MỞ ĐẦU
Tư tưởng Hồ Chí Minh về CNXH và con đường quá độ lên CNXH ở Việt
Nam là một nội dung rất quan trọng trong hệ thống nội dung tư tưởng Hồ Chí
Minh. Đó là sản phẩm sáng tạo của trí tuệ Hồ Chí Minh trên cơ sở kế thừa và
phát triển các giá trị truyền thống dân tộc, tiếp thu kinh nghiệm cách mạng
XHCN trên thế giới, trung thành và vận dụng sáng tạo lý luận Mác - Lênin về
CNXH và con đường đi lên CNXH vào thực tiễn Việt Nam. Đây là cống hiến
lớn của Người cả trên phương diện lý luận và thực tiễn chỉ đạo cách mạng; là
một trong các nhân tố có vai trò quan trọng, quyết định thắng lợi sự nghiệp xây
dựng CNXH ở Việt Nam.
Vậy, những nội dung cơ bản trong tư tưởng Hồ Chí Minh về CNXH và
con đường quá độ lên CNXH ở Việt Nam là gì? Hôm nay theo kế hoạch tôi giới
thiệu với các đồng chí bài:
“Tư tưởng Hồ Chí Minh về CNXH và
con đường quá độ lên CNXH ở Việt Nam”
Căn cứ biên soạn bài giảng:
- Tập đề cương bài giảng môn Chính trị (dùng cho đào tạo Liên thông từ
TCCN lên CĐ, ngành quân sự cơ sở - vừa học, vừa làm), H.2013
- Giáo trình Tư tưởng Hồ Chí Minh, phần chính trị - xã hội (dùng cho đào
tạo cán bộ chính trị cấp phân đội), Nxb QĐND, H. 2006
1
I. Tư tưởng Hồ Chí Minh về bản chất và mục tiêu của CNXH.
1. Con đường hình thành tư duy Hồ Chí Minh về CNXH ở Việt Nam.
- Hồ Chí Minh đã tiếp thu những quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin về
bản chất và mục tiêu của CNXH
Các nhà kinh điển Mác – Lênin đã tiếp cận CNXH bằng cách nào?
C. Mác - Ph. Ăngghen qua nghiên cứu quy luật vận động, phát triển của xã hội
loài người, khẳng định sứ mệnh lịch sử của giai cấp vô sản. Bằng việc đưa ra học
thuyết hình thái kinh tế - xã hội, các ông đã chứng minh rằng hình thái kinh tế - xã
hội tư bản chủ nghĩa tất yếu sẽ được thay thế bằng hình thái cao hơn - hình thái kinh
tế - xã hội cộng sản chủ nghĩa mà giai đoạn đầu của nó là CNXH.
Con người Việt Nam vốn có tâm hồn trong sáng, giàu lòng vị tha, yêu
thương đồng loại, luôn kết hợp hài hoà cái chung và cái riêng, gia đình và Tổ
quốc, dân tộc và nhân loại
Những truyền thống tốt đẹp về văn hoá, đạo đức và con người Việt Nam là
một trong những nhân tố hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh về CNXH và con
đường đi lên CNXH ở Việt Nam. Do đó, Hồ Chí Minh có quan niệm về CNXH
là xã hội mang bản chất văn hoá và nhân văn, triệt để giải phóng con người.
Đồng thời trong xây dựng CNXH, Người đặc biệt coi trọng phát triển văn hoá,
xây dựng con người với tư cách là chủ thể văn hoá; coi trọng mối quan hệ nhân
văn giữa người và người, giáo dục lý tưởng đạo đức, văn hoá, khoa học cho
con người, đáp ứng vai trò chủ thể của sự nghiệp xây dựng CNXH.
→ Từ các cách tiếp cận khác nhau, Hồ Chí Minh đã đi đến khẳng định tính
tất yếu của sự lựa chọn CNXH và con đường quá độ lên CNXH ở nước ta.
2. Quan niệm của Hồ Chí Minh về đặc trưng bản chất của CNXH.
Trung thành và vận dụng sáng tạo quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin về
CNXH vào thực tiễn Việt Nam, Hồ Chí Minh tiếp cận khái niệm CNXH từ
nhiều góc độ khác nhau. Quan niệm của Người về CNXH luôn được trình bày,
diễn đạt dung dị, mộc mạc, dễ hiểu và mang tính phổ thông đại chúng; những
nguyên lý lý luận về CNXH được Hồ Chí Minh trình bày bằng ngôn ngữ của
3
cuộc sống hàng ngày. Định nghĩa CNXH được Hồ Chí Minh đề cập từ một số
góc độ tiếp cận cơ bản sau:
- Định nghĩa về CNXH:
+ Định nghĩa xem xét CNXH, chủ nghĩa cộng sản như là một chế độ xã
hội hoàn chỉnh, là con đường để giải phóng nhân loại khỏi áp bức, bất công.
Ví dụ: Hồ Chí Minh khẳng định: “chỉ có chủ nghĩa cộng sản mới cứu nhân
loại, đem lại cho mọi người không phân biệt chủng tộc và nguồn gốc sự tự do,
bình đẳng, bác ái, đoàn kết ấm no trên quả đất, việc làm cho mọi người và vì
mọi người, niềm vui, hoà bình hạnh phúc ”.
Cách định nghĩa CNXH này thường được Người sử dụng trước năm 1954
bóc lột, có cuộc sống vật chất và tinh thần phong phú, được tạo điều kiện để
phát triển hết khả năng sẵn có của mình.
+ CNXH là một xã hội công bằng và hợp lý, làm nhiều hưởng nhiều, làm ít
hưởng ít, không làm thì không được hưởng; các dân tộc đều bình đẳng, miền núi
được giúp đỡ để tiến kịp miền xuôi, người già, trẻ em, người tàn tật được quan
tâm, chăm sóc.
+ CNXH là công trình tập thể của quần chúng nhân dân, do nhân dân tự
xây dựng lấy, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản.
=> Tóm lại, quan niệm của Hồ Chí Minh về CNXH là quan niệm khoa
học, hoàn chỉnh và hệ thống, mà cốt lõi của nó phản ánh một xã hội của con
người, do con người, vì con người, trước hết là người lao động. Đó là kết quả sự
vận dụng sáng tạo những dự báo khoa học của các nhà sáng lập CNXH khoa học
vào thực tiễn Việt Nam. Quan điểm của Người đã phác thảo một mô hình xã hội
XHCN đích thực với bản chất ưu việt, dễ hiểu, dễ đi vào lòng người, nhờ đó mà
khơi dậy tính tích cực chủ động, sáng tạo của mọi người Việt Nam trong quá
trình xây dựng CNXH.
3. Quan niệm của Hồ Chí Minh về mục tiêu và động lực của CNXH.
a) Quan niệm của Hồ Chí Minh về mục tiêu của CNXH.
- Mục tiêu chung của CNXH cũng chính là mục đích cao cả mà Người
phấn đấu trọn đời là “ làm sao cho nước ta được hoàn toàn độc lập, dân ta
5
được hoàn toàn tự do, đồng bào ai cũng có cơm ăn áo mặc, ai cũng được học
hành”. Đó chính là mục tiêu tổng quát của CNXH theo quan điểm Hồ Chí Minh.
- Người còn chỉ rõ những mục tiêu cụ thể của thời kỳ quá độ lên CNXH
trên các lĩnh vực:
+ Mục tiêu chính trị: Theo Hồ Chí Minh chế độ chính trị mà chúng ta
xây dựng là chế độ do nhân dân làm chủ.
Người khẳng định: “nhà nước của ta là nhà nước dân chủ nhân dân dựa
trên nền tảng liên minh công nông, do giai cấp công nhân lãnh đạo”. Đó là
nhà nước của dân, do dân, vì dân.
. Con người
XHCN theo quan điểm của Hồ Chí Minh phải là con người có tinh thần yêu
nước, có tinh thần và năng lực làm chủ, có tài năng đi liền với đạo đức cần,
kiệm, liêm, chính, chí công vô tư. Đó là nguồn lực quan trọng nhất để xây dựng
thành công CNXH.
b) Quan niệm của Hồ Chí Minh về động lực của CNXH
Động lực là tất cả những nhân tố, yếu tố thúc đẩy cho sự vật, hiện tượng
vận động và phát triển. Động lực của CNXH là tất cả những nhân tố, yếu tố thúc
đẩy sự vân động và phát triển của công cuộc xây dựng CNXH.
Hệ thống động lực thúc đẩy công cuộc xây dựng CNXH ở Việt Nam trong
tư tưởng Hồ Chí Minh rất phong phú và đa dạng, gồm nhiều yếu tố, nhân tố
như: điều kiện tự nhiên, vị trí địa lý thuận lợi; nguồn tài nguyên phong phú, dồi
dào; con người Việt Nam cần cù, dũng cảm, thông minh sáng tạo, có truyền
thống yêu nước, đoàn kết, nhân ái, có ý thức tự lực, tự cường,v.v…Trong đó,
quan trọng nhất, bao trùm lên tất cả là nguồn lực con người. Các động lực khác
muốn phát huy tác dụng đều phải thông qua con người.
Nguồn lực con người đã được Hồ Chí Minh xem xét trên cả hai bình diện
cộng đồng và cá nhân:
- Để phát huy nguồn lực con bình diện cộng đồng, Hồ Chí Minh yêu cầu
chúng ta phải ra sức xây dựng và phát huy sức mạnh của khối đại đoàn kết dân
tộc, tạo sự thống nhất trong nhận thức và hành động xây dựng CNXH của toàn
Đảng, toàn dân.
- Sức mạnh của cộng đồng được hình thành từ sức mạnh của từng con
người, thông qua sức mạnh của từng con người. Do đó, muốn phát huy sức
mạnh của cộng đồng, phải tìm ra các biện pháp khơi dậy, phát huy sức mạnh của
1
Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội. 2002, tập 10, tr 310.
7
từng con người. Để phát huy nguồn lực con người trên bình diện cá nhân, Hồ
Chí Minh đã đề ra nhiều biện pháp:
Nam.
1. Về thời kỳ quá độ lên CNXH ở Việt Nam.
a) Về tính tất yếu và nhiệm vụ của thời kỳ quá độ lên CNXH ở Việt Nam
- Tính tất yếu của thời kỳ quá độ
Các nhà kinh điển Mác – Lênin đã khẳng định tính tất yếu khách quan của
thời kỳ quá độ lên CNXH. Theo các ông có hai con đường quá độ lên CNXH:
con đường quá độ trực tiếp lên CNXH từ những nước tư bản chủ nghĩa phát
triển cao; con đường quá độ gián tiếp lên CNXH bỏ qua giai đoạn phát triển tư
bản chủ nghĩa ở những nước tiền tư bản.
Hồ Chí Minh kế thừa quan niệm của các nhà kinh điển Mác – Lênin về
thời kỳ quá độ lên CNXH, đồng thời có sự bổ sung, phát triển phù hợp với điều
kiện Việt Nam.
+ Hồ Chí Minh khẳng định tính tất yếu của thời kỳ quá độ lên CNXH ở
Việt nam là thời kỳ cải biến cách mạng từ xã hội thuộc địa nửa phong kiến sang
xã hội XHCN.
* Sau khi hoàn thành cách mạng giải phóng dân tộc, tiến thẳng lên CNXH,
không kinh qua giai đoạn tư bản chủ nghĩa, bởi vậy cách mạng nước ta tất yếu
phải trải qua một thời kỳ quá độ lên CNXH và quá độ lên CNXH ở nước ta
thuộc loại hình quá độ gián tiếp.
* Quá độ gián tiếp lên CNXH đã đặt ra cho chúng ta biết bao khó khăn
phức tạp, khiến chúng ta không thể chủ quan, nóng vội, đốt cháy giai đoạn.
+ Đặc điểm và mâu thuẫn của thời kỳ quá độ lên CNXH ở Việt Nam đã
được Hồ Chí Minh chỉ rõ.
* Theo Người, đặc điểm to lớn nhất là từ một nước nông nghiệp lạc hậu
tiến thẳng lên CNXH không kinh qua giai đoạn phát triển tư bản chủ nghĩa. Đặc
điểm này chi phối tác động đến mọi lĩnh vực của đời sống xã hội và làm nảy
sinh nhiều mâu thuẫn.
9
* Mâu thuẫn cơ bản nhất trong thời kỳ quá độ lên CNXH ở Việt Nam là
mâu thuẫn giữa nhu cầu phát triển cao của đất nước và thực trạng kinh tế xã hội
+ Phát huy tính tích cực, chủ động của các tổ chức chính trị - xã hội
+ Xây dựng đội ngũ cán bộ đủ đức – tài, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp
cách mạng XHCN.
- Trong lĩnh vực kinh tế:.
+ Về cơ cấu kinh tế: Người đã đề cập cả cơ cấu ngành, cơ cấu các thành
phần kinh tế và cơ cấu kinh tế vùng, lãnh thổ.
Hồ Chí Minh có quan niệm độc đáo về cơ cấu kinh tế công - nông nghiệp với
tư tưởng lấy nông nghiệp làm mặt trận hàng đầu, củng cố hệ thống thương nghiệp
làm cầu nối giữa các ngành sản xuất xã hội, thoả mãn nhu cầu thiết yếu của nhân
dân.
Người nêu yêu cầu phát triển đồng đều giữa các vùng kinh tế, đặc biệt phải
chú trọng phát triển kinh tế miền núi, hải đảo, biên giới Người chủ trương phát
triển cơ cấu kinh tế nhiều thành phần trong thời kỳ quá độ.
Đặc biệt cần ưu tiên phát triển kinh tế quốc doanh, tạo nền tảng vật chất cho
CNXH; khuyến khích, hướng dẫn, giúp đỡ cho hình thức sở hữu tập thể của nhân
dân lao động phát triển; trong tổ chức hợp tác xã, Người nhấn mạnh nguyên tắc dần
dần, từ thấp đến cao, tự nguyện cùng có lợi; khuyến khích những người lao động
thủ công cá thể đi vào con đường hợp tác; hướng dẫn giúp đỡ các nhà tư sản công
thương cải tạo theo CNXH bằng hình thức tư bản nhà nước, góp phần xây dựng
nước nhà.
+ Về quan hệ phân phối và quản lý kinh tế:
Theo Người, quản lý kinh tế phải dựa trên cơ sở hạch toán, đem lại hiệu
quả cao, sử dụng tốt các đòn bẩy để phát triển sản xuất.
Người khẳng định chủ trương thực hiện nguyên tắc phân phối theo lao
động: làm nhiều hưởng nhiều, làm ít hưởng ít, không làm không hưởng.
Hồ Chí Minh bước đầu đề cập vấn đề khoán trong sản xuất. Theo Người,
“chế độ khoán là một điều kiện của CNXH làm khoán là ích chung và lợi
riêng làm khoán tốt, thích hợp và công bằng dưới chế độ ta hiện nay”.
11
- Trong lĩnh vực văn hoá - xã hội:
+ Cải tạo xã hội cũ, xây dựng xã hội mới, kết hợp cải tạo với xây dựng, lấy
xây dựng làm chính;
+ Kết hợp thực hiện hai nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ, đồng thời tiến hành hai
chiến lược cách mạng; xây dựng CNXH phải có kế hoạch, biện pháp và quyết tâm.
+ Phát huy sức mạnh toàn dân, đem của dân, tài dân, sức dân dưới sự lãnh
đạo của Đảng để làm lợi cho dân.
III. Vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về CNXH và con đường quá độ
lên CNXH vào công cuộc đổi mới hiện nay.
Tư tưởng Hồ Chí Minh về CNXH và con đường quá độ lên CNXH ở Việt
Nam là một di sản vô giá của dân tộc ta, đó là cơ sở, nền tảng hình thành đường
lối cách mạng XHCN ở Việt Nam, nhân tố quyết định thắng lợi của sự nghiệp
xây dựng CNXH ở Việt Nam suốt mấy thập kỷ qua.
Ngày nay, công cuộc đổi mới của Đảng và nhân dân ta dưới ánh sáng tư
tưởng Hồ Chí Minh đã và đang giành nhiều thành tựu quan trọng. Tuy nhiên, trước
những diễn biến phức tạp của tình hình thế giới, cách mạng nước ta đang đứng
trước những thử thách gay gắt. Để tận dụng thời cơ, vượt qua thử thách, tiếp tục
đẩy mạnh công cuộc đổi mới tiến lên giành thắng lợi cho sự nghiệp xây dựng, bảo
vệ Tổ quốc XHCN, cần quán triệt sâu sắc, kiên trì vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh
nhằm giải quyết tốt một số vấn đề cơ bản sau:
1. Trong quá trình đổi mới, phải kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và
CNXH trên nền tảng chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh
- Đi theo con đường XHCN là sự lựa chọn duy nhất đúng của Hồ Chí Minh
và của Đảng, nhân dân ta.
+ Sự lựa chọn đúng đắn đó được chứng minh bằng thực tiễn thắng lợi vĩ
đại của cách mạng Việt Nam mấy thập kỷ qua dưới sự lãnh đạo của Đảng.
Khẳng định tính đúng đắn của con đường XHCN,
+ Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII, Đảng ta chỉ rõ: Sự lựa chọn đó
của Bác Hồ và của Đảng ta là hoàn toàn phù hợp xu thế của thời đại, hợp quy
luật phát triển của lịch sử nhân loại, phản ánh sâu sắc nguyện vọng cao đẹp của
- Phát huy đầy đủ tài năng, trí tuệ và sức lao động sáng tạo của toàn dân.
Để phát huy tốt sức mạnh toàn dân tộc cho sự nghiệp xây dựng đất nước, yêu
cầu quan trọng hàng đầu là
+ Phải xác lập quyền làm chủ của nhân dân trên thực tế, làm cho chế độ
dân chủ được phát huy cao độ trong mọi lĩnh vực của đời sống con người;
+ Chú trọng mở rộng dân chủ ở cơ sở, làm cho dân chủ thực sự trở thành
động lực của sự phát triển xã hội.
2
Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX, Nxb. CTQG, Hà Nội. 2001, tr 20.
14
- Luôn luôn giương cao ngọn cờ đại đoàn kết toàn dân nhằm phát huy
“ nguồn sức mạnh, động lực chủ yếu và là nhân tố có ý nghĩa quyết định bảo đảm
thắng lợi bền vững của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc”.
- Thực hiện đoàn kết rộng rãi các dân tộc, tôn giáo, giai cấp mọi thành viên
trong đại gia đình dân tộc Việt Nam dù sống ở trong nước hay ở nước ngoài. Phát
huy sức mạnh của cả cộng đồng dân tộc phấn đấu vì mục tiêu giữ vững độc lập,
thống nhất của Tổ quốc, vì dân giàu, nước mạnh, xã hội dân chủ, công bằng, văn
minh.
- Thực hiện nhất quán đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, rộng mở theo
phương châm “đa phương hoá, đa dạng hoá các quan hệ, chủ động và tích cực hội
nhập quốc tế”.
+ Với tinh thần “Việt Nam là bạn, đối tác tin cậy và là thành viên có trách
nhiệm trong cộng đồng quốc tế”.
+ Đường lối đối ngoại rộng mở của Đảng nhằm hết sức tranh thủ những
thành tựu của khoa học - công nghệ thế giới, tranh thủ sự ủng hộ của các lực lượng
tiến bộ trên thế giới, thực hiện giữ vững môi trường hoà bình, ổn định và tạo điều
kiện quốc tế thuận lợi để đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá.
3. Xây dựng Đảng, Nhà nước vững mạnh, kiên quyết đấu tranh chống
các trở lực trong quá trình xây dựng CNXH
- Sự lãnh đạo của Đảng là nhân tố quyết định mọi thắng lợi của cách mạng
từng bước chiến thắng nghèo nàn, góp phần xây dựng đất nước giàu mạnh.
KẾT LUẬN
Tư tưởng HCM về CNXH và con đường quá độ lên CNXH ở Việt Nam là
nội dung cơ bản trong tư tưởng HCM. Trên cơ sở vận dụng và phát triển sáng
tạo chủ nghiaax Mác – Lênin, Hồ Chí Minh đã khái quát đặc trưng bản chất,
mục tiêu, động lực của CNXH cũng như chỉ ra cách thức, biện pháp quá độ lên
CNXH.
Nghiên cứu, vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về CNXH và con đường quá
độ lên CNXH ở Việt Nam là một nhiệm vụ quan trọng và cấp thiết trong giai
đoạn hiện nay nhằm tiếp tục làm sáng tỏ con đường đi lên CNXH của dân tộc ta,
16
tin tưởng vào sự nghiệp đổi mới của đất nước, kiên định mục tiêu ĐLDT và
CNXH
HƯỚNG DẪN NGHIÊN CỨU
1. Phân tích quan niệm của Hồ Chí Minh về đặc trưng bản chất, mục tiêu, động
lực của CNXH ở Việt Nam. Ý nghĩa thực tiễn?
2. Trình bày tư tưởng Hồ Chí Minh về thời kỳ quá độ lên CNXH ở Việt
Nam. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn?
17