Sử dụng thực vật làm sinh vật chỉ thị trong xử lý ô nhiễm môi trường - Pdf 23

MỤC LỤC
II. NỘI DUNG 3
2.1. Những hiểu biết chung về chỉ thị sinh học môi trường 3
2.1.1. Những khái niệm về sinh vật chỉ thị môi trường 3
2.1.2. Dấu hiệu sinh học của sinh vật chỉ thị 8
2.2. Vai trò của chỉ thị sinh học trong nghiên cứu, đánh giá và xử lý môi
trường 11
2.2.1. Trong đánh giá môi trường 11
2.2.2. Trong xử lý ô nhiễm môi trường 12
2.3. Phương pháp sử dụng chỉ thị sinh học trong xử lý ô nhiễm môi trường
14
2.3.1. Sử dụng chỉ số sinh học 14
2.3.2. Sử dụng sinh vật tích tụ 16
2.3.4. Xây dựng bản đồ ô nhiễm 18
2.3.5. Phương pháp so sánh 18
2.3.6. Sử dụng vi sinh vật 18
2.3.7. Sử dụng các loài đặc hữu, quý hiếm 19
2.3.8. Phương pháp diễn thế 19
2.4. Sử dụng sinh vật trong xử lý ô nhiễm môi trường 19
2.4.1. Xử lý ô nhiễm môi trường nước 19
2.4.2. Xử lý ô nhiễm môi trường không khí 23
2.4.3. Xử lý ô nhiễm môi trường đất 27
III. KẾT LUẬN 29
IV. TÀI LIỆU THAM KHẢO 29
1
I. MỞ ĐẦU
Môi trường là một vấn đề mang tính chất toàn cầu. Hiện nay, chất lượng
môi trường đang bị suy thoái nghiêm trọng bởi các hoạt động phát triển kinh tế
của con người. Môi trường ô nhiễm, suy thoái đã và đang ảnh hưởng tiêu cực đến
cuộc sống của con người. Nhận thức được vấn đề đó, con người đã áp dụng nhiều
công nghệ trong xử lý ô nhiễm môi trường.

O
2
, chất độc và các chất gây ô nhiễm khác.
2.1.1.2. Cơ sở của việc sử dụng sinh vật làm chỉ thị môi trường
Thành phần loài của một quần xã sinh vật được xác định bởi các yếu tố môi
trường. Do đó, tất cả các cơ thể sống đều chịu tác động của các yếu tố môi trường
sống. Môi trường sống này cũng có thể bị ảnh hưởng từ môi trường xung quanh,
đặc biệt bị tác động mạnh bởi các điều kiện vật lý và hoá học.
Một vài yếu tố tác động vào môi trường có thể hoặc không gây hại cho sinh
vật nào đó, thì sinh vật này sẽ bị hoặc không bị loại trừ ra khỏi quần thể và làm nó
trở thành sinh vật chỉ thị cho môi trường.
Sự hiểu biết về tác động của các yếu tố môi trường lên cơ thể sống có thể
xác định sự có mặt và mức độ có của nhiều chất trong môi trường.
Như vây cơ sở cho việc sử dụng sinh vật làm vật chỉ thị môi trường dựa
trên hiểu biết về khả năng chống chịu của sinh vật với các yếu tố của điều kiện
sinh thái (yếu tố vô sinh) với tác động tổng hợp của chúng. Các yếu tố sinh thái vô
sinh của môi trường có thể là: ánh sáng, nhiệt độ, nước hay ẩm độ, các chất khí,
các chất dinh dưỡng dễ tiêu.
3
2.1.1.3. Tác động của các yếu tố vô sinh lên sinh vật
Ánh sáng:
Ánh sáng cần cho các hoạt động sống bình thường của động vật, cung cấp một
số chất cần thiết cho động vật.
Ánh sáng có vai trò đặc biệt quan trọng đối với thực vật: c ường độ và thời
gian tác động của ánh sáng có ảnh hưởng rất lớn đến quá trình quang hợp, tổng
hợp và tích lũy các chất trong cây.
Theo phản ứng với ánh sang, sinh vật được chia thành hai nhóm: ưa sáng và ưa
tối
+ Ưa sáng: phi lao, bồ đề , thuốc lá, cà rốt , lúa , ngô
+ Ưa tối: cà độc dược, hành , dương xỉ, rêu, tảo silic (có khả năng quang

cho sinh vật và xử lý một phần các chất khí ô
nhiễm.
Khi thành phần, tỷ trọng các chất khí trong khí quyển thay đổi, có thể gây hại
cho sinh vật.
Thực vật có vai trò quan trọng trong xử lý các chất khí gây ô nhiễm môi trường
(ví dụ như CO
2
, SO
2
, ).
Các chất khoáng hòa tan (muối):
Chất khoáng có vai trò quan trọng trong cơ thể sinh vật, giúp điều hoà các quá
trình sinh hoá, áp suất thẩm thấu của dịch mô và các hoạt động chức năng khác.
Sinh vật có khả năng hấp thu chất khoáng khác nhau:
+ Đối với cây trồng dinh dưỡng khoáng quyết định đến tình trạng sinh
trưởng, năng suất, chất lượng sản phẩm cây trồng.
+ Theo yêu cầu dinh dưỡng của thực vật có 14 chất khoáng là dinh dưỡng
thiết yếu cần cung cấp, được chia thành 3 nhóm theo nhu cầu: đa lượng (N, P, K),
trung lượng (Ca, Mg, S, Si) và vi lượng (Fe, Mn, Cu, Zn, Bo, Mo, Cl). Ngoài ra
còn có 3 nguyên tố sẵn có trong cơ thể thực vật mà không cần pahir đưca vào là C,
H, O.
Hàm lượng các chất khoáng trong môi trường mất cân đối có thể dẫn đến rối
loạn quá trình trao đổi chất, làm sinh vật mắc bệnh.
2.1.1.4. Khả năng biến đổi để thích nghi của sinh vật khi môi trường thay đổi
Sự phản hồi của sinh vật đối với tác động từ môi trường:
5
Sinh vật phản ứng lên tác động của môi trường bằng hai phương thức: chạy
trốn (động vật), hoặc thích nghi.
Sự thích nghi của sinh vật có thể : thích nghi hình thái và thích nghi di truyền.
+ Thích nghi hình thái xảy ra trong suốt thời gian sống của cơ sinh vật dưới

đánh giá tình trạng sinh thái, đặc biệt là điều kiện khu cần bảo tồn.
2.1.1.5. Phân nhóm sinh vật chỉ thị
Các sinh vật chỉ thị môi trường có thể phân thành các nhóm theo tác dụng
khác nhau:
Tác dụng giải đoán môi trường là các loài sinh vật chi thị mẫn cảm với điều
kiện môi trường không thích hợp, có thể sử dụng chúng làm công cụ để nhận biết
tình trạng môi trường.
Tác dụng thăm dò là những loài sinh vật chỉ thị thích nghi đối với môi trường
nhất định, sự xuất hiện của chúng có thể dùng để đo phản ứng và thích nghi đối
với sự thay đổi của môi trường.
Tác dụng khai thác là các loài sinh vật chỉ thị có thể chỉ thị rõ cho sự xáo trộn
hay ô nhiễm môi trường.
Tác dụng tích luỹ sinh học là các loài sinh vật chỉ thị có khả năng tích luỹ các
hoá chất trong mô của chúng.
Sinhh vật thử nghiệm là các sinh vật được chọn lọc để nghiên cứu trong điều
kiện thí nghiệm nhằm xác định các chất ô nhiễm.
2.1.1.6. Tính chất của sinh vật chỉ thị
Sinh vật chỉ thị có khả năng chống chịu với các yếu tố vô sinh của môi
trường và tác động tổng hợp của chúng.
Đặc điểm phản hồi tác động của nhân tố môi trường lên sinh vật chỉ thị
bằng 2 hình thức chạy trốn hay thích nghi.
Tính chỉ thị môi trường của sinh vật chỉ thị được thể hiện ở các bậc khác
nhau:
+ Sinh vật chỉ thị: dấu hiệu về sinh lý, sinh hoá, tập tính, tổ chức tế bào của
cá thể.
7
+ Quần thể sinh vật chỉ thị: cấu trúc quần thể các loài chỉ thị.
+ Quần xã sinh vật chỉ thị: một số nhóm sinh vật chỉ thị nào đó (sinh vật
nổi, sinh vật đáy).
Nhờ tính chất của sinh vật chỉ thị có thể sử dụng khả năng tích tụ các chất

vật.
Chỉ số loài ưu thế: khi mức độ ô nhiễm nặng, một số loài phát triển ưu thế về
số lượng.
2.1.3. Chỉ số sinh học
Chỉ số sinh học là các chỉ số dựa trên ảnh hưởng của ô nhiễm môi trường
và tác động của sự phân huỷ chất hữu cơ lên sinh vật để đo đạc các tính chất của
môi trường, đánh giá sinh thái môi trường.
Trong quan trắc chất lượng nước: Các loài chỉ thị và mức mẫn cảm của
chúng với ô nhiễm. Số lượng nhóm sinh vật chỉ thị có hoặc vắng mặt được dùng
để tính toán chỉ số sinh học.
Chỉ số sinh học được sử dụng đa dạng theo vùng địa lý và áp dụng theo
thang tính điểm của tổ chức nghiên cứu quan trắc sinh học (BMWP- Biological
Monitoring Working Party) được biến đổi để sử dụng ở nhiều nước.
2.1.4. Chỉ số đa dạng
Chỉ số đa dạng biểu thị độ phong phú loài trong môi trường đã chọn ở dạng
giá trị đơn loài.
Chỉ số này có ý nghĩa gián tiếp chỉ ra sự tăng ô nhiễm của một hệ sinh thái,
làm cho các loài mẫn cảm sẽ giảm thiểu và dẫn đến việc suy giảm tính đa dạng
tổng thể của quần xã sinh vật. Ví dụ, hiện tượng tăng số lượng một số loài sinh vật
trong những hồ kiệt dưỡng tự nhiên (trên núi hoặc ở đầm lầy) khi hồ bị tác động
do ô nhiễm hữu cơ từ chất thải.
Người ta sử dụng chỉ số đa dạng để đánh giá 3 khía cạnh của cấu trúc quần
xã:
9
+ Số lượng loài hoặc độ phong phú
+ Tổng lượng sinh vật (độ phong phú) của mỗi loài.
+ Tính đồng nhất phân bố các cá thể giữa các loài khác nhau (tính
đồng đều).
Hiện có một số phương pháp thong dụng tính chỉ số đã dạng là: Shannon -
Weiner (H

+ W: Số loài thường gặp đối với cả 2 mẫu thu
+ A: Số loài trong mẫu 1
+ B: Số loài trong mẫu 2
+ k: Tổng lượng các so sánh hoặc các đơn vi phân loại khác nhau
trong 2 mẫu thu so sánh với nhau.
+ X
ia
và X
ib
: Độ phong phú của loài thứ i trong các mẫu a và b
tương ứng
2.2. Vai trò của chỉ thị sinh học trong nghiên cứu, đánh giá và xử lý môi trường
2.2.1. Trong đánh giá môi trường
Sự thiếu hay thừa dinh dưỡng gây ảnh hưởng lớn đến tình trạng sinh trưởng
và sức sản xuất của thực vật, làm trên lá thực vật xuất hiện những dấu hiệu bất
thường có thể quan sát được bằng mắt (cây còi cọc, vàng lá, màu tía, mất màu,
hoại tử).
Ngộ độc làm thực vật có những dấu hiệu dị thường (thấp lùn, lá bị mất màu
xanh, vàng lá, hoại tử, cây có thể chết).
Dựa vào những dấu hiệu nêu trên ở thực vật cho phép đánh giá nhanh, rẻ
tiền, và hiệu quả về những chất ô nhiễm ở các nồng độ khác nhau trong môi
trường.
Trong những trường hợp cần thiết, ta có thể bổ sung phương pháp phân tích
đất, nước và thực vật.
Tuy nhiên đối với những chuyên gia chỉ thị sinh học môi trường thì không
nhất thiết phải tiến hành phân tích thêm.
Trong nhiều trường hợp sử dụng, chỉ thị sinh học môi trường còn là bước
khởi đầu cho việc sử dụng hiệu quả các phương pháp nghiên cứu và đánh giá môi
trường khác.
Đặc biệt thông qua việc khai thác khả năng tích tụ các chất ô nhiễm trong

Nước rỉ từ
bãi rác
Nước
ngầm
Cây dương
lai
Đã áp dụng Licht, 1990
Phân
huỷ
TCE
Nước
ngầm
Cây dương
lai
Mô hình
trình diễn
Rock, 1997
Phân
huỷ
TNT
Đất ngập
nước
Nhiều loài
Mô hình
trình diễn
Bader, 1996
Carreira, 1996
Phân
huỷ
TPH Đất

mầm cây
mặt
Banuelos,
1996
(TPH - hydrocacbon tổng số trong dầu mỡ; TNT - Trinitrotoluen; TCE -
Tricloroetylen)
Hiện nay vấn đề ô nhiễm kim loại nặng và các hóa chất nguy hại khác đối
với môi trường đất, nước đang diễn ra phổ biến. Có nhiều phương pháp để xử lý ô
nhiễm kim loại nặng trong đất (đào đất bị ô nhiễm đi chôn lấp chỗ khác, rửa đất,
cố định các chất ô nhiễm bằng phương pháp hóa học hoặc vật lý, xử lý nhiệt, …),
nhưng các phương pháp trên đều rất tốn kém về kinh phí, giới hạn về kỹ thuật và
hạn chế về diện tích.
Do đó, phương pháp sử dụng thực vật để xử lý kim loại nặng trong đất,
nước được quan tâm đặc biệt bởi chí phí đầu tư rất thấp, an toàn và thân thiện với
môi trường (so với các phương pháp khác).
Bảng 3. Một số loài thực vật dùng để xử lý kim loại nặng trong đất
Tên loài Khả năng xử lý Tác giả và năm công bố
Cây liễu (Salix nigra)
Kim loại nặng trong đất,
nước
Greger và Landberg, 1999
Cây dương lai (Populus
sp.)
Ni trong đất, nước và
nước ngầm
Punshon và Adriano,
2003
Cải dầu (Brassica napus,
B.
Juncea, B. nigra)

hiện ở bảng sau:
Bảng 4. Đánh giá chất lượng theo chỉ số đa dạng
Chỉ số đa dạng Chất lượng nước
<1 Rất ô nhiễm
1 – 2 Ô nhiễm
>2 – 3 Ô nhiễm nhẹ
>3 – 4.5 Sạch
>4.5 Rất sạch
Sử dụng hệ thống tính điểm nhóm động vật đáy cỡ lớn của tổ chức quan
trắc sinh học (BMWP) để đánh giá nhanh chất lượng nước như sau:
- Mẫu vật thu (tại các thuỷ vực) được phân loại.
- Dựa vào các chỉ thị tương ứng với họ (trong bảng tính điểm BMWP) để tính
điểm cho từng họ (họ nào không có trong bảng tính điểm có thể bỏ qua).
- Cộng tất cả các điểm từ mỗi họ tại từng điểm nghiên cứu được tổng điểm số
BMWP.
- Tính điểm số trung bình cho các đơn vị phân loại (ASPT- Average Score per
Taxon) là chỉ số sinh học tương ứng với một mức ô nhiễm (chất lượng) nước bằng
cách chia tổng số điểm (BMWP) cho tổng số họ đã lấy để tính điểm.
14
Bảng 5. Đánh giá chất lượng nước theo chỉ số ô nhiễm
Thứ hạng
Chỉ số ô nhiễm (ASPT) hay
chỉ số sinh học (Bio - index)
Đánh giá chất lượng nước
I 10 - 8 Không ô nhiễm, nước sạch
II 7.9 - 6 Ô nhiễm nhẹ - hoại sinh nhẹ
III 5.9 - 5 Ô nhiễm vừa - hoại sinh vừa
IV 4.9 - 3 Ô nhiễm – hoại sinh trung bình
V 2.9 - 1 Ô nhiễm nặng – hoại sinh nặng
VI 0

+ Sự tích luỹ này có thể diễn ra trong suốt vòng đời của sinh vật mà không có
tác động phụ xuất hiện.
+ Hàm lượng tích luỹ trong mô của sinh vật tích tụ có thể gấp 103 - 106 lần so
với trong môi trường (hiện tượng "khuyếch đại sinh học").
Khả năng tích tụ chất ô nhiễm ở sinh vật tích tụ được sử dụng rộng rãi trong
nghiên cứu, quan trắc, xử lý môi trường. Những mô tích luỹ các chất ô nhiễm biểu
thị hàm lượng các chất này rất rõ do phản ánh cả quá trình các chất ô nhiễm xâm
nhập vào môi trường và tác động lên sinh vật trong suốt thời gian dài.
Từ sau những năm 1970, bắt đầu nghiên cứu việc sử dụng thực vật tích tụ
để xử lý các đất bị ô nhiễm kim loại nặng (chịu được hàm lượng kim loại nặng cao
hơn 10 -100 lần so với các cây trồng nông nghiệp). Đặc điểm của các loài thực vật
này là chỉ hấp thụ một hoặc một số kim loại nặng đặc trưng trong các bộ phận trên
mặt đất (chồi, cành, lá). Vì vậy để xử lý các chất ô nhiễm, người ta thu hoạch và
tiêu huỷ các bộ phận tích luỹ của thực vật.
Cho đến 2002 đã phát hiện 420 loài có khả năng tích tụ kim loại nặng cao,
trong đó: một số là nguồn thực phẩm, nhiều thực vật lớn và nhuyễn thể, cá (môi
trường nước); địa y, rêu và thực vật có mạch (môi trường đất, không khí). Trong
đó, rêu được sử dụng rộng rãi cho quan trắc các kim loại nặng.
Trong thực tế khó có loài đơn lẻ nào đáp ứng được đủ các các tiêu chuẩn
của sinh vật chỉ thị về tích tụ. Trong các chương trình giám sát ô nhiễm phải khắc
phục theo 2 cách: Quan trắc thụ động và thu mẫu (để phân tích hóa học) từ nơi cư
16
trú đặc biệt của những sinh vật bản địa; Quan trắc chủ động (tại nơi cư trú) các
sinh vật có ở vùng không ô nhiễm.
2.3.3. Phép thử sinh học
Phép thử sinh học là phương pháp sử dụng sinh vật ở những điều kiện thí
nghiệm (có đối chứng) để nghiên cứu, đánh giá môi trường. Nhiều phép thử sinh
học đã được phát triển để sử dụng trong phòng thí nghiệm hay ngoài hiện trường.
Khả năng sử dụng phép thử sinh học trong nghiên cứu các vấn đề môi
trường:

về phân bố ô nhiễm.
Ví dụ: địa y mẫn cảm nhất đối với các loại chất gây ô nhiễm khí quyển đặc
biệt là Sunfua dioxyt (SO
2
), các quần xã địa y trong thành phố và vùng công
nghiệp thường rất nghèo. Căn cứ vào biến đổi (không gian và thời gian) trong
phân bố địa y theo khả năng chống chịu của các loại đặc trưng có thể xây dựng
bản đồ về nồng độ gây ô nhiễm SO
2
ở cấp độ vùng và quốc gia. Ngoài ra, rêu, vi
nấm và một số loài ve (Humerobates rostrolamellatus) cũng được sử dụng để xây
dựng bản đồ ô nhiễm của một số chất khí.
2.3.5. Phương pháp so sánh
Hiện nay, phương pháp so sánh chi thị sinh học môi trường được phát triển
đối với các hệ thống nước ngọt. Trong đó xác định kiểu sinh thái đặc trưng và sử
dụng các phương pháp đo chọn lọc nhằm so sánh những thuỷ vực cùng kiểu
nhưng không bị tác động.
Kết quả biểu thị ra tính tương đồng theo % của các điểm nghiên cứu, điểm
số % > 90% chứng tỏ điểm đó không bị ô nhiễm.
2.3.6. Sử dụng vi sinh vật
Vi sinh vật là hợp phần quan trọng của các hệ sinh thái mà tính đa dạng và
độ phong phú của chúng bị chi phối bởi những thay đổi của các yếu tố môi trường
và có thể trở thành chỉ thị cho những kiểu ô nhiễm nhất định.
18
Ví dụ: + sự có mặt của quần xã nấm nước thải là chỉ thị ô nhiễm mức độ cao.
+ sự có mặt của các vi khuẩn sống trong ruột người và động vật
(Coliform, Streptococci và Clostridium ) là chỉ thị cho ô nhiễm nước sinh hoạt (do
phân).
2.3.7. Sử dụng các loài đặc hữu, quý hiếm
Các loài đặc hữu là các loài phân bố hẹp, thích ứng với môi trường sinh thái

gian tính ra ngày và khoảng cách tính ra dặm, với các đặc điểm sau:
Phụ vùng nước sạch - hoại sinh yếu:
Vùng nước phía trước dòng thải xâm nhập thường không ô nhiễm, là nơi nước
sạch trước khi ô nhiễm, có khoảng cách 12 - 24 dặm (1609m) ngược về phía
nguồn thải và thời gian trước 1 - 2 ngày tính từ nơi và thời điểm dòng sông bắt đầu
bị nước thải đổ vào.
Môi trường sống của sinh vật ổn định với hàng loạt các yếu tố lý và hóa học
(thông thường) đặc trưng cho nước chưa bị ô nhiễm hữu cơ.
Ở đây có nhiều loài sinh vật (khoảng 40 loài) với chức năng đa dạng (sản xuất,
tiêu thụ, phân hủy) cùng tồn tại, nhưng không một loài nào chiếm ưu thế và đều là
sinh vật hoại sinh yếu.
Phụ vùng thoái hóa - hoại sinh mạnh:
Vùng còn có thể gọi là rất bẩn - ô nhiễm rất nặng. Vùng có những quá trình
khử chiếm ưu thế, nên chỉ có các sinh vật hoại sinh mạnh.
Vïng míi bắt đầu bị ô nhiễm do nước xả thải cùng lượng lớn các chất hữu cơ –
thức ăn cho các sinh vật hoại sinh mạnh. Vùng có khoảng cách 12 dặm xuôi theo
dòng sông và thời gian 1 ngày tính từ nơi và thời điểm dòng sông bắt đầu bị nước
thải đổ vào. Đây là vùng mà các tính chất vật lý của môi trường thay đổi mạnh.
Số lượng loài có xu hướng giảm, do ô nhiễm mạnh làm nhiều loài sinh vật (đặc
biệt là các sinh vật tiêu thụ và sản xuất) có thể bị chết ngạt hoặ bị che lấp bởi các
20
chất lơ lửng. Số lượng cá thể của những loài sinh vật hoại sinh có xu hướng tăng
mạnh và chiếm ưu thế hoàn toàn do thích ứng với môi trường ô nhiễm. Các sinh
vật bị chết cung cấp them thức ăn (xác hữu cơ) làm vi sinh vật hoại sinh phát triển
mạnh mà làm giảm mạnh nồng độ oxy hòa tan trong nước
Phụ vùng phân hủy mạnh - hoại sinh trung bình α:
Vùng còn có thể gọi là vùng bẩn nhiều hay vùng ô nhiễm cao, với các sinh vật
hoại sinh trung bình α (gần với hoại sinh mạnh).
Vùng có khoảng cách 12 – 48 dặm xuôi theo dòng sông và thời gian sau 1 – 4
ngày tính từ nơi và thời điểm dòng sông bắt đầu bị nước thải đổ vào. Vùng này có

ngoại trừ trường hợp hiện tại nó là một dòng sông rộng lớn hơn. Khu hệ sinh vật
đặc trưng: giống với khu hệ sinh vật nước sạch đầu nguồn, ngoại trừ các loài bản
địa (thích ứng với dòng chảy) lớn hơn.
2.4.1.3. Sinh vật chỉ thị ô nhiễm hữu cơ nguồn nước
Ô nhiễm hữu cơ nguồn nước thường được chỉ thị theo hệ hoại sinh, vì hệ
hoại sinh là hệ thống sinh vật chỉ thị môi trường nước đầu tiên. Trong đánh giá
chất lượng nước không nên dựa vào những cá thể sinh vật mà phải là quần xã sinh
vật.
Kolkwitz, Marson, Liebmann là những người đầu tiên đưa ra danh mục các
sinh vật chỉ thị (gồm động vật và thực vật) cho môi trường nước bị ô nhiễm hữu
cơ ở các mức độ khác nhau lien quan đến hệ hoại sinh. Trong đó: ô nhiễm rất nặng
có 31 sinh vật chỉ thị, ô nhiễm cao có 17 sinh vật chỉ thị, ô nhiễm trung bình có 22
sinh vật chỉ thị, không ô nhiễm có 22 sinh vật chỉ thị.
Hiện nay, ô nhiễm chất hữu cơ nguồn nước được thể hiện rõ nằng sự phú
dưỡng nguồn nước.
22
2.4.2. Xử lý ô nhiễm môi trường không khí
Các chất gây ô nhiễm không khí chính:
Bảng 5. Các chất chính gây ô nhiễm khí quyển và những hỗn hợp của chúng tác
động lên thực vật
Các chất gây ô nhiễm Nguồn gốc
Nồng độ
gây hại đối
với thực vật
(ppm/h)
Các
chất

bản
Các oxit quang hóa

Dấu hiệu đặc trưng: lá bị đốm li ti tập trung gần nhau, lá xuất hiện các điểm
có màu trắng, đen, đỏ hay màu huyết dụ,
Một số loài thực vật có thể làm giảm nồng độ ozone trong không khí:
24
Tác hại
của
ozone
lên

cây
Cây dã yên Petunia hybrida bị tổn thương bởi ozone
Cây hoàng tâm diệp hay cây lá tim vàng
Golden Pothos - Epipremnum aureum
2.4.2.2. Sinh vật chỉ thị ô nhiễm không khí do PAN
Dấu hiệu tổn thương do PAN gây ra:
+ cây lá rộng: phía trong của lá có thể xuất hiện các đốm bọng nước màu bạc
trắng hoặc đồng thau.
+ cây lá hẹp: xuất hiện các dải úa vàng hoặc bạc trắng trên lá.
Một số loài thực vật mẫn cảm với PAN:

25
Cây dây nhện Chlorophytum comosum
Cây rắn
Cây xà lách Lactuca sativa Củ cải đường Betachilensis hort


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status