I. LỜI NÓI ĐẦU
Luật quốc tế (LQT) là hệ thống các nguyên tắc và quy phạm pháp luật, được các quốc
gia và chủ thể khác của luật quốc tế thỏa thuận tạo dựng nên, trên cơ sở tự nguyện và
bình đẳng, nhằm điều chỉnh những quan hệ phát sinh giữa quốc gia và các chủ thể đó
trong mọi lĩnh vực của đời sống quốc tế. Đó là nguyên tắc và quy phạm áp dụng
chung mà không có sự phân biệt về tính chất, hình thức hay vị thế của từng quốc gia
khi thiết lập quan hệ quốc tế giữa những chủ thể này với nhau.
LQT đã trải qua nhiều thời kỳ phát triển từ thời kỳ cổ đại, trung đại rồi đến cận
đại. Khác với các thời kỳ trước, sự hình thành và phát triển của luật quốc tế hiện đại
được đặt trong hệ thống quốc tế và là một bộ phận cơ bản của hệ thống đó. Vậy trong
hệ thống quốc tế đó và đặt trong xu thế hội nhập toàn cầu hiện nay thì LQT đã chứng
tỏ được vai trò và tầm quan trọng của mình như thế nào. Đó cũng là lí do em lựa chọn
đề tài: “Bình luận về vai trò của LQT trong giai đoạn hợp tác và đối thoại hiện nay.”
II. GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ
1. Khái quát quá trình hình thành và phát triển của Luật quốc tế trong các giai
đoạn.
Song song với việc xem xét quá trình hình thành và phát triển của Luật quốc tế,
chúng ta có thể thấy vai trò của LQT đã ngày càng được mở rộng hơn không chỉ nằm
gói gọn trong những vấn đề thuộc về truyền thống như quyền con người, vấn đề hòa
bình an ninh... mà phạm vi của điều chỉnh của Luật quốc tế đã vượt ra khỏi tính
truyền thống đó như quy định thêm các vấn đề về môi trường, kinh tế quốc tế, quốc tế
nhân đạo... Đó cũng là tất yêu của quá trình lịch sử, bởi vạn vận luôn luôn thay đổi và
Luật quốc tế cũng phải thay đổi theo để phù hợp với xu hướng đó.
a, Luật quốc tế cổ đại :
Hình thành trên nền tảng kinh tế thấp kém, quan hệ giữa các quốc gia yếu ớt, rời rạc,
lại bị cản trở bởi điều kiện tự nhiên và phát triển xã hội rất hạn chế nên luật quốc tế
thời kỳ này mang tính khu vực là chủ yếu và hầu như chỉ được sử dụng để điều chỉnh
các quan hệ về chiến tranh và ngoại giao. Việc điều chỉnh các vấn đề này chủ yếu dựa
vào các luật lệ và tập quán.
LQT thời kì này góp phần đóng góp vào quá trình hoàn thiện hệ thống pháp luật quốc
tế. Đây là thời kỳ ghi nhận sự hình thành các nguyên tắc mới của luật quốc tế như:
nguyên tắc bình đẳng về chủ quyền, không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau.
Tuy nhiên, đóng góp quan trọng nhất là sự ra đời của các tổ chức quốc tế đầu tiên
đánh dấu sự liên kết và ràng buộc có tính cộng đồng quốc tế của các quốcgia như:
Liên minh điện tín quốc tế (1865), Liên minh bưu chính thế giới (1879)..
d, Luật quốc tế Hiện đại
Trên bình diện chung, hệ thống quốc tế được tạo thành bởi nhiều yếu tố, như các quốc
gia; các tổ chức quốc tế liên quốc gia; các thực thể quốc tế khác (và các thiết chế quốc
tế của những tổ chức này); luật quốc tế và các quy phạm khác của hệ thống quốc tế.
Giữa các yếu tố này có sự gắn kết với nhau trong những mối quan hệ tương tác, tạo
thành hệ thống quốc tế. Đặc trưng tiêu biểu của hệ thống quốc tế được thể hiện qua
yếu tố trung tâm là quốc gia và những mối quan hệ, liên kết giữa quốc gia với yếu tố
khác, thông qua sự điều chỉnh của các loại quy phạm mang tính pháp lý - chính trị và
với những phương thức nhất định. Liên quan đến quốc gia và sự phát triển của hệ
thống quốc tế, luật quốc tế hiện đại giữ vai trung tâm, bởi được các quốc gia và thực
thể quốc tế khác sử dụng với tính chất là công cụ pháp lý để duy trì sự phát triển của
hệ thống này trong một trật tự pháp luật nhất định và có sự bao quát tới hầu hết các
lĩnh vực của đời sống quốc tế.
Hình thành và tồn tại trong hệ thông quốc tế như vậy, kết hợp với xu thế phát
triển của thời đại (xu thế quốc tế hóa mọi mặt của đời sống quốc tế ở cả hai cấp độ,
khu vực và toàn cầu, dựa trên cơ sở nền kinh tế trí thức), luật quốc tế hiện đại trong
những thập nguyên đầu của thế kỉ XXI là kết quả và là sự phản ánh các quan hệ quốc
tế trong điều kiện hợp tác, phát triển của cộng đồng thế giới đang có những thay đổi
to lớn về mọi phương diện, cấp độ, tuân theo quy luật vận động khách quan ở từng
quốc gia cũng như trên phạm vi toàn cầu.
2. Vai trò của LQT trong giai đoạn đối thoại, hợp tác hiện nay
Đối thoại, hợp tác là việc các bên tự nguyện đứng ra thỏa thuận, thương lượng
với nhau về một vấn đề. Việc đối thoại, hợp tác này phải trên cơ sở của sự bình đẳng,
thiện chí, tôn trọng ý kiến của nhau. Cùng nghĩ tới lợi ích của mình và của bên còn
Về pháp lý, quyền con người là phẩm giá , năng lực, nhu cầu và lợi ích hợp pháp
của con người được thể chế, bảo vệ bởi luật quốc gia và luật quốc tế.
Quyền con người được bắt đầu từ môi trường quốc gia, trước khi cộng đồng quốc tế
có thể thống nhất với nhau về những giá trị, chuẩn mực, quy định hay nguyên tắc
chung để điều chỉnh cách thức ứng xử của các quốc gia đối với công dân của nước đó
và cả công dân của các nước khác. Các chuẩn mực về quyền con người nhìn từ góc
độ quốc gia hay quốc tế đều nhằm hạn chế sự tự do xâm phạm quyền con người của
nhà nước trong cả hai lĩnh vực các quan hệ trong nội bộ quốc gia và các quan hệ quốc
tế. Còn sự phân loại các nhóm quyền theo chủ thể, tính chất hay nội dung quyền có
tính chất để xác định hay nhận diện quyền con người với ý nghĩa là những quyền
năng cụ thể, theo các tiêu chí hay chuẩn mực nhất định, để có cơ chế điều chỉnh, giám
sát, điều phối các hoạt động liên quan đến việc bảo vệ, phát triển quyền con người ở
những quy mô và cấp độ khác nhau.
Các quyền cơ bản của con người trong luật quốc tế bao gồm :
+ Quyền dân sự chính trị;
+ Các quyền về kinh tế - xã hội – văn hóa.
Các quyền này trên thực tế đã được ghi nhận trong các văn bản pháp lý quốc tế như:
Công ước về các quyền dân sự và chính trị (1966
Danh mục 44 quyền con người cần được bảo vệ bằng luật quốc tế đã được ghi nhận
cụ thể trong 3 văn kiện quốc tế quan trọng về quyền con người, cụ thể là: Tuyên ngôn
thế giới về quyền con người (UDHR), Công ước về các quyền dân sự, chính trị
(ICCPR) và công ước quốc tế về các quyền KT-XH-VH (ICẺC) do Liên hiệp quốc
ban hành. Những văn bản này tạo nên Bộ luật tổng thể về nhân quyền mang lại giá trị
CT-XH và lịch sử thời đại, đồng thời mở ra cho quá trình quốc tế hóa và nội luật hóa
các quyền con người với những chuẩn mực mới trong Luật quốc tế và Luật quốc gia
và ngược lại, các quốc gia cũng xem các quyền này là những quyền cơ bản của con
người để trên cơ sở đó có các biện pháp pháp lý bảo vệ hữu hiệu.
Để đảm bảo tính thực thi cho các quyền này thì LQT đã có những cơ chế bảo vệ và
phát triển quyền con người bao gồm các thiết chế quốc tế và quốc gia cùng với hệ
thống luật quốc tế (như các điều ước quốc tế về quyền con người) và luật quốc gia
đảm xử lý nghiêm minh, kịp thời các cá nhân có hành vi vi phạm các tội ác xâm
phạm đến quyền con người, đến giá trị văn minh của nhân loại.
- Một văn bản có giá trị quốc tế quan trọng trong lĩnh vực tư pháp hình sự để bảo vệ
các quyền con người đó là quy chế Tòa hình sự quốc tế (ICC) có thẩm quyền xét xử
các tội phạm diệt chủng, TP chống loài người, TP chiến tranh và TP xâm lược. ICC
được thành lập ra với mục tiêu bắt cá nhân phải chịu trách nhiệm cho các tội ác đã
được liệt kê trong danh sách những tội phạm nghiêm trọng và mức độ lớn cho những
giá trị chung của con người. Quy chế này đã khẳng định việc cần phải trừng trị các tội
ác nghiêm trọng nhất xâm phạm đến quyền con người, đồng thời xây dựng cơ chế
trừng phạt những cá nhân phạm tội ác xâm phạm quyền con người.