LỢI ÍCH KINH tế và PHÂN PHỐI CHO TIÊU DÙNG cá NHÂN TRONG THỜI kỳ QUÁ độ lên CHỦ NGHĨA xã hội ở VIỆT NAM - Pdf 23

MỞ ĐẦU
Trong thời kỳ quá độ đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta, sự tồn tại và phát
triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là phù hợp với quy luật khách
quan. Một trong những yêu cầu của nền kinh tế thị trường là phải quan tâm đến lợi
ích kinh tế của các chủ thể kinh tế, bảo đảm sự công bằng bình đẳng trong xã hội
cần thực hiện tốt vấn đề phân phối cho tiêu dùng cá nhân, đây là động lực đòn bẩy
của phát triển kinh tế. Để hiểu rõ vấn đề này hôm nay tôi xin giới thiệu với các
đồng chí bài: LỢI ÍCH KINH TẾ VÀ PHÂN PHỐI CHO TIÊU DÙNG CÁ NHÂN
TRONG THỜI KỲ QUÁ ĐỘ LÊN CHỦ NGHĨA XÃ HỘI Ở VIỆT NAM
Căn cứ biên soạn bài giảng:
1. Giáo trình chính trị (dùng tập huấn cán bộ Ban chỉ huy quân sự cấp xã liên thông
từ TCCN lên CĐ ngành QSCS)
2. Tập đề cương bài giảng môn chính trị, đào tạo liên thông từ TCCN lên CĐ
ngành QSCS theo hình thức vừa học vừa làm, Trường Sỹ quan Lục quân 1; Hà Nội
2013.
I. LỢI ÍCH KINH TẾ
1. Bản chất, vai trò của lợi ích kinh tế
Mỗi hình thái kinh tế - xã hội đều bao gồm một hệ thống phức hợp các lợi
ích. Trong đó, lợi ích kinh tế có ý nghĩa quan trọng và quyết định nhất.
1
- Khái niệm
Lợi ích kinh tế là lợi ích vật chất, phản ánh mục đích và động cơ khách quan
của các chủ thể khi tham gia các hoạt động kinh tế - xã hội và do hệ thống quan hệ
sản xuất quyết định.
+ Lợi ích kinh tế có liên quan chặt chẽ đến nhu cầu của con người, bắt nguồn
từ nhu cầu và là cái để thoả mãn nhu cầu, do hệ thống quan hệ sản xuất quyết định.
+ Đây là nhu cầu bất kỳ mà là những nhu cầu vật chất, chỉ có nhu cầu vật
chất mới làm nẩy sinh lợi ích kinh tế.
+ Lợi ích kinh tế là một phạm trù kinh tế khách quan, nó xuất hiện gắn với
những điều kiện tồn tại và phát triển của xã hội và con người.
Lợi ích kinh tế được biểu hiện ở mức độ của cải vật chất mà mỗi con người

nhất, chi phối các lợi ích khác.
Đây là một trong những vấn đề rất trọng yếu của sản xuất và đời sống.
Trong hệ thống lợi ích của con người nói chung như: lợi ích kinh tế, chính
trị, tư tưởng, văn hoá xã hội thì lợi ích kinh tế giữ vai trò quyết định nhất, chi
phối các lợi ích khác.
Bởi lẽ, lợi ích kinh tế gắn liền với nhu cầu vật chất, là nhu cầu cơ bản cho
con người và xã hội tồn tại và phát triển. Khi lợi ích kinh tế được thực hiện sẽ là
điều kiện thực hiện các lợi ích khác.
Ví dụ: các cuộc đấu tranh của các giai câp như nô lệ, nông dân, vô sản bước
đầu trước hết là vì mục đích kinh tế.
+ Lợi ích kinh tế giữ vai trò "động lực kinh tế" thúc đẩy con người và các
chủ thể kinh tế quan tâm đến kết quả sản xuất kinh doanh.
* Nó giúp quan tâm đến kết quả sản xuất - kinh doanh; gắn bó những con
người lao và tạo ra động cơ, thôi thúc sự say mê trong hoạt động sản xuất - kinh
doanh của họ.
* Quan điểm duy vật lịch sử cho thấy, mọi động lực, suy đến cùng đều do
3
động lực kinh tế quyết định.
=> Vì vậy, lợi ích kinh tế nếu được nhận thức và thực hiện đúng thì nó sẽ
trở thành động lực cơ bản của sự tiến bộ xã hội nói chung, phát triển sản xuất -
kinh doanh nói riêng.
+ Lợi ích kinh tế củng cố, duy trì các mối quan hệ kinh tế giữa các chủ thể
sản xuất - kinh doanh.
* Con người tham gia vào các hoạt động kinh tế đều nhằm đạt tới những lợi ích
kinh tế tương xứng với kết quả sản xuất - kinh doanh.
* Ngược lại, không mang lại lợi ích, hoặc lợi ích không được thực hiện đầy
đủ thì sẽ làm cho các mối quan hệ giữa các chủ thể kinh tế bị xói mòn, thậm chí
dẫn đến chỗ rạn nứt, làm phát sinh những tiêu cực trong sản xuất - kinh doanh.
Ví dụ: người làm nhiều mà hưởng ít sẽ làm mối quan hệ chủ tớ, người làm
thuê theo hướng tiêu cực.

xuất, trong phân phối )
=> Ba loại lợi ích này có mối quan hệ biện chứng với nhau, trong đó lợi ích
cá nhân người lao động là động lực trực tiếp. Trong điều kiện lâu dài thì lợi ích
toàn xã hội đóng vai trò chủ đạo, bởi vì lợi ích này thể hiện mục đích và nhiệm vụ
phát triển của tiến bộ xã hội và nó cũng bao quát những lợi ích kinh tế căn bản của
tập thể người lao động cũng như của mỗi thành viên trong xã hội.
Quá trình giải quyết mối quan hệ giữa các lợi ích kinh tế là tạo ra những điều
kiện trong đó việc thực hiện các lợi ích sao cho cùng một hướng và đảm bảo tính
hàng đầu của lợi ích xã hội, cái có lợi đối với xã hội thì phải có lợi đối với tập thể,
cá nhân và mỗi doanh nghiệp.
=> Đó là nguyên tắc cơ bản của sự kết hợp lợi ích kinh tế trong nền kinh tế
thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.
- Phương hướng vận dụng các lợi ích kinh tế trong thời kỳ quá độ lên chủ
nghĩa xã hội ở nước ta
5
+ Thứ nhất, nhà nước phải xây dựng hệ thống chính sách nhằm khai thác
những tiềm năng to lớn trong xã hội.
Thể hiện chức năng quản lý kinh tế của Nhà nước
+ Thứ hai, xác định về lượng của các nhóm lợi ích kinh tế và quan hệ tỷ lệ
giữa các nhóm thông qua hệ thống công cụ và chính sách kinh tế vĩ mô.
+ Thứ ba, kết hợp hài hoà các lợi ích dân tộc và quốc tế trên cơ sở tuân thủ
nguyên tắc trong quan hệ kinh tế đối ngoại.
Nguyên tắc đó là: bình đẳng, cùng có lợi, không can thiệp vào công việc nội
bộ của nhau.
Bởi vì:
Trong nền kinh tế thị trường, mỗi cá nhân, doanh nghiệp… chỉ hành động
khi họ thấy được lợi ích kinh tế của mình. Nhưng do có nhiều lợi ích kinh tế khác
nhau và vì lợi ích riêng của mỗi cá nhân, vì lợi ích cục bộ, trước mắt có thể làm tổn
hại đến lợi ích chung của cộng đồng (tập thể và toàn xã hội).
Vì vậy, Nhà nước phải giải quyết tốt mối quan hệ giữa các lợi ích kinh tế,

Là hình thức phân phối cơ bản dưới chủ nghĩa xã hội, được thực hiện trong
các thành phần kinh tế nhà nước và tập thể.
- Tính khách quan của phân phối theo lao động.
+ Do thành phần kinh tế nhà nước và tập thể dựa trên chế độ sở hữu xã hội
chủ nghĩa về tư liệu sản xuất ở các cấp khác nhau.
Các thành phần kinh tế này đều dựa trên cơ sở chế độ sở hữu xã hội chủ
nghĩa về tư liệu sản xuất ở các cấp độ khác nhau. Người lao động làm chủ những tư
liệu sản xuất, nên tất yếu cũng làm chủ về phân phối, phân phối phải vì lợi ích của
người lao động.
Có nhiều cách phân phối vì lợi ích của người lao động: phân phối theo nhu
cầu, phân phối bình quân, phân phối theo lao động. Trong thời kỳ quá độ lên chủ
nghĩa xã hội và ngay cả trong giai đoạn thấp của chủ nghĩa cộng sản (chủ nghĩa xã
7
hội) cũng chưa thể thực hiện phân phối theo nhu cầu mà chỉ có thể phân phối theo
lao động.
Đồng thời, trong thời kỳ này lao động chưa thực sự trở thành nhu cầu của
cuộc sống mà vẫn còn là phương tiện để kiếm sống, còn những tàn dư ý thức, tư
tưởng của xã hội cũ để lại như: coi khinh lao động, ngại lao động chân tay, chây
lười, làm ít muốn hưởng nhiều,v.v Trong điều kiện đó, thực hiện phân phối theo
lao động sẽ khuyết khích người lao động tích cực trong lao động, giáo dục kẻ lười
biếng, gắn sự hưởng thụ của mỗi người với sự cống hiến của họ.
+ Do trong thời kỳ quá độ có sự khác biệt về tính chất trình độ lao động dẫn
tới sự cống hiến của mỗi người khác nhau.
Mặt khác, do sự cống hiến mỗi người khác nhau, do đó phải căn cứ vào lao
động đã cống hiến cho xã hội của mỗi người để phân phối, nếu không sẽ rơi vào
chủ nghĩa bình quân, kìm hãm sự phát triển sản xuất.
+ Do lực lượng sản xuất chưa phát triển cao, chưa có đủ sản phẩm để phân
phối theo nhu cầu.
Vì phân phối do sản xuất quyết định, cho nên làm nhiều, hưởng nhiều; làm
xấu, làm ít hưởng ít, có khi phải bồi thường lại cho nhà nước.

+ Hạn chế
Phân phối theo lao động, về nguyên tắc vẫn là sự bình đẳng trong khuôn khổ
pháp quyền tư sản, tức là sự bình đẳng trong xã hội sản xuất hàng hoá theo nguyên
tắc sự trao đổi ngang giá.
Hạn chế của phân phối theo lao động là điều không thể tránh khỏi trong giai
đoạn đầu của xã hội cộng sản chủ nghĩa.
Chỉ khi nào, cùng với sự phát triển toàn diện của cá nhân, năng suất lao động
của họ ngày càng cao và tất cả các nguồn của cải của xã hội đều tuôn ra dồi dào,
người ta mới có thể vượt ra khỏi khuôn khổ chật hẹp của cái pháp quyền tư sản và
xã hội mới có thể thực hiện phân phối theo nhu cầu. Chỉ khi đó mới có sự bình
9
đẳng thực sự.
b) Các hình thức phân phối trong các thành phần kinh tế khác.
- Trong đơn vị kinh tế hợp tác bậc thấp, phân phối dựa kết quả lao động và
theo góp vốn cổ phần.
Ví dụ: trong sản xuất của một doanh nghiệp tư nhân: người công nhân sẽ
được hưởng tiền lương từ kết quả lao động đồng thời cũng được hưởng tiền từ số
vốn anh ta góp vào trong sản xuất.
- Trong các đơn vị kinh tế cá thể, tiểu chủ, thu nhập của người lao động phụ
thuộc vào sở hữu tư liệu sản xuất, vốn đầu tư và khả năng sản xuất kinh doanh.
Đó là tài năng sản xuất kinh doanh của chính bản thân họ.
Ví dụ: trong kinh doanh cá thể: sự phân phối đó phụ thuộc vào khả năng kinh
doanh, tiếp thị sản phẩm.
- Trong các đơn vị kinh tế tư bản tư nhân phân phối dựa trên sở hữu vốn cổ
phần, sở hữu tư bản, giá cả sức lao động, v.v
Ví dụ: trong công ty nước ngoài việc phân phối đó do giá cả sức lao động, do
đóng góp cổ phần ( người đóng góp là những cổ đông). Nhiều người lao động tìm
việc sẽ trả tiền công ít đi, ít người lao động hoặc ngành nghề đó đòi hỏi kỹ thuật
cao nên phải trả tiền cao hơn )
c) Phân phối thông qua phúc lợi tập thể, phúc lợi xã hội

2. Các giải pháp định hướng xã hội chủ nghĩa trong phân phối cho tiêu
dùng cá nhân thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở việt nam
- Phát triển lực lượng sản xuất theo hướng hiện đại, tăng năng suất lao động
xã hội
Phát triển lực lượng sản xuất theo hướng hiện đại là điều kiện nhằm bảo đảm
tốt cho tiêu dùng cá nhân.
+ Phương thức phân phối còn do số lượng sản phẩm có thể phân phối quyết định.
Do vậy, muốn thực hiện được ngày càng đầy đủ sự công bằng xã hội trong
11
phân phối cho tiêu dùng cá nhân thì phải sản xuất ra ngày càng nhiều sản phẩm.
+ Để tạo ra được nhiều sản phẩm, phải phát triển lực lượng sản xuất theo
hướng hiện đại.
Phải khơi dậy và phát huy được mọi tiềm năng vật chất, tinh thần của đất nước.
Đẩy mạnh tăng năng suất lao động xã hội, thực hiện thành công sự nghiệp
công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước.
- Đổi mới và hoàn thiện chính sách tiền công, tiền lương, chống chủ nghĩa
bình quân và thu nhập bất hợp lý, bất chính
+ Cơ sở
* Tiền công, tiền lương nhìn chung vẫn chưa phù hợp với cơ chế kinh tế mới.
Tiền lương chưa thực sự là thước đo giá trị sức lao động, chưa đảm bảo tái
sản xuất sức lao động, chưa trở thành đòn bẩy kích thích người lao động làm việc.
Tiền lương vẫn còn mang tính chất bình quân, bao cấp.
* Nhà nước chưa làm chủ hoàn toàn trong việc kiểm soát và quản lý tiền
lương, thu nhập nói chung của các cá nhân trong xã hội.
* Việc phân phối thu nhập cá nhân, ngoài tính chất bình quân còn thiếu công bằng,
chứa đựng những chênh lệch bất hợp lý giữa các vùng, miền, ngành… khác nhau.
Tiền lương thực tế giảm sút do giá tăng, đời sống của người lao động còn
nhiều khó khăn…
+ Biện pháp
* Cần có chính sách phân phối bảo đảm thu nhập của người lao động có thể

bước sự công bằng xã hội, đồng thời không triệt tiêu động lực tăng thu nhập hơn
nữa của các bộ phận dân cư có thu nhập cao.
Để giải quyết tốt việc này, cần nắm vững thu nhập cá nhân trên cơ sở phân
biệt được chính xác các nguồn thu nhập cá nhân, bằng các biện pháp giáo dục, hành
chính và kinh tế.
* Điều tiết làm tăng thu nhập cá nhân được thực hiện thông qua ngân sách
13
nhà nước, ngân sách của các tổ chức chính trị - xã hội, các quỹ bảo hiểm, các khoản
trợ cấp, phụ cấp, các hình thức tín dụng…
Nhằm trợ giúp thường xuyên cho người có thu nhập thấp, những người thuộc
diện chính sách xã hội, những người không may gặp rủi ro,v.v
- Khuyến khích làm giàu đúng pháp luật đi đôi với thực hiện có hiệu quả các
chính sách xoá đói giảm nghèo
Mục tiêu phấn đấu của chúng ta là dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng,
dân chủ, văn minh.
Vì vậy, nhà nước tạo điều kiện, giúp đỡ bằng nhiều biện pháp khuyến khích
làm giàu theo pháp luật.
+ Khuyến khích mọi thành phần kinh tế, mọi công dân, mọi nhà đầu tư mở
mang ngành nghề, tạo nhiều việc làm cho người lao động.
* Mọi công dân đều được tự do hành nghề, thuê mướn nhân công theo pháp
luật, phát triển dịch vụ việc làm. Tạo điều kiện và cơ hội tiếp cận bình đẳng các
nguồn lực phát triển, hưởng thụ các dịch vụ cơ bản, vươn lên thoát đói nghèo vững
chắc ở các vùng nghèo và các bộ phận dân cư nghèo.
* Khắc phục tình trạng bao cấp, ỷ lại. Phân bố lại dân cư và lao động trên
địa bàn cả nước. Mở rộng kinh tế đối ngoại, đẩy mạnh xuất khẩu lao động, tạo điều
kiện cho mọi người lao động tự tạo việc làm, tự tìm việc làm phù hợp .
+ Thực hiện xoá đói, giảm nghèo, đền ơn đáp nghĩa và các hoạt động nhân
đạo, từ thiện.
Trước mắt là phải thực hiện tốt các chương trình kinh tế như:
* Chương trình xoá đói, giảm nghèo, nhất là đối với vùng căn cứ cách mạng,

xã hội chủ nghĩa trong phân phối cho tiêu dùng cá nhân trong thời kỳ quá độ lên
chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam ?
16


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status