởng, sự hòa hợp về niềm tin, lí tưởng,
sự gần gũi về tính cách, hứng thú.
Chính tình cảm mãnh liệt, cường độ cao làm cho tình yêu có sức mạnh to lớn
thúc đẩy con người làm được những việc mà bình thường không làm được. Tuy
nhiên nếu quá lãng mạn thì tình yêu sẽ quá xa rời thực tế, không còn hiện thực nữa.
Nhưng không thể tách rời lí chí và tình cảm mà cần có trí tuệ xúc cảm ở mức độ
cao ( con tim sáng suốt )
Tình yêu thể hiện sự chân thành, tin cậy và tôn trọng lẫn nhau: hòa nhập cả tâm
hồn, thể xác, mỗi người đều mong muốn sự chân thành, được sống thực với bản
thân mình, có thể sống thành thực và hết lòng vì người mình yêu bởi chính điều đó
sẽ làm con người cảm thấy được an toàn, được che chở. Tôn trọng thể hiện ở việc
nhìn nhận người yêu có cá tính riêng. Mỗi người trong tình yêu phải tôn trọng
người khác và phải tôn trọng bản thân mình. Phải sống đúng với mình chứ không
sống theo ý người yêu. Tức là tôn trọng bản sắc, cá tính của người mình yêu nhưng
cũng cần điều chỉnh nếu vi phạm chuẩn mực cộng đồng.
Tình yêu thể hiện sự quan tâm, giúp đỡ, có trách nhiệm với nhau về mọi mặt:
“Yêu một người chính là mong muốn người đó hạnh phúc, điều đó phủ định tâm lí
tự tư, tâm lí vị kỉ của cá nhân”, nói lên giá trị đạo đức trong tình yêu
Trong tình yêu bản chất là cho đi mà không nhận lại. Bản chất dâng hiến, hết
lòng vì người mình yêu. Tuy nhiên không nên chỉ cho và nhận từ một phía mà phải
từ hai phía. Quan tâm, chăm sóc lẫn nhau không mang tính chất trao đổi nhưng
tình yêu phải đủ sức đánh thức tình yêu từ người kia ( Liệu hai người có phải là
dành cho nhau hay không), tình yêu không chỉ có tình thương
Tính không chia sẻ được của tình yêu: sự chung thủy vì mỗi người trong tình
yêu đều có nhu cầu được chung thủy, được là duy nhất, là nhu cầu rất lành mạnh
và hợp lí
6
Sự cảm nhận có cơ sở rất hiện thực đó là sự tồn tại của người yêu. Người yêu là
tổng thể khác của mình do đó sự chiếm hữu trọn vẹn, tuyệt đối là biểu hiện tồn tại
trọn vẹn, tuyệt đối của chính mình đồng thời cũng là người ý thức được rằng đó là
sự toàn vẹn tình yêu của mình
Mong muốn mình luôn là người quan trọng với người mình yêu. Nên tin tưởng,
- Không nên tìm cách trả thù
- Không nên vùi đầu vào các chất kích thích
4.3. Giai đoạn hòa hợp và hợp nhất
Đây là giai đoạn tình yêu đã chín. Có thể công bố quyền sở hữu ngôi nhà của
tình yêu bằng đám cưới
4.4. Sự khác biệt tâm lí nam và nữ trong tình yêu
Đối với nữ: theo các nhà tâm lí học Trung Quốc:
- Thường rơi vào tâm lí bị động, tình huống bị động, các cô gái tự làm
mình trở nên hấp dẫn
- Yêu cầu cuộc sống tình cảm hôn nhân rất cao: nữ thường thận trọng trong
tình yêu. Nữ đề cao phẩm chất trung thủy trong tình yêu. Nữ chú ý nhiều
đến yếu tố ở nam giới tạo ra sự hấp dẫn về mặt tinh thần như trí tuệ,
phong cách, năng lực, đạo đức,
- Nữ thường có tâm lí nương tựa “ Nấp bóng tùng quân”, tâm lí phụ thuộc
đặc biệt là những người có học vấn không cao, thu nhập ít
8
- Hiện nay phụ nữ có nghề nghiệp, vị thế cao nên sự mong muốn hòa hợp
về mặt tinh thần đặt lên cao. Tuy nhiên nữ sống nặng về tình cảm nên nữ
thường quá lí tưởng hóa người mình yêu do đó khó tìm được người yêu
- Nam: xu thế chung là coi trọng hình thức bề ngoài. Thích phụ nữ dịu
dàng, thông minh vừa phải, họ sợ những người phụ nữ quá thông minh vì
họ muốn xác lập vị thế cao trong gia đình. Nam giới thích phụ nữ quan
tâm, hiền thảo, Điều kiện xã hội của phụ nữ thì nam giới không quan
tâm lắm. Nam mong muốn được đối xử tình cảm, dịu dàng thậm chí nũng
nịu nên họ thường yêu người ít tuổi hơn. Có sự mâu thuẫn giữa mong
muốn yêu người vợ xinh đẹp nhưng lại muốn có người vợ hiền thảo vì
vậy nam thường khó xử khi có người vợ hiền nhưng không xinh
5. Tình dục trước hôn nhân
Tình dục là bản năng đặc biệt của con người ( có người gọi hiện tượng này
là quan hệ sinh lí trong tình yêu). Tuy nhiên từ “tình dục” được dùng phổ biến hơn.
được yêu hay không và được yêu nhiều hay ít
- Tính hai mặt của tình dục trong tình yêu: tình dục như là con dao hai lưỡi
trong tình yêu, nó có thể làm tình yêu phát triển mãnh liệt và cũng có thể
bóp chết tình yêu. Đó là tác dụng tích cực và tiêu cực của tình dục đối với
tình yêu
Tình dục thường có tác dụng tiêu cực với tình yêu khi mức độ của tình dục
không phù hợp với mức độ của tình yêu, không phù hợp với người yêu, với quan
niệm, đạo đức xã hội
10
Chẳng hạn: mức độ tình yêu cao ( sâu sắc, mãnh liệt) nhưng mức độ của tình
dục quá thấp: hai người yêu nhau đã lâu mà không có hoặc ít có những rung cảm
tình dục khi ở bên nhau. Trường hợp này thường làm cho tình yêu trở nên cứng
nhắc, nhạt nhẽo, đơn điệu và thường đi đến tan vỡ. Tuy nhiên tác dụng tiêu cực
xảy ra phổ biến trong trường hợp, mức độ yêu đương còn thấp nhưng đòi hỏi tình
dục của một bên ( thường là ở người nam giới ) lại quá cao, quá nhiều hoặc thô
bạo. Việc quan hệ tình dục ở mức “sâu sắc nhất” trong lứa tuổi vị thành niên, đặc
biệt là trước hôn nhân, thường tạo ra những mặc cảm tội lỗi, dễ nhàm chán nhau,
dễ coi thường lẫn nhau, dễ dẫn tới “hậu quả nghiêm trọng” dẫn đến sự tan vỡ
trong tình yêu
Tình dục lại có thể tạo nên những ảnh hưởng tích cực đối với tình yêu: làm
cho tình yêu phát triển mạnh hơn, nồng nàn hơn, sâu sắc hơn, đẹp đẽ hơn Ảnh
hưởng tích cực này thường xuất hiện trong trường hợp những rung cảm tình dục
phù hợp với mức độ yêu thương, với quan niệm, cá tính của người yêu, với đạo
đức, phong tục tập quán của xã hội
Tình dục đẹp xuất phát điểm từ sự yêu thương, trân trọng, có trách nhiệm.
- Phải thật sự thoải mái khi quan hệ
- Phải hiểu rất rõ về điều đó, hiểu được hậu quả của nó và phải có trách
nhiệm từ chính bản thân mình và từ người khác
Tránh tư tưởng coi tình dục là xấu
Những người liên hệ phải tỏ ra mình là người có trách nhiệm
12
Trong quá trình phát triển của tình yêu, thường có nhiều vấn đề phức tạp có thể
xuất hiện như:
- Hiện tượng “mẫu người yêu lí tưởng”
- Hiện tượng “tiếng sét trong tình yêu”
- Hiện tượng “chạy đuổi trong tình yêu”
- Sự thất bại trong tình yêu
- Hiện tượng ngộ nhận trong tình yêu
- Vấn đề chinh phục tình yêu
- Sự nhàm chán trong tình yêu
- Hình thành các dạng tình yêu mới
- Nghệ thuật ứng xử trong tình yêu
- Những biểu hiện chưa tốt trong tình yêu của thanh niên hiện nay
Tài liệu tham khảo:
1. Tâm lí học giới tính và giáo dục giới tính – Nhà xuất bản giáo dục, 2006,
PGS.TS Bùi Ngọc Oánh
2. Từ điển Tiếng Việt – Tạ Minh Ngọc, NXB Thanh niên năm 2010
3. Tâm lí học xã hội – Bùi Văn Huệ ( chủ biên ), NXB Đại học Quốc gia Hà
Nội năm 2003
4. Giới đàn ông – Junichi, NXB Văn hóa thông tin, 2002
5. Trò chuyện về tình yêu, giới tính, sức khỏe – BS Nguyễn Quỳnh Trang,
2008
13