thực trạng lạm phát ở việt nam năm 2010-2011 và quý i năm 2012 và dự báo năm 2012 - Pdf 23



I, Thực trạng lạm phát ở Việt Nam năm 2010-2011 và quý I năm 2012 3
1. Diễn biến lạm phát năm 2010 3
2. Diễn biến lạm phát năm 2011 5
3. Tình hình lạm phát quý I năm 2012 8
II, Nguyên nhân dẫn đến lạm phát tại Việt Nam 10
III, Những biện pháp chủ yếu kiềm chế lạm phát ở Việt Nam 12
III, Một số dự báo về tình hình lạm phát ở Việt Nam năm 2012 18

1

Lạm phát là sự tăng lên của mức giá chung của nền kinh tế trong một thời hạn
nhất định. Trong mỗi giai đoạn có thể có giá mặt hàng này tăng, mặt hàng kia giảm,
và giá các mặt hàng khác không thay đổi. Nhưng nếu mức giá chung tăng lên, ta có
lạm phát. Ngược lại, nếu mức giá chung giảm xuống, ta có giảm phát. Lạm phát có thể
được đo lường bằng nhiều cách khác nhau. Tuy vậy, ở nước ta, cách phổ biến cho đến
nay là chỉ số giá tiêu dùng (CPI), phản ánh biến động về giá cả chung qua thời gian
của một số lượng (hay còn gọi là “rổ”) hàng hóa, dịch vụ đại diện cho tiêu dùng cuối
cùng phục vụ đời sống bình thường của người dân.
Lạm phát cao và bất ổn kinh tế vĩ mô là bất lợi lớn đối với khuyến khích và thu
hút đầu tư; làm cho môi trường kinh doanh ở nước ta kém cạnh tranh hơn so với các
nước khác. Lạm phát cao, biến động liên tục đã làm gia tăng chi phí sản xuất, giảm lợi
nhuận; làm cho các kế hoạch đầu tư trung và dài hạn trở nên rủi ro hơn và không dự
tính được một cách chắc chắn. Hệ quả là, các doanh nghiệp nói chung không những
phải cắt giảm đầu tư phát triển, mà có thể phải cắt giảm cả quy mô sản xuất hiện hành
để đối phó với lạm phát cao.
Thực tế cho thấy, lượng vốn FDI đăng ký bốn tháng đầu năm 2010 chỉ bằng
52% của cùng kỳ năm 2009. Lần đầu tiên trong hơn 10 năm qua, số doanh nghiệp
đăng ký mới và số vốn đăng ký đã giảm xuống, chỉ bằng khoảng 75% của cùng kỳ
năm 2009. Điều tra của Hiệp hội doanh nghiệp châu Âu cũng cho thấy chỉ số lạc quan

3
Diễn biến giá tiêu dùng trong năm 2010 (số liệu từ Tổng cục Thống
kê).
Trong tháng 12/2010, mức tăng giá tiêu dùng (CPI) của cả nước là 1,98%, cũng
là mức tăng cao nhất trong năm. Đóng góp chủ yếu vào con số này là mức tăng giá ở
khu vực hàng ăn và dịch vụ ăn uống, tăng 3,31% (riêng lương thực tăng tới 4,67%).
Cũng trong tháng này, giá nhà ở và vật liệu xây dựng cũng tăng mạnh tới 2,53%.
Tuy nhiên, tính chung trong cả năm 2010, giáo dục mới là nhóm tăng giá mạnh
nhất trong rổ hàng hóa tính CPI (gần 20%). Tiếp đó là hàng ăn (16,18%) và nhà ở -
vật liệu xây dựng (15,74%). Bưu chính viễn thông là nhóm duy nhất giảm giá với mức
giảm gần 6% trong năm 2010.
Về các địa phương, việc Hà Nội và TP HCM có mức tăng giá (lần lượt là
1,83% và 1,61%) thấp hơn so với trung bình cả nước trong tháng 12 là một diễn biến
khá bất ngờ. Trong khi đó, những địa phương có mức trượt giá mạnh trong tháng
(khoảng 2%) là Thái Nguyên, Hải Phòng và Gia Lai.
Trong tháng 12, giá vàng và đôla Mỹ không leo thang mạnh như những tháng
trước (lần lượt tăng 5,43% và 2,86%). Tuy nhiên, tính chung trong cả năm 2010, giá
vàng đã tăng tới 30% trong khi mức tăng của đôla Mỹ là xấp xỉ 10%.
4
Trong năm 2010, chỉ số giá vàng tăng 36,72%, chỉ giá USD tăng 7,63%.
Về CPI của các vùng miền, đáng chú ý là chỉ số CPI khu vực nông thôn tháng 12
tăng 2,04%; cao hơn 1,87% của khu vực thành thị.
2. Diễn biến lạm phát năm 2011
$!%&7M"4?NOAB/"58200&70:'D:;'E7"(
)$!/"5"/"PF!6Q!R"R"B>'F'!/*#"EF!4S!8!
AM
Tổng cục Thống kê hôm 23/12 cho hay giá lương thực thực phẩm tăng 22,8%, giá
nhà ở 19,7% trong khi các chỉ số giá giao thông và giáo dục tăng 16% và 23%.
(Ngu$n: tổng cục thống kê)
Diễn biến lạm phát năm 2011 khá phức tạp, thể hiện ở việc tăng cao những

so tháng 12/2010 đã tăng tới gần 16% và tăng trên 23% so cùng kỳ năm trước); song
cần nhấn mạnh rằng, sốt giá đột ngột và khan hiếm hàng hóa sẽ khó có cơ hội xẩy ra
trong giả định không có những đột biến về thiên tai và chính sách quản lý vĩ mô, cũng
6
như những khủng hoảng mạnh trên thị trường tài chính-tiền tệ trong nước và quốc
tế…
Diễn biến lạm phát của Việt Nam từ 2000-T8/2011
(% so với tháng 12 năm trước)
Ngu$n: Wikipedia
Trong 4 tháng cuối năm, lạm phát có dấu hiệu giảm tốc, chỉ tăng dưới 1% mỗi
tháng, nhưng lạm phát tháng 12 lại có dấu hiệu nhích lên so với 2 tháng trước đó. Cụ
thể, lạm phát tháng 10 và tháng 11 chỉ tăng 0,36% và 0,39% nhưng lạm phát tháng 12
tăng 0,53%.Ngày 23/12/2011, cơ quan thống kê Việt Nam công bố số liệu sơ bộ về
tình hình kinh tế trong tháng 12. Theo đó, lạm phát vẫn ở mức 18,13%, có giảm so với
tháng 11. Nhưng giá lương thực, thực phẩm đã tăng 24,8%.
Theo cơ quan thống kê Việt Nam lạm phát trong tháng 12/2011 ở mức 18,13%
thay vì 19,83% như hồi tháng 11 và 21,59% của tháng 10. Riêng giá lương thực, thực
phẩm đã tăng 24,8%.
Như vậy, chính phủ Việt Nam đã không thực hiện được mục tiêu đề ra là kéo
lạm phát xuống dưới mức 15%.
7
Đáng lưu ý là lạm phát tháng 12 chưa phản ánh hiện tượng tăng giá điện, trần
vé máy bay vì thời điểm tăng giá 2 mặt hàng này diễn ra sau ngày chốt số liệu lấy
CPI.
Tỷ lệ lạm phát tháng 12 tăng 18,13% so với cùng kỳ năm ngoái.
Diễn biến phức tạp của lạm phát đang tác động đến đời sống thường ngày của người
dân, đến hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp, cũng như gây khó khăn
đối với kinh tế vĩ mô. Đây cũng là một vấn đề trọng tâm mà Chính phủ đang tâm
trung theo dõi, nghiên cứu để tiếp tục thực hiện các giải pháp điều hành.
3. Tình hình lạm phát quý I năm 2012

Giai đoạn cuối và đầu năm Âm lịch, cùng với việc đẩy nhanh tiến độ các dự án,
giá cả ở nhóm nhà ở và vật liệu xây dựng cũng tăng nhanh, tới 2,47% so tháng trước,
trong khi nhóm thiết bị và đồ dùng gia đình cũng tăng giá 0,41%.
Tổng cục Thống kê vừa công bố chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tháng 3/2012 với mức tăng
0,16% so với tháng trước, thấp nhất trong so sánh với 20 tháng qua và với cùng kỳ 3
năm gần đây. Diễn biến này cũng phá vỡ xu hướng gia tốc của 4 tháng trước đó. Ở các
chỉ tiêu quan trọng khác, tình hình cũng có dấu hiệu khả quan hơn. So với cùng kỳ,
CPI tháng này chỉ còn tăng 14,15%, chốt lại 7 tháng liên tiếp hạ nhiệt. Đây cũng là
mức tăng thấp nhất của chỉ số này kể từ tháng 4/2011 đến nay.
Qua quý 1 với chỉ số giá tiêu dùng chỉ tăng 2,55%, đo bằng CPI tháng này so với cuối
năm trước, cho thấy triển vọng giữ lạm phát cả năm ở một con số đã tiến được bước
đầu tiên.
II, Nguyên nhân dẫn đến lạm phát tại Việt Nam
1.Lạm phát do cầu kéo
- Ngân hàng Nhà nước Việt Nam đã phải phát hành một lượng tiền đồng Việt Nam rất
lớn để trả lương tăng lên khi mức lương cơ bản tăng. Khi có nhiều tiền hơn, người dân
sẽ tăng việc chi tiêu, mua sắm, làm tăng tổng cầu do đó sẽ “kéo” giá cả lên, nhất là khi
9
“tổng cung” bị hạn chế do chưa tăng việc sản xuất kịp so với “tổng cầu”.Đồng thời
với đó, Nhà nước quá chú trọng đến việc hạn chế nhập khẩu cũng như là hạn chế việc
tiêu dùng các hàng hóa “sa sỉ”, nên đã tăng mức thuế suất đối với các mặt hàng đó,
cùng với việc điều chỉnh mức thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp, điều này phần
nào cũng góp phần là nguyên nhân của lạm phát, “khi vượt một điểm nào đó, chính
việc đánh thuế là nguyên nhân của lạm phát” (Keynes).
2.Sự tồn tại của quyền lực độc quyền trong nền kinh tế Việt Nam.
- Giá cả của các loại hàng hóa, dịch vụ thiết yếu từ thực phẩm(gạo,nước) cho đến
năng lượng(xăng,dầu) thực tế không do thị trường quyết định mà do “bàn tay hữu
hình” của Nhà nước điều khiển.Giá cả các mặt hàng này Các công ty nhà nước đệ
trình mức giá đối với hàng hóa, dịch vụ do mình quản lý, sau đó là có sự phê duyệt
của Chính phủ về mức giá đó. Điều này đã dẫn đến sự cứng nhắc, “phi thị trường” về

- Đầu tư kém hiệu quả dẫn đến thua lỗ(Vinashin,công ty cho thuê tài chính VFII), hệ số
ICOR (đo số đơn vị đầu tư tính theo % GDP để tạo ra 1 đơn vị GDP) là 7,8 cao hơn
trung bình các nền kinh tế là 5,2
5.Năng suất lao động thấp:
_ Năng suất lao động xã hội của Việt Nam năm 2010 đạt 40,3 triệu đồng/người, chỉ
tương đương với 2.067 USD, thấp xa so với các con số tương ứng của một số nước
(năm 2008 của Nhật Bản 73.824 USD, Brunei 72.500 USD, Singapore 62.724 USD,
Hàn Quốc 38.235 USD )
6.Tình trạng vàng hóa và Đô la hóa khá cao, tác động tiêu cực đối với lạm
phát
- Hút vào đây một lượng vốn lớn của xã hội mà không được đầu tư trực tiếp cho sản
xuất kinh doanh tạo ra sản phẩm để cân đối với tiền.
11
- Vàng và USD trở thành phương tiện thanh toán, làm cho tổng phương tiện thanh toán
tăng lên.
- Giá vàng trong nước biến động nhiều lần cao hơn giá vàng thế giới, tác động tới nhập
lậu, kéo tỷ giá biến động theo.
- Tỷ giá tăng tuy khuyến khích xuất khẩu, nhưng lại làm khuyếch đại lạm phát ở trong
nước và đây là yếu tố lạm cho lạm phát của Việt Nam cao hơn lạm phát của thế giới;
làm tăng nợ quốc gia khi tính bằng VND.
7.Giá cả thế giới tăng là một trong những yếu tố quan trọng tác động đối với
lạm phát ở trong nước .
- Tỷ lệ xuất, nhập khẩu/GDP của Việt Nam đã tăng nhanh và hiện ở mức khá cao
( năm 2010 đạt 154,4%, khả năng năm 2011 sẽ còn cao hơn)-tức là có độ mở khá
cao, đứng thứ 5 thế giới-nên biến động giá cả trên thế giới sẽ tác động nhiều đến
biến động giá ở Việt Nam hơn các nước khác.
- Giá thế giới tăng sẽ làm cho chi phí đẩy ở trong nước tính bằng VND tăng kép: vừa
tăng do đơn giá tính bằng USD tăng, vừa tăng do tính bằng VND tăng.
- Giá vàng, giá bất động sản tăng cao đầu năm 2010 cũng đã hút một lượng tiền
lớn vào đây, nên CPI cũng tăng chậm lại. Từ cuối 2010, chứng khoán và bất động sản

Chính phủ cần chủ trương áp dụng tỷ giá linh hoạt với biên độ thích hợp, phản ánh
quan hệ cung cầu trên thị trường, giúp cho việc kiềm chế lạm phát nhưng không ảnh
hưởng lớn đến xuất khẩu, bảo đảm việc mua bán, chuyển đổi ngoại tệ diễn ra thuận
lợi.
Cán cân thương mại là một chỉ tiêu vĩ mô rất quan trọng. Nhập siêu tăng trong năm
2007 và tăng cao hơn trong quý 1 năm nay, đã đe doạ đến cân đối vĩ mô, đòi hỏi phải
áp dụng các biện pháp kiên quyết để hạn chế tình trạng này trên cơ sở đẩy mạnh xuất
13
khẩu, kiểm soát nhập khẩu. Để làm việc này, Chính phủ đang chỉ đạo quyết liệt thực
hiện nhiều giải pháp: Ngân hàng Nhà nước bảo đảm đủ vốn và mua hết ngoại tệ cho
các doanh nghiệp làm hàng xuất khẩu, xử lý ngay các ách tắc về tín dụng xuất khẩu
cho từng trường hợp cụ thể; tăng cường hỗ trợ công tác xúc tiến thương mại đối với
hàng xuất khẩu; cải cách mạnh thủ tục hành chính liên quan đến hoạt động xuất khẩu
để giảm chi phí cho doanh nghiệp, góp phần nâng cao khả năng cạnh tranh của hàng
xuất khẩu Việt Nam đi đôi với việc áp dụng các hàng rào kỹ thuật và các biện pháp
khác phù hợp với các cam kết quốc tế của nước ta để giảm nhập siêu, kể cả việc tăng
thuế nhập khẩu những mặt hàng không cần thiết.
Bốn là, triệt để tiết kiệm trong sản xuất và tiêu dùng. Hiện nay, tình trạng lãng
phí trong sản xuất và tiêu dùng diễn ra khá phổ biến ở các cơ quan, đơn vị. Tiềm năng
tiết kiệm trong sản xuất và tiêu dùng là rất lớn. Vì vậy, Chính phủ yêu cầu các cơ quan
nhà nước cắt giảm 10% chi tiêu hành chính, các doanh nghiệp phải rà soát tất cả các
khoản chi nhằm hạ giá thành và phí lưu thông. Chính phủ kêu gọi mọi người, mọi nhà
triệt để tiết kiệm tiêu dùng, nhất là nhiên liệu, năng lượng. Đây là giải pháp vừa có tác
dụng giảm sức ép về cầu, giảm nhập siêu, vừa góp phần nâng cao hiệu quả của cả nền
xản xuất xã hội.
Năm là, tăng cường công tác quản lý thị trường, kiểm soát việc chấp hành pháp
luật nhà nước về giá. Kiên quyết không để xảy ra tình trạng lạm dụng các biến động
trên thị trường để đầu cơ, nâng giá, nhất là các mặt hàng thiết yếu cho sản xuất và tiêu
dùng, như: xăng dầu, sắt thép, xi măng, thuốc chữa bệnh, lương thực, thực phẩm…;
ngăn chặn tình trạng buôn lậu qua biên giới, đặc biệt là buôn lậu xăng dầu, khoáng

nhũng.
Tóm lại, dù có rất nhiều biện pháp để giảm lạm phát cũng như ảnh hưởng của lạm
phát tới cuộc sống của người dân nhưng mức độ hiệu quả tới đâu còn phụ thuộc vào
rất nhiều yếu tố và cũng cần một khoảng thời gian khá dài để thực hiện. Suy cho cùng
thì biện pháp hiệu quả nhất mà chính phủ có thể áp dụng là thông qua chính sách tiền
tệ.
III, Một số dự báo về tình hình lạm phát ở Việt Nam năm 2012
15
Dựa vào các con số thống kê tình hình lạm phát năm 2011 và quý 1 năm 2012, các
chuyên gia kinh tế đã đưa ra những nhận định khác nhau về vấn đề lạm phát trong
năm nay.
(1) V!WF!^4*4K*4KK*
Standard Chartered dự báo mức lạm phát của Việt Nam năm 2012 là 11,3% và
rồi giảm xuống còn 8% vào năm 2013.
Standard Chartered cho rằng, so với cùng kỳ năm ngoái, tỷ lệ lạm phát tại Việt
Nam đang giảm dần và kỳ vọng sẽ tiếp tục giảm xuống 19,7% trong tháng 12 và
xuống một chữ số vào khoảng cuối quí 2-2012, giữ mức trung bình là 11,3% trong
năm 2012.
Ngân hàng này nhận định triển vọng lạm phát có dấu hiệu tích cực và việc giá
thực phẩm trên thế giới được điều chỉnh gần đây sẽ giúp kiềm chế lạm phát trong
những tháng tới. Ngoài ra, việc NHNN thắt chặt chính sách tiền tệ cũng có thể giúp
giảm áp lực lạm phát.
Báo cáo hoạt động kinh tế và triển vọng năm 2011 và 2012 của Việt Namviết:
“Chúng tôi kỳ vọng tỷ lệ lạm phát sẽ quay lại mức một chữ số vào cuối quí 2 hoặc đầu
quí 3-2012". Tuy nhiên, Standard Chartered cho rằng lạm phát giảm chưa chắc đã tạo
đủ điều kiện để nới lỏng các chính sách tiền tệ trong thời gian tới do còn tồn tại các áp
lực mới gây mất giá tiền đồng.
"Tiền đồng vẫn có khả năng tiếp tục bị mất giá trong năm 2012 do tình trạng
thâm hụt tài khoản vãng lai và lượng dự trữ ngoại tệ thấp”.
(2) V!WF!!7,_`.

tăng trưởng năm 2010”.
Credit Suisse cho biết tăng trưởng kinh tế Việt Nam có thể tăng tốc lên 6.2% vào
năm 2012 từ mức 5.8% trong năm 2011. Được biết, tổng sản phẩm quốc nội (GDP)
năm 2010 tăng 6.8%.
17
Ông Santitarn cho rằng: “Loạt chỉ báo vĩ mô mới được công bố, cụ thể là GDP
quý 2, cho thấy các dấu hiệu đầu tiên về sự giảm sút của nhu cầu. Vẫn còn sớm để kết
luận rằng các biện pháp thắt chặt chính sách đã phát huy tác dụng và vì thế có thể cắt
giảm lãi suất, đặc biệt là khi lạm phát vẫn chưa chạm đỉnh”.
(4) a?U4b/)/F"[H$"!4
CPI không quá 10% năm 2012
Theo Ủy ban Giám sát Tài chính Quốc gia, do kết quả thực hiện Nghị quyết 11
trong năm 2011 và định hướng tiếp tục thắt chặt chính sách (tăng trưởng tín dụng cả
năm 2012 khoảng 15-17%), tác động của yếu tố cầu kéo đến lạm phát có xu hướng
giảm dần và ổn định trong năm 2012; nhờ đó, triển vọng lạm phát năm 2012 được dự
báo khả quan.
Bên cạnh đó, những nhân tố bên ngoài như giá hàng hóa thế giới giảm (do nhu cầu
hàng hóa nguyên vật liệu thô suy giảm trước nguy cơ suy thoái kinh tế cao) cũng tác
động tích cực đến việc kiểm soát lạm phát của Việt Nam.
Tuy nhiên, tăng lương và tăng giá một số mặt hàng cơ bản như điện, than… là
nhân tố tác động tiêu cực đến lạm phát năm 2012. Nếu công tác quản lý thị trường và
điều hành chính sách được thực hiện hợp lý sẽ không gây hiệu ứng “lạm phát kỳ
vọng”.
Theo tính toán của Ủy ban Giám sát tài chính Quốc gia, CPI 2 quý đầu năm 2012 -
không tính tới yếu tố thời vụ (thời điểm Tết Nguyên đán) và với giả định không có
điều chỉnh về giá cả mặt hàng cơ bản và tỷ giá - sẽ dao động trong khoảng 3-4%. Nếu
điều chỉnh giá điện 20% trong năm 2012 có thể khiến CPI năm 2012 tăng thêm
1,43%.
18
Từ những phân tích trên, Ủy ban Giám sát tài chính Quốc gia cho rằng áp lực lạm

tiểu luận của chúng em còn nhiều thiếu sót. Chúng em rất mong nhận được sự đóng
gópý kiến của cô và các bạn!
Chúng em xin chân thành cảm ơn!
20
V!LFO4%5
Giáo trình kinh tế vĩ mô
hp://www.nghiencuukinhtehoc.com/2011/07/lam-phat-in"a#on-la-gi-quan-diem-ve.html
hp://vi.wikipedia.org/wiki/L%E1%BA%A1m_ph%C3%A1t
hp://edu.go.vn/e-tap-chi/#n-bai/10/199/201/6449/lam-phat-la-gi.html
hp://tuoitre.vn/Chinh-tri-Xa-hoi/449754/Lam-phat-Viet-Nam-cao-nhat-chau-A.html
hp://www.vietnamnet.vn/vn/chinh-tri/69108/lam-phat-thang-4-chi-duoi-0-1 html
và một số trang web khác.
21


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status