Đề án Tài chính tiền tệ GVHD: ThS. Phạm Thị Hoàng Mỹ
MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
2. Mục tiêu nghiên cứu
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4. Phương pháp nghiên cứu của đề tài
5. Kết cấu của đề tài
Chương 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ LẠM PHÁT
1.1. Tiền tệ
1.1.1. Định nghĩa tiền tệ
1.1.2. Bản chất tiền tệ
1.2. Lạm phát
1.2.1. Khái niệm lạm phát
1.2.2. Một số quan niệm về lạm phát
1.2.3. Phân loại lạm phát
1.2.3.1. Căn cứ vào định lượng
1.2.3.2. Căn cứ vào định tính
1.2.4. Nguyên nhân gây ra lạm phát
1.2.4.1. Lạm phát do cầu kéo
1.2.4.2. Lạm phát do chi phí đẩy
1.2.4.3. Lạm phát do cơ cấu
1.2.4.4. Lạm phát do cầu thay đổi
1.2.4.5. Lạm phát do xuất khẩu
1.2.4.6. Lạm phát do nhập khẩu
1.2.4.7. Lạm phát do cung tiền tệ cao và liên tục
1.2.5. Mối quan hệ giữa lạm phát và một số biến số kinh tế vĩ mô
1.2.5.1. Quan hệ giữa lạm phát và lãi suất
1.2.5.2. Quan hệ giữa lạm phát và thất nghiệp
1.2.6. Tác động của lạm phát
1.2.6.1. Tác động về mặt kinh tế
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Trong sự nghiệp phát triển kinh tế xã hội của các quốc gia trên thế giới nói chung và
ở Việt Nam nói riêng, lạm phát nổi lên là một vấn đề đáng quan tâm, ảnh hưởng đến sự
nghiệp phát triển kinh tế. Nghiên cứu tình hình lạm phát, các giải pháp kiềm chế và
chống lạm phát được thực hiện ở nhiều các quốc gia trên thế giới. Càng ngày cùng với sự
phát triển đa dạng và phong phú của nền kinh tế, và nguyên nhân của lạm phát cũng ngày
càng phức tạp. Trong sự phát triển kinh tế thị trường ở nước ta theo định hướng xã hội
chủ nghĩa có sự điều tiết của nhà nước, việc nghiên cứu về lạm phát, tìm hiểu nguyên
nhân và các biện pháp chống lạm phát có vai trò to lớn góp phần vào sự nghiệp phát triển
đất nước. Lạm phát được coi như là một căn bệnh thế kỉ của nền kinh tế thị trường, mặc
dù lý thuyết về lạm phát đã khá phát triển nhưng việc làm thế nào vận dụng các biện pháp
để kiểm soát chúng có hiệu quả đối với mỗi nền kinh tế vẫn luôn là vấn đề phức tạp.
Nhìn lại lịch sử lạm phát ở nước ta, từ cuối thế kỉ 19 đến đầu thế kỉ 20, lạm phát
diễn ra kéo dài và nghiêm trọng. Lạm phát đã phá vỡ toàn bộ kế hoạch của nền kinh tế
Việt Nam đồng thời ảnh hưởng đến tất cả các mối quan hệ trong nền kinh tế xã hội.
Những sự kiện gần đây như việc Việt Nam gia nhập WTO, luồng vốn nước ngoài đã đột
ngột chảy mạnh vào Việt Nam trong năm 2008, các vấn đề của thị trường ngoại hối Việt
Nam trong hai năm 2009 và 2010 và cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới cũng như nguy
cơ lạm phát tăng mạnh trở lại đã đặt ra nhiều thách thức mới cho việc quản lý kinh tế vĩ
mô và đặc biệt trong việc kiểm soát lạm phát ở Việt Nam. Với sự điều hành quản lý của
nhà nước, lạm phát đã phần nào được ngăn chặn, khắc phục; tuy nhiên với nhiều bất cập
như thị trường tài chính tiền tệ kém phát triển, sức cạnh tranh của nền kinh tế thấp, các
chính sách pháp luật vừa chồng chéo, vừa thiếu đồng bộ lạm phát vẫn chưa thật sự
được đẩy lùi mà còn có nguy cơ quay trở lại, diễn biến một cách phức tạp. Vì thế, việc
tìm hiểu lạm phát trong thời gian qua, giai đoạn 2008-2012, về nguyên nhân, diễn biến,
tác động, giải pháp…sẽ giúp ta có một cái nhìn tổng quan hơn, đúc kết được kinh nghiệm
để xây dựng chiến lược phát triển đất nước trong thời gian sắp tới. Chính vì những lý do
trên nên em đã chọn nghiên cứu đề tài: “Thực trạng lạm phát ở Việt Nam giai đoạn
2008-2012”.
Sinh viên
Hồ Thị Luyến
SVTH: Hồ Thị Luyến – Lớp L12NH4 2
Đề án Tài chính tiền tệ GVHD: ThS. Phạm Thị Hoàng Mỹ
Chương 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ LẠM PHÁT
1.1. Tiền tệ
1.1.1. Định nghĩa tiền tệ
Định nghĩa tiền tệ của Karl Marx:
Tiền tệ là một hàng hóa đặc biệt, đóng vai trò là vật ngang giá chung để thực hiện
quan hệ trao đổi.
Tiền tệ là một hàng hóa.
Tiền tệ là một hàng hóa đặc biệt.
Định nghĩa tiền tệ của các nhà kinh tế hiện đại:
Tiền tệ là bất cứ một phương tiện nào được xã hội chấp nhận làm phương tiện trao
đổi với mọi hàng hóa, dịch vụ và các khoản thanh toán khác trong nền kinh tế.
1.1.2. Bản chất tiền tệ
Khi nói đến tiền tệ, hầu hết các nhà kinh tế học trước đây cũng cho rằng đó là
phương tiện trung gian trao đổi. Điều này chỉ phù hợp và đúng với giai đoạn ban đầu khi
con người bắt đầu sử dụng công cụ tiền tệ. Quá trình phát triển của tiền tệ cho thấy tiền tệ
không chỉ có vai trò trung gian trao đổi mà nó còn giúp cho chúng ta thực hiện các hoạt
động đầu tư tín dụng… Ngoài ra, còn có những vật thể khác giữ vai trò trung gian trao
đổi như chi phiếu, thương phiếu, kỳ phiếu,… mà các nhà kinh tế học vẫn không thống
nhất với nhau có phải là tiền tệ hay không. Irving Fisher cho rằng chỉ có giấy bạc ngân
hàng là tiền tệ, trong khi Conant Paul Warburg cho rằng chi phiếu cũng là tiền tệ.
Samuelson lại cho rằng tiền là bất cứ cái gì mà nhờ nó người ta có thể mua được hầu hết
mọi thứ. Theo Charles Rist thì cái thật quan trọng đối với nhà kinh tế không phải là sự
thống nhất về một định nghĩa thế nào là tiền tệ mà phải biết và hiểu hiện tượng tiền tệ.
1.2. Lạm phát
1.2.1. Khái niệm lạm phát
Lạm phát là hiện tượng tiền trong lưu thông vượt quá nhu cầu cần thiết làm cho
nhưng lại mắc sai lầm về mặt logic là đem kết quả của lạm phát quy vào bản chất của
lạm phát. Khái niệm của Keynes vẫn chưa nêu được đúng bản chất kinh tế - xã hội của
lạm phát.
Trường phái lạm phát và giá cả
Theo trường phái lạm phát giá cả họ cho rằng lạm phát là “sự tăng giá”. Thực chất
lạm phát chỉ là một trong nhiều nguyên nhân của tăng giá. Có những thời kỳ giá mà
không có lạm phát như: thời kỳ “cách mạng giá cả” ở thế kỷ XVI ở châu Âu, thời kỳ
hưng thịnh của một chu kỳ sản xuất, những năm mất mùa tăng giá chỉ là hệ quả là một
tín hiệu dễ thấy của lạm phát nhưng có lúc tăng giá lại trở thành nguyên nhân của lạm
phát. Lạm phát xảy ra là do tăng nhiều yếu tố chứ không phải chỉ đơn thuần do tăng giá.
Vì vậy quan điểm của trường phái này đã lẫn lộn giữa hiện tượng và bản chất, làm cho
người ta dễ ngộ nhận giữa tăng giá và lạm phát.
SVTH: Hồ Thị Luyến – Lớp L12NH4 4
Đề án Tài chính tiền tệ GVHD: ThS. Phạm Thị Hoàng Mỹ
Trường phái Karl Marx
K.Marx đã cho rằng: lạm phát là “sự tràn đầy các kênh, các luồng lưu thông những
tờ giấy bạc thừa làm cho giá cả (mức giá) tăng vọt và việc phân phối lại sản phẩm xã hội
giữa các giai cấp trong dân cư có lợi cho giai cấp tư sản”. Ở đây Marx đã đứng trên góc
độ giai cấp để nhìn nhận lạm phát, từ đó dẫn tới việc người ta có thể hiểu lạm phát là do
giai cấp tư bản chủ động tạo ra để bóc lột một lần nữa giai cấp vô sản. Trường phái này
có nhược điểm là cho rằng lạm phát chỉ là phạm trù kinh tế của nền kinh tế tư bản chủ
nghĩa và chưa nêu được ảnh hưởng của lạm phát trên phạm vi quốc tế.
Trên đây là các quan điểm của các trường phái kinh tế học chính. Nói chung các
quan điểm đều chưa hoàn chỉnh, nhưng đã nêu được một số mặt của hai thuộc tính cơ bản
của lạm phát.
Ở nước ta cũng như nhiều nước khác, quan niệm của trường phái giá cả được chấp
nhận tương đối phổ biến. Sở dĩ như vậy là vì thế kỷ XX là thế kỷ lạm phát, lạm phát hầu
như diễn ra ở tuyệt đại bộ phận các nước mà sự tăng giá lại là tín hiệu nhạy bén, dễ thấy
của lạm phát. Nói chung, lạm phát chính là một hiện tượng của các nền kinh tế thị
trường, và chúng ta sẽ hiểu đơn giản lạm phát là “sự tăng giá kéo dài, là sự thừa các đồng
Lịch sử của lạm phát cũng chỉ ra rằng, lạm phát ở các nước đang phát triển thường
diễn ra trong thời gian dài, vì vậy hiệu quả của nó phức tạp và trầm trọng hơn. Vì vậy các
nhà kinh tế đã chia lạm phát thành 3 loại.
Lạm phát kinh niên kéo dài trên 3 năm với tỷ lệ lạm phát dưới 50% một năm, siêu
lạm phát kéo dài trên một năm với tỷ lệ lạm phát trên 200% một năm
1.2.3.2. Căn cứ vào định tính
Lạm phát cân bằng và lạm phát không cân bằng
Lạm phát cân bằng: Tăng tương ứng với thu nhập thực tế của người lao động, tăng
phù hợp với hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp. Do đó không gây ảnh
hưởng đến đời sống hàng ngày của người lao động và đến nền kinh tế nói chung.
Lạm phát không cân bằng: Tăng không tương ứng với thu nhập của người lao động.
Trên thực tế loại lạm phát này cũng thường hay xảy ra.
Lạm phát dự đoán trước được và lạm phát bất thường
Lạm phát dự đoán trước: là loại lạm phát xảy ra hàng năm trong một thời kì tương
đối dài và tỷ lệ lạm phát ổn định đều đặn. Về mặt tâm lý, người dân đã quen với tình
trạng lạm phát đó và đã có sự chuẩn bị trước. Do đó không gây ảnh hưởng đến đời sống,
đến kinh tế.
Lạm phát bất thường: xảy ra đột biến mà có thể từ trước chưa xuất hiện. Loại lạm
phát này ảnh hưởng đến tâm lý, đời sống người dân vì họ chưa kịp thích nghi. Từ đó mà
loại lạm phát này sẽ gây ra biến động đối với nền kinh tế và niềm tin của nhân dân vào
chính quyền có phần giảm sút.
SVTH: Hồ Thị Luyến – Lớp L12NH4 6
Đề án Tài chính tiền tệ GVHD: ThS. Phạm Thị Hoàng Mỹ
1.2.4. Nguyên nhân gây ra lạm phát
1.2.4.1. Lạm phát do cầu kéo
Khi tổng cầu tăng quá nhanh trong khi tổng cung không tăng hoặc tăng không kịp,
hay nói cách khác là nền kinh tế đã vượt qua mức sản lượng tiềm năng của nó sẽ dẫn tới
lạm phát do cầu kéo. Lúc này thì đồng tiền cầu sẽ vượt quá mức cung hàng hóa có giới
hạn và sẽ làm cho chúng tăng giá.
Ta có thể thấy rõ hơn cơ chế lạm phát cầu kéo qua mô hình sau đây:
tăng tiếp từ P
1
đến P
2
, nền kinh tế lại chuyển về trạng thái đạt mức sản lượng tiềm năng
SVTH: Hồ Thị Luyến – Lớp L12NH4 7
Q
*
Q
,
AD
0
AD
1
AD
2
AS
0
AS
1
AS
2
P
0
P
1
P
2
P
3
P
1
. Hiện tượng mức giá tăng liên tục, đồng thời sản lượng (hay GDP thực tế) suy giảm
được gọi tình trạng lạm phát đình trệ hay đình lạm; kèm theo đó là thất nghiệp gia tăng.
1.2.4.3. Lạm phát do cơ cấu
Với ngành kinh doanh có hiệu quả, doanh nghiệp tăng dần tiền công “danh nghĩa”
cho người lao động. Nhưng cũng có những nhóm ngành kinh doanh không hiệu quả,
doanh nghiệp cũng theo xu thế đó buộc phải tăng tiền công cho người lao động. Nhưng vì
những doanh nghiệp này kinh doanh kém hiệu quả, nên khi phải tăng tiền công cho người
SVTH: Hồ Thị Luyến – Lớp L12NH4 8
P
(Mức giá)
Q
(Sản lượng)
AS
0
AS
1
AS
2
AD
0
AD
1
P
1
P
2
P
0
P
(Mức giá)
Đề án Tài chính tiền tệ GVHD: ThS. Phạm Thị Hoàng Mỹ
lao động, các doanh nghiệp này buộc phải tăng giá thành sản phẩm để đảm bảo mức lợi
nhuận và làm phát sinh lạm phát.
1.2.4.4. Lạm phát do cầu thay đổi
Khi thị trường giảm nhu cầu tiêu thụ về một mặt hàng nào đó, trong khi lượng cầu
về một mặt hàng khác lại tăng lên. Nếu thị trường có người cung cấp độc quyền và giá cả
có tính chất cứng nhắc phía dưới (chỉ có thể tăng mà không thể giảm, như giá điện ở Việt
Nam), thì mặt hàng mà lượng cầu giảm vẫn không giảm giá. Trong khi đó mặt hàng có
lượng cầu tăng thì lại tăng giá. Kết quả là mức giá chung tăng lên, dẫn đến lạm phát.
1.2.4.5. Lạm phát do xuất khẩu
Khi xuất khẩu tăng, dẫn tới tổng cầu tăng cao hơn tổng cung (thị trường tiêu thụ
lượng hàng nhiều hơn cung cấp), khi đó sản phẩm được thu gom cho xuất khẩu khiến
lượng hàng cung cho thị trường trong nước giảm (hút hàng trong nước) khiến tổng cung
trong nước thấp hơn tổng cầu. Khi tổng cung và tổng cầu mất cân bằng sẽ nảy sinh lạm
phát.
1.2.4.6. Lạm phát do nhập khẩu
Khi giá hàng hóa nhập khẩu tăng (do thuế nhập khẩu tăng hoặc do giá cả trên thế
giới tăng) thì giá bán sản phẩm đó trong nước sẽ phải tăng lên. Khi mức giá chung bị giá
nhập khẩu đội lên sẽ hình thành lạm phát.
1.2.4.7. Lạm phát do cung tiền tệ cao và liên tục
Theo quan điểm của các nhà kinh tế học, khi cung tiền tệ tăng lên kéo dài làm cho
mức giá tăng lên kéo dài và gây ra lạm phát. Có thể thấy ngưỡng tăng cung tiền để gây
lạm phát là nền kinh tế toàn dụng. Thật vậy, ở nền kinh tế toàn dụng, các nhà máy, xí
nghiệp được hoạt động hết công suất, nguồn nguyên nhiên vật liệu được khai thác tối đa.
Khi đó lực lượng lao động được sử dụng một cách triệt để và làm sản lượng tăng lên rất
nhiều. Tuy nhiên, tình hình này sẽ dẫn đến một vài kênh tắc nghẽn trong lưu thông.
Chẳng hạn khi các nhà máy, xí nghiệp hoạt động hết công suất sẽ dẫn đến thiếu năng
lượng, thiếu lao động, nguyên vật liệu dần bị han hiếm…Vai trò của chính phủ và các
sau khi đã tính đến tác động của lạm phát. Quan hệ giữa lãi suất và tỷ lệ lạm phát được
thể hiện qua đẳng thức sau:
Lãi suất thực = lãi suất danh nghĩa - tỷ lệ lạm phát
Đẳng thức trên có ý nghĩa quan trọng đối với quyết định mua sắm hay đầu tư. Nếu
lãi suất danh nghĩa không đủ để bù đắp tỷ lệ lạm phát thì một người khôn ngoan sẽ không
cho vay tiền để sau này được nhận một giá trị thực nhỏ hơn giá trị ban đầu của khoản tiền
anh ta có. Quan hệ giữa lãi suất và lạm phát còn áp dụng được khi tính toán để đưa ra
quyết định đầu tư. Nếu lợi nhuận/ vốn đầu tư < lãi suất thực thì nhà đầu tư sẽ không có
SVTH: Hồ Thị Luyến – Lớp L12NH4 10
Đề án Tài chính tiền tệ GVHD: ThS. Phạm Thị Hoàng Mỹ
lợi bằng việc đem tiền cho vay (với thời hạn cho vay bằng khoảng thời gian đầu tư) để
hưởng lãi suất.
1.2.5.2. Quan hệ giữa lạm phát và thất nghiệp
Khi đề cập đến mối quan hệ giữa lạm phát và thất nghiệp, người ta thường sử dụng
đường cong Phillip. Tuy nhiên, đường cong Phillip hiện đại khác với đường Phillip ban
đầu ở chỗ: đường Phillip hiện đại phản ánh quan hệ giữa lạm phát giá cả và thất nghiệp
chứ không phải giữa lạm phát tiền lương và thất nghiệp; đường Phillip hiện đại có tính
đến tỷ lệ lạm phát dự kiến cũng như cú sốc cung. Trong phân tích sau đây, chúng ta sẽ sử
dụng đường cong Phillip hiện đại cho phù hợp với thực tiễn kinh tế các nước.
Đồ thị 1.3: Đường PhiLip ngắn hạn và dài hạn
(Nguồn: Giáo trình kinh tế học vĩ mô – NXB Giáo dục)
Trong ngắn hạn
Đường cong Phillip trong ngắn hạn cho thấy mối quan hệ giữa lạm phát và thất
nghiệp khi tỷ lệ lạm phát dự kiến của nền kinh tế ở một mức nhất định. Trong ngắn hạn,
quan hệ giữa lạm phát và thất nghiệp là tỷ lệ nghịch, tức là có thể đánh đổi lạm phát cao
để lấy thất nghiệp thấp. Nếu lạm phát tăng cao hơn tỷ lệ lạm phát dự kiến (ei) thì thất
nghiệp sẽ giảm xuống thấp hơn tỷ lệ thất nghiệp tự nhiên (U
N
) và ngược lại. Đường
Phillip ngắn hạn sẽ dịch chuyển khi một trong hai yếu tố tỷ lệ lạm phát dự kiến hoặc tỷ lệ
Dựa vào đường Phillip ngắn hạn, các nhà hoạch định chính sách có thể lựa chọn
chính sách kinh tế vĩ mô (nhất là chính sách tài chính, tiền tệ). Chẳng hạn, khi nền kinh tế
gặp phải lạm phát cao, chính phủ theo đuổi mục tiêu giảm lạm phát sẽ thắt chặt chính
sách tiền tệ (tăng lãi suất, giảm chi tiêu chính phủ ) và thất nghiệp sẽ gia tăng. Ngược
lại, nếu nền kinh tế rơi vào suy thoái, thất nghiệp gia tăng thì chính phủ lại kích cầu đầu
tư và tiêu dùng để giảm thất nghiệp nhưng phải chấp nhận lạm phát cao.
Trong dài hạn
Đường Phillip dài hạn là một đường thẳng song song với trục biểu diễn tỷ lệ lạm
phát và cắt trục hoành tại điểm có tỷ lệ lạm phát tự nhiên (U
N
). Về lâu dài, tỷ lệ thất
nghiệp thực tế bằng tỷ lệ thất nghiệp tự nhiên do tác động của các chính sách tài khóa,
tiền tệ, dù tỷ lệ lạm phát thay đổi ra sao. Như vậy, không tồn tại mối quan hệ giữa lạm
phát và thất nghiệp trong dài hạn.
1.2.6. Tác động của lạm phát
Lạm phát là một trong bốn yếu tố quan trọng nhất của mọi quốc gia (tăng trưởng
cao, lạm phát thấp, thất nghiệp ít, cán cân thanh toán có số dư). Lạm phát có nhiều loại,
cho nên cũng có nhiều mức độ ảnh hưởng khác nhau đối với nền kinh tế. Xét trên góc độ
tương quan, trong một nền kinh tế mà lạm phát được coi là nỗi lo của toàn xã hội và
người ta có thể nhìn thấy tác động của nó. Nhìn chung, lạm phát vừa phải có thể đem lại
những điều lợi bên cạnh những tác hại không đáng kể; còn lạm phát cao và siêu lạm
phát gây ra những tác hại nghiêm trọng đối với kinh tế và đời sống. Tác động của lạm
phát còn tùy thuộc vào lạm phát đó có dự đoán trước được hay không, nghĩa là công
chúng và các thể chế có tiên tri được mức độ lạm phát hay sự thay đổi mức độ lạm phát
là một điều bất ngờ. Nếu như lạm phát hoàn toàn có thể dự đoán trước được thì lạm phát
không gây nên gánh nặng kinh tế lớn bởi người ta có thể có những giải pháp để thích
nghi với nó. Lạm phát không dự đoán trước được sẽ dẫn đến những đầu tư sai lầm và
phân phối lại thu nhập một cách ngẫu nhiên làm mất tinh thần và sinh lực của nền kinh
tế. Lạm phát làm cho chúng ta khó có được thông tin về các nhân tố cấu thành nên giá cả
hợp lý của một hàng hóa. Dưới đây, chúng ta sẽ xem xét cụ thể từng ảnh hưởng của lạm
ngoài hiện tại và tiềm năng nhận thấy rằng lợi nhuận thu được bằng đồng bản tệ sẽ đổi
được ít ngoại tệ hơn. Do đó, họ rút vốn về nước hoặc không muốn đầu tư nữa. Kết quả là
dẫn đến tình trạng kìm hãm đầu tư dài hạn, hạn chế sản xuất, kích thích đầu cơ vào các
tài sản mang lại lợi nhuận nhanh chóng như bất động sản, vàng bạc, đá quý,
Trong lĩnh vực lưu thông: lạm phát thúc đẩy quá trình đầu cơ, tích trữ dẫn đến khan
hiếm hàng hóa, làm mất cân đối quan hệ cung cầu trên thị trường. Đồng thời do đồng tiền
đang bị mất giá nên không ai muốn giữ tiền. Tiền nhanh chóng bị đẩy ra kênh lưu thông.
SVTH: Hồ Thị Luyến – Lớp L12NH4 13
Đề án Tài chính tiền tệ GVHD: ThS. Phạm Thị Hoàng Mỹ
Do có nhiều người tham gia vào lưu thông nên lĩnh vực này trở nên hỗn loạn, tốc độ lưu
thông tiền tăng vọt và điều này càng thúc đẩy lạm phát gia tăng.
Trong lĩnh vực tiền tệ: lạm phát làm cho quan hệ thương mại, tín dụng, ngân hàng
bị thu hẹp. Khi lạm phát xảy ra, lượng tiền gửi vào ngân hàng giảm mạnh, cộng với việc
giảm sút quá nhanh của đồng tiền khiến ngân hàng gặp khó khăn trong việc huy động
vốn, đáp ứng được nhu cầu của người đi vay… Do vậy hoạt động của hệ thống ngân
hàng không còn bình thường nữa, chức năng kinh doanh tiền tệ bị hạn chế.
Ngoài ra, lạm phát gây ra sự biến động lớn trong giá cả và sản lượng hàng hóa.
Khi lạm phát xảy ra thì những thộng tin trong xã hội bị phá hủy do biến động của giá cả
và làm cho thị trường bị rối loạn. Khi đó khó có thể phân biệt được doanh nghiệp làm ăn
tốt hay kém.
Trong việc phân phối lại thu nhập và của cải:
Tác động chính của lạm phát về mặt phân phối phát sinh từ những loại khác nhau
trong các loại tài sản và nợ nần của nhân dân. Khi lạm phát xảy ra, những ngươi có tài
sản, những người đang vay nợ là có lợi vì giá cả của các loại tài sản nói chung đều tăng
lên, con giá trị đồng tiền thì giảm xuống. Ngược lại, những người làm công ăn lương,
những người gửi tiền, những người cho vay là bị thiệt hại.
Để tránh thiệt hại, một số nhà kinh tế đưa ra cách thức giải quyết đơn giản là lãi suất
cần được điều chỉnh cho phù hợp với tỷ lệ lạm phát. Ví dụ, lãi suất thực là 3%, tỷ lệ tăng
giá là 9%, thì lãi suất danh nghĩa là 12%. Tuy nhiên, một sự điều chỉnh cho lãi suất phù
hợp tỷ lệ lạm phát chỉ có thể thực hiện được trong điều lạm phát ở mức độ thấp.
hội bị cắt giảm các ngành, các lĩnh vực dự định đựơc chính phủ đầu tư và hỗ trợ vốn bị
thu hẹp lại hoặc không có gì. Một khi ngân sách nhà nước bị thâm hụt thì các mục tiêu
cải thiện và nâng cao đời sống kinh tế xã hội sẽ không có điều kiện thực hiện được.
Các tác động khác
Trong điều kiện lạm phát cao và không dự đoán được, cơ cấu nền kinh tế dễ bị mất
cân đối vì khi đó các nhà kinh doanh thường hướng đầu tư vào những khu vực hàng hóa
có giá cả tăng lên cao, nhưng ngành sản suất có chu kỳ ngắn, thời gian thu hồi vốn nhanh,
hạn chế đầu tư vào những ngành sản suất có chu kỳ dài, thời gian thu hồi vốn chậm vì có
nguy cơ gặp phải nhiều rủi ro. Trong lĩnh vực lưu thông, khi vật giá tăng quá nhanh thì
tình trạng đầu cơ, tích trữ hàng hóa thường là hiện tượng phổ biến, gây nên mất cân đối
giả tạo làm cho lưu thông càng thêm rối loạn. Trong điều kiện các nhân tố khác không
đổi, lạm phát xảy ra làm tăng tỷ giá hối đoái. Sự mất giá của tiền trong nước so với ngoại
tệ tạo điều kiện tăng cường tính cạnh tranh của hàng xuất khẩu, tuy nhiên nó gây bất lợi
cho hoạt động nhập khẩu. Lạm phát cao và siêu lạm phát làm cho hoạt động của hệ thống
tín dụng rơi vào tình trạng khủng hoảng. Nguồn tiền trong xã hội bị sụt giảm nhanh
chóng,nhiều ngân hàng bị phá sản vì mất khả năng thanh toán, lam phát phát triển nhanh,
biểu giá thường xuyên thay đổi làm cho lượng thông tin được bao hàm trong giá cả bị
phá hủy, các tính toán kinh tế bị sai lệch nhiều theo thời gian, từ đó gây khó khăn cho các
hoạt động đầu tư. Lạm phát gây thiệt hại cho ngân sách nhà nước bằng việc bào mòn giá
trị thực của những khoản công phí. Ngoài ra lạm phát cao kéo dài và không dự đoán
trước được làm cho nguồn thu ngân sách nhà nước bị giảm do sản xuất bị suy thoái. Tuy
SVTH: Hồ Thị Luyến – Lớp L12NH4 15
Đề án Tài chính tiền tệ GVHD: ThS. Phạm Thị Hoàng Mỹ
nhiên, lạm phát cũng có tác động làm gia tăng số thuế nhà nước thu được trong những
trường hợp nhất định. Nếu hệ thống thuế tăng dần (thuế suất lũy tiến) thì tỷ lệ lạm phát
cao hơn sẽ đẩy người ta nhanh hơn sang nhóm phải đóng thuế cao hơn, và như vậy chính
phủ có thể thu được nhiều thuế hơn mà không phải thông qua luật. Trong thời kỳ lạm
phát giá cả hàng hóa – dịch vụ tăng lên một cách vững chắc, bên cạnh đó tiền lương danh
nghĩa cũng theo xu hướng tăng lên, vì vậy thu nhập thực tế của người lao động nói chung
có thể vững hoặc tăng lên, hoặc giảm đi chứ không phải bao giờ cũng suy giảm.
t
pq
pq
0
.
.
∑
∑
Trong đó:
i
q
: rỗ hàng hoá,
i
p
: giá của các mặt hàng
SVTH: Hồ Thị Luyến – Lớp L12NH4 16
CPI =
ii
i
t
i
pq
pq
00
0
.
.
∑
∑
Đề án Tài chính tiền tệ GVHD: ThS. Phạm Thị Hoàng Mỹ
Chương 2. THỰC TRẠNG LẠM PHÁT Ở VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 2008-2012
2.1. Lịch sử lạm phát ở Việt Nam
Câu chuyện lạm phát ở Việt Nam không phải là mới. Đã từng có thời kỳ tỉ lệ lạm
phát lên đến 3 chữ số. Đổi tiền và lạm phát năm 1986 gọi là lạm phát năm 1986 vì đó là
năm có tỉ lệ tăng cao nhất, nhưng lạm phát thực sự đã xuất hiện từ nhiều năm trước đó.
Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) từ 1981-1985 lần lượt tăng là: 70%, 95%, 50%, 65% và 92%.
Chỉ có điều lúc đó không ai thừa nhận có lạm phát trong nền kinh tế xã hội chủ nghĩa,
không ai dám đưa vấn đề ra để phân tích, bàn luận công khai. Không có giải pháp tổng
thể nào được đưa ra trong một thời gian dài cho đến khi xảy ra cuộc đổi tiền vào năm
1985.Có lẽ có quan niệm cho rằng đổi tiền sẽ khôi phục lại giá trị đồng bạc Việt Nam và
lạm phát sẽ chấm dứt nên mới có qui định "Sức mua của đồng tiền mới bằng 10 lần sức
mua của đồng tiền cũ" (Quyết định 01/HĐBT-TĐ ngày 13/9/1985). Nhưng sau đổi tiền,
CPI năm 1985 tăng đến 92%, năm 1986 lên tới 775%, nền kinh tế bước vào thời kỳ lạm
phát dữ dội với tỉ lệ tăng 3 chữ số kéo dài trong 2 năm tiếp theo. Phải đến cuối năm 1988
và qua năm 1989, nhiều biện pháp về tiền tệ nhằm kiểm soát lạm phát mới được đưa ra.
Một trong những quyết định quan trọng ghi nhận được lúc đó là việc lần đầu tiên mạnh
tay nới lỏng tỷ giá USD/VND vào cuối năm 1988 và tiếp tục cơ chế linh hoạt đến năm
1991, trước khi bước vào giai đoạn đóng băng tỷ giá từ năm 1992. Trước tháng 12/1988,
tỷ giá do ngân hàng Vietcombank công bố thường thấp hơn thị trường tự do hàng chục
lần. Các công ty xuất khẩu lẩn tránh việc đưa ngoại tệ vào ngân hàng bằng cách nhập
khẩu hàng hóa quay vòng. Vào tháng 12/1987, Vietcombank công bố tỷ giá ngoại tệ là
3.000 đồng/USD. Đây là bước tăng vọt so với tỷ giá 368,2 đồng công bố từ đầu năm, tuy
vẫn còn thấp hơn mức giá 4.300 đồng ở thị trường tự do. Trong các tháng tiếp theo, tỷ giá
được điều chỉnh với biên độ chênh lệch khoảng 10% so với giá thị trường. Sự thay đổi tỉ
giá đã có tác động rất mạnh đến cán cân thương mại. Nếu chỉ xét trong khu vực giao dịch
bằng USD, xuất khẩu trong giai đoạn từ 1989 đến 1992 bình quân tăng 50% mỗi năm. Tỉ
lệ nhập siêu so với xuất khẩu đã lập tức giảm mạnh từ 47,6% trong năm 1986 xuống gần
như cân bằng vào năm 1989 và thậm chí đã có xuất siêu vào năm 1990.
Đến cơn sốt tín dụng đầu thập kỷ 1990. Năm 1989, với cơ chế rất thoáng trong việc
thành lập quỹ tín dụng, hàng loạt quỹ tín dụng ra đời để huy động vốn, cho vay lòng
đến nay (2007). Từ đây các nhân tố lạm phát được nuôi dưỡng.
SVTH: Hồ Thị Luyến – Lớp L12NH4 19
Đề án Tài chính tiền tệ GVHD: ThS. Phạm Thị Hoàng Mỹ
Hình 2.2. Tốc độ tăng trưởng GDP thống kê qua các năm và ước tính cho 2008
Đến hôm nay lạm phát quay trở lại. Năm 2004 đã xuất hiện những dấu hiệu của
cuộc lạm phát mới và được xác nhận lại vào năm 2005 nhưng đã không có những giải
pháp thoa đáng. Thậm chí đến giữa năm 2007 dấu hiệu trở nên rõ ràng hơn thì một lãnh
đạo Ngân hàng Nhà nước vẫn tuyên bố mạnh mẽ lạm phát không thể đến mức hai con
số". Nếu nhìn lại trong vòng 3 thập kỷ qua, tính chu kỳ của nền kinh tế bộc lộ rõ hơn: cứ
10 năm lặp lại một lần. Suy thoái diễn ra vào các năm x7, x8 sau khi đạt được đỉnh tăng
trưởng trong các năm x4, x5, xó. Tuy nhiên, đến nay liệu chúng ta đã có đủ kinh nghiệm
để không bị cuốn theo chu kỳ? Kiểm chứng về chính sách từ lạm phát và hậu lạm phát
năm 86 đến nay, cho thấy những lúc khó khăn nhất thì có nhiều tiếng nói và có sự lắng
nghe hơn, xuất hiện những cải cách mạnh mẽ. Nhưng vào những lúc nền kinh tế đạt được
tốc độ tăng trưởng cao dần thì nhiều quyết định được đưa ra rất bất ngờ, ít được tham
vấn, tiếng nói đóng góp cũng ít xuất hiện. Phải chăng đây là căn bệnh cố hữu không thể
vượt qua?
2.2. Thực trạng lạm phát ở Việt Nam giai đoạn 2008 – 2012
Tình hình lạm phát ở Viêt Nam trong giai đoạn 2008-2012 diễn biến khá phức tạp.
Để tìm hiểu rõ hơn diễn biến lạm phát trong giai đoạn này, ta tiến hành phân tích từng
năm 2008, 2009, 2010,2011, 2012.
SVTH: Hồ Thị Luyến – Lớp L12NH4 20
Đề án Tài chính tiền tệ GVHD: ThS. Phạm Thị Hoàng Mỹ
Biểu đồ 2.3: Diễn biến CPI trong giai đoạn 2008-2012
(tự minh họa dựa trên số liệu thu thập được từ website vneconomy.vn)
2.2.1. Năm 2008
Trong hơn nửa đầu năm 2008, lạm phát là vấn đề số một của nền kinh tế Viêt nam.
Tốc độ tăng giá tiêu dùng liên tục tăng ở mức 2%/tháng với đỉnh điểm vào tháng 2 và
tháng 5 (tăng 3,91 %).
Biểu đồ 2.4: Diễn biến CPI trong năm 2008.
Trong tháng 1/2009 CPI lên nhẹ 0,32%. Nhưng đến tháng 2, Tết Kỷ Sửu và rằm
tháng Giêng kéo giá lương thực, thực phẩm và nhiều loại hàng hóa, dịch vụ đồng loạt lên
mức cao. Ở đỉnh cao thứ nhất, CPI tăng 1,17%, trước khi đảo chiều giảm âm 0,17% trong
tháng 3 ngay sau đó.
Từ tháng 4 đến tháng 8 chỉ số giá hạ nhiệt chỉ còn tăng 0,24% trong tháng 8. Mức
chênh lệch trong giai đoạn này chỉ 0,31 điểm phần trăm và gần như không có đột biến
lớn. Tổng mức bán lẻ hàng hoá và doanh thu dịch vụ tiêu dùng tính cho tới tháng 8/2009
đã có sự cải thiện. So với cùng kỳ năm trước, mức tăng đạt 18,4%, loại trừ yếu tố giá còn
tăng 9,3%. Trong khi đó, giá một số nguyên liệu trên thế giới bắt đầu hồi phục, đặc biệt
là mặt hàng xăng dầu. Tính cho đến ngày 30/8, giá xăng dầu đã tăng 7 lần liên tiếp, chốt
lại mặt bằng giá mới ở mức xăng A92 có giá bán 15.700 đồng/lít.
Bước sang tháng 9, đã xuất hiện những diễn biến “ngược dòng”. CPI đạt đỉnh ở
mức tăng 0,62% rồi tạm “nghỉ” ở mức tăng 0,37% của tháng 10 sau đó. So với chu kỳ
trước, các con số đỉnh và đáy tương ứng đều cao hơn, báo hiệu những lo ngại tiềm ẩn của
lạm phát tiếp tục gia tăng. Sự điều chỉnh nhỏ trong tháng 10 được hỗ trợ một phần từ việc
giá xăng dầu giảm lần đầu tiên trong năm vào ngày 1/10. Giá lương thực, thực phẩm chỉ
tăng rất nhẹ so với tháng trước đó.
Về tác động của tăng giá trên thị trường thế giới, đến tháng 11/2009, giá gạo 5% tấn
xuất khẩu của Việt Nam tăng lên mức 451,31 USD/tấn. Do có quyền số cao tới hơn 40%
trong rổ hàng hóa tính CPI, tăng giá lương thực tác động mạnh đến giá cả trong nước,
CPI nhóm hàng này tháng 12/2009 đã tăng 7,54% so với một năm trước đó.
Năm 2009 khép lại với chỉ số giá chấp nhận được trong tất cả các mức so sánh.
Nhưng sự gia tăng mạnh mẽ chỉ số CPI tháng cuối cùng của năm khiến niềm vui chưa thể
trọn vẹn trong những ngày đón năm mới 2010.
2.1.3. Năm 2010
Diễn biến chỉ số giá tiêu dùng (CPI) năm 2010 như hình chiếc cốc, tạo bởi mức
chênh lệch giữa tháng tăng đỉnh và đáy lên đến hơn 1,5%, khá tương đồng với năm 2007.
Hai điểm cao nhất đều được tạo thành từ mức tăng xấp xỉ 2% của tháng 2 và tháng 12,
SVTH: Hồ Thị Luyến – Lớp L12NH4 23