Thực trạng lạm phát ở việt nam - Pdf 34

MỤC LỤC
LỜI NÓI ĐẦU...............................................................................................3
NỘI DUNG....................................................................................................4
CHƯƠNG I: LẠM PHÁT VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG....................4
I. Các lý thuyết về lạm phát.................................................................4
1. Khái niệm....................................................................................4
2. Bản chất của lạm phát................................................................6
3. Nguyên nhân lạm phát................................................................6
II. Các loại lạm phát.............................................................................9
III. Lạm phát được tính như thế nào? (đo lường lạm phát)................12
IV. Hậu quả của lạm phát....................................................................13
V. Tác động của lạm phát đến nền kinh tế..........................................15
CHƯƠNG II: TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ.............................................17
I. Khái niệm.........................................................................................17
II. Vai trò của tăng trưởng kinh tế.......................................................18
III. Mối quan hệ giữa lạm phát và tăng trưởng kinh tế.......................18
CHƯƠNG III: LẠM PHÁT Ở VIỆT NAM-THỰC TRẠNG VÀ ĐẶC
TRƯNG...............................................................................................19
I. Thời kỳ 1976-1980..........................................................................19
II. Thời kỳ 1981-1988.........................................................................21
III. Chuyển theo kinh tế thị trường.....................................................27
CHƯƠNG IV: THỰC TRẠNG LẠM PHÁT VÀ TĂNG TRƯỞNG
KINH TẾ TRÊN THẾ GIỚI...............................................................41
I. Mỹ....................................................................................................41
II. Nhật................................................................................................42
III. Zimbabwe......................................................................................43
CHƯƠNG V: GIẢI PHÁP KIỀM CHẾ LẠM PHÁT.............................44
I. Chống lạm phát bằng cách giảm cầu...............................................44
1
II. Chống lạm phát bằng cách tác động lên cung................................46
III. Chống lạm phát do quán tính........................................................47

Từ sau chiến tranh thế giới thứ hai đã xuất hiện nhiều lý thuyết khác nhau
vế lạm phát. Trong số các dó có các lý thuyết chủ yếu là:
Lý thuyết cầu do nhà kinh tế Anh nổi tiếng John Keynes đề xướng. Ông
đã qui nguyên nhân cơ bản của lạm phát về sự biến động cung cầu. Khi mức
cung đã đạt đến tột đỉnh vượt quá mức cầu, dẫn đến đình đốn sản suất, thì
nhà nước cần phải tung thêm tiền vào lưu thông, tăng các khoản chi nhà
nước, tăng tín dụng, nghĩa là tăng cầu để đạt tới mức cân bằng với cung và
vượt cung. Khi đó đã xuất hiên lạm phát, và lạm phát ở đây có tác dụng thúc
đẩy sản xuất phát triển. Vậy là trong điều kiện nền kinh tế phát triển có hiệu
quả, tiến bộ kỹ thuật được áp dụng tích cực, cơ cấu kinh tế được đổi mới
nhanh và đúng hướng thì lạm phát đã là một công cụ để tăng trưởng kinh tế,
chống suy thoái. Thực tế của các nền kinh tế thị trường trong thời kỳ sau
4
chiến tranh thế giới thứ hai đã chứng tỏ điều đó. Nhưng khi nền kinh tế đã
vào thời kỳ phát triển kém hiệu quả, tiến bộ kỹ thuật được áp dụng chậm
chạp, cơ cấu kinh tế được đổi mới theo các hướng không đúng hay trì trệ,
thiết bị kỹ thuật cũ tồn đọng đầy ứ. v. v... thì lạm phát theo lý thuyết cầu đã
không còn là công cụ tăng trưởng kinh tế nữa.
Lý thuyết chi phí cho rằng lạm phát nảy sinh do mức tăng các chi phí sản
xuất, kinh doanh đã nhanh hơn mức tăng năng suất lao động. Mức tăng chi
phí này chủ yếu là do tiền lương được tăng lên, giá các nguyên nhiên vật liệu
tăng, công nghệ cũ kỹ không được đổi mới, thể chế quản lý lạc hậu không
giảm được chi phí... Đặc biệt là trong những năm 70 do giá dầu mỏ tăng cao,
đã làm cho lạm phát gia tăng ở nhiều nước. Vậy là chi phí tăng đến mức mà
mức tăng năng suất lao động xã hội đã không bù đắp được mức tăng chi phí
khiến cho giá cả tăng cao lạm phát xuất hiện. Ở đây suy thoái kinh tế đã đi
liền với lạm phát. Do đó, các giải pháp chống lạm phát không thể không gắn
liền với các giải pháp chống suy thoái. Kể từ cuối những năm 60 nền kinh tế
thế giới đã rơi vào thời kỳ suy thoái với nghĩa là tốc độ tăng trưởng bị chậm
lại, kể từ đó vai trò là công cụ tăng trưởng của lạm phát đã không còn nữa.

- Do tăng cán cân thương mại, khiến cho nước ngoài tăng mua hàng trong
nước, còn người trong nước giảm mua hàng nước ngoài.
- Do Chính phủ tăng chi tiêu hoặc giảm thuế. Nếu chính phủ tăng chi tiêu
của mình dành cho hàng hoá và dịch vụ, lượng tiền mà chính phủ chi mua
hàng hoá và dịch vụ sẽ được đưa trực tiếp vào nền kinh tế, làm tăng tổng
cầu. Nếu Chính phủ giảm thuế hoặc tăng chi chuyển nhượng thì sẽ làm tăng
thu nhập khả dụng, từ đó làm tăng tiêu dùng của hộ gia đình, tức là tăng cầu.
Hiện nay, nguyên nhân tăng chi tiêu của Chính phủ là một trong những
nguyên nhân chủ yếu gây ra tình trạng lạm phát cao.
- Do việc kiểm soát lượng cung tiền của ngân hàng trung ương còn hạn
chế. Ngân hàng trung ương không kiểm soát được lượng cung tiền hợp lí,
cung tiền tăng làm tăng lãi suất, kích thích tăng đầu tư tư nhân làm tăng cầu.
6
Nhiều người có trong tay một khoản tiền lớn và họ sẵn sàng chi trả cho
một hàng hoá hay dịch vụ với mức giá cao hơn bình thường. Khi nhu cầu về
một mặt hàng tăng lên sẽ kéo theo sự tăng lên về giá cả của mặt hàng đó.
Giá cả của các mặt hàng khác cũng theo đó leo thang, dẫn đến sự tăng giá
của hầu hết các loại hàng hoá trên thị trường. Lạm phát do sự tăng lên về cầu
được gọi là “lạm phát do cầu kéo”, nghĩa là cầu về một hàng hoá hay dịch vụ
ngày càng kéo giá cả của hàng hoá hay dịch vụ đó lên mức cao hơn. Các nhà
khoa học mô tả tình trạng lạm phát này là”quá nhiều tiền đuổi theo quá ít
hàng hoá”.
+ Lạm phát do chi phí đẩy ( lạm phát do cung): xảy ra khi chi phí sản xuất
gia tăng hoặc năng lực sản xuất của quốc gia bị giảm sút, trong cả hai trường
hợp đều tạo ra áp lực tăng giá.
- Chi phí sản xuất tăng có thể do các nguyên nhân sau: do gia tăng tiền
lương danh nghĩa, tăng giá nguyên-nhiên-vật liệu,... Do chi phí sản xuất tăng
nên doanh nghiệp buộc phải tăng giá sản phẩm nhằm bảo đảm lợi nhuận,
cuối cùng, thị trường cân bằng tại mức giá cao hơn ban đầu.
- Năng lực sản xuất của quốc gia giảm có thể do các nguyên nhân như:

Khi lạm phát xảy ra, giá trị của đồng tiền sụt giảm.
+ Lạm phát tiền tệ: Cung tiền tăng (chẳng hạn do ngân hàng trung ương
mua ngoại tệ vào để giữ cho đồng tiền trong nước khỏi mất giá so với ngoại
tệ; hay chẳng hạn do ngân hàng trung ương mua công trái theo yêu cầu của
nhà nước) khiến cho lượng tiền trong lưu thông tăng lên là nguyên nhân gây
ra lạm phát.
+ Lạm phát do quán tính:
- Lạm phát do quán tính hay lạm phát dự kiến là tỷ lệ lạm phát hiện tại
mà mọi người dự kiến nó sẽ tiếp tục trong tương lai. Tỷ lệ này được đưa vào
các hợp đồng kinh tế, các kế hoạch hay các loại thoả thuận khác. Và, chính
8
vì mọi người đều đưa tỷ lệ lạm phát dự kiến này vào mọi hoạt động của
mình nên cuối cùng nó trở thành hiện thực.
Một ví dụ cụ thể của hiện tượng lạm phát do quán tính là khi nền kinh tế
bị lạm phát cao, mọi người có xu hướng chỉ giữ lại một lượng tiền mặt tối
thiểu để chi tiêu hằng ngày, họ đem tiền đổi lấy các đồng tiền mạnh khác,
vàng hay các loại hàng hoá để tích trữ giá trị, làm tăng lượng tiền lưu thông
trên thị trường, càng làm đồng tiền mất giá và tăng lạm phát.
II. CÁC LOẠI LẠM PHÁT
Căn cứ vào tốc độ lạm phát người ta chia ra làm ba loại lạm phát khác
nhau.
1. Lạm phát vừa phải xảy ra khi giá cả tăng chậm ở mức một con số hay
dưới 10% một năm. Hiện ở phần lớn các nước TBCN phát triển đang có lạm
phát vừa phải. Trong điều kiên lạm phát vừa phải giá cả tăng chậm thường
xấp xỉ bằng mức tăng tiền lương, hoặc cao hơn một chút do vậy đồng tiền bị
mất giá không lớn, điều kiện kinh doanh tương đối ở định tác hại của lạm
phát ở đây là không đáng kể.
2. Lạm phát phi mã xảy ra khi giả cả bắt đầu tăng với tỷ lệ hai hoặc ba
con số như 20%, 100% hoặc 200%... một năm. Khi lạm phát phi mã đã hình
thành vững chắc, thì các hợp đồng kinh tế được ký kết theo các chỉ số giá

lãi suất thực tế là 6% một năm thì nay những người có tiền cho vay sẽ điều
chỉnh mức lãi suất này lên tới 16% một năm. Công nhân viên chức sẽ được
tăng lương lên 10% một năm... Vậy là một cuộc lạm phát cân bằng và có dự
đoán trước đã không gây ra một tác hại nào đối với sản lượng thực tế, hiệu
quả hoặc phân phối thu nhập.
Trên thực tế hiếm có thể xảy ra một cuộc lạm phát như vậy, vì khi một
khối lượng tiền tệ được ném thêm vào lưu thông, giá cả mọi hàng hoá không
vì thế mà tăng ngay, và nếu lạm phát chưa sang giai đoạn phi mã thì mức gia
10
tăng mức đầu thường là thấp hơn mức tăng khối lượng tiền tệ, do vậy nhà
nước đã có lợi về thu nhập và ngay khi mức giá cả tăng lên ngang hoặc cao
hơn mức tăng của khối lượng tiền tệ thì nhà nước vẫn có lợi vì giá trị tiền tệ
của những người cho nhà nước vay tiền đã giảm đi. Chỉ đến khi toàn bộ giá
cả kể cả lãi suất và tiền lương đều tăng theo mức lạm phát thu nhập của nhà
nước mới cân bằng trên một mặt bằng giá cả mới. Hơn nữa trong thực tế rất
khó dự báo được một chỉ số lạm phát ổn định, vì có khá nhiều yếu tố làm giá
cả tăng vọt như: giá dầu mỏ đã tăng trong những năm 70, hay trong sự kiện
chiến tranh vùng vịnh.
Song có thể thấy một loại lạm phá vừa phải được điều tiết đã xuất hiện ở
một số nước có nền kinh tế thị trường. Loại lạm phát này có đặc trưng là
mức độ lạm phát không lớn và ổn định, không tăng đột biến và nhà nước có
thể điều tiết nó, tăng, giảm tuỳ theo các điều kiện cụ thể sao cho nó không
gây ra các tác hại đáng kể cho nền kinh tế. Loại lạm phát này chỉ có thể xuất
hiện ở những quốc gia mà ở đó bộ máy nhà nước đủ mạnh để kiềm chế tốc
độ lạm phát khi cần. Sức mạnh của nhà nước thể hiện ở chỗ có đủ hiểu biết
về lạm phát và các công cụ chống lạm phát (mà ngày nay đã có khá nhiều tài
liệu nói đến), đồng thời phải có đủ ý chí và quyết tâm sử dụng các công cụ
đó và giải quyết các hậu quả của nó. Trong những năm 80 ta đã thấy không
ít quốc gia TBCN phát triển ở phương Tây đã làm được điều đó. Mức lạm
phát mà họ duy trì được vào khoảng từ 3-6% một năm. Mức lạm phát này

đoàn lao động và các tạp chí kinh doanh cũng làm việc này). Các giá cả của
các loại hàng hóa và dịch vụ được tổ hợp với nhau để đưa ra một chỉ số giá
cả để đo mức giá cả trung bình, là mức giá trung bình của một tập hợp các
sản phẩm. Tỷ lệ lạm phát là tỷ lệ phần trăm mức tăng của chỉ số này.
Không tồn tại một phép đo chính xác duy nhất chỉ số lạm phát, vì giá trị
của chỉ số này phụ thuộc vào tỷ trọng mà người ta gán cho mỗi hàng hóa
12
trong chỉ số, cũng như phụ thuộc vào phạm vi khu vực kinh tế mà nó được
thực hiện.Các phép đo phổ biến của chỉ số lạm phát bao gồm:
- Chỉ số giá tiêu dùng (consumer price index - CPI): đo giá cả của một số
lượng lớn các loại hàng hoá và dịch vụ khác nhau, bao gồm thực phẩm,
lương thực, chi trả cho các dịch vụ y tế..., được mua bởi "người tiêu dùng
thông thường".
- Chỉ số giá sinh hoạt (CLI): là sự tăng trưởng trên lý thuyết trong giá cả
sinh hoạt của một cá nhân, trong đó các chỉ số giá tiêu dùng được giả định
một cách xấp xỉ.
- Chỉ số giá sản xuất (PPI): đo mức giá mà các nhà sản xuất nhận được.
- Chỉ số giá bán buôn đo sự thay đổi trong giá cả của một sự lựa chọn các
hàng hóa bán buôn.
- Chỉ số giá hàng hóa đo sự thay đổi trong giá cả của một sự lựa chọn các
hàng hóa.
- Chỉ số giảm phát GDP dự trên việc tình toán của tổng sản phẩm quốc
nội.
- Chỉ số giá tiêu dùng cá nhân (PCEPI)
IV. HẬU QUẢ CỦA LẠM PHÁT
Ai là nạn nhân của lạm phát?
Khi lạm phát xảy ra thì hầu hết mọi thành phần của nền kinh tế đều trở
thành nạn nhân của lạm phát, bởi nhìn một cách tổng thể thì mỗi người đều
là người tiêu dùng. Tuy nhiên, 3 thành phần chịu nhiều thiệt thòi nhất là:
- Người về hưu: Lương hưu là một trong những “hàng hoá” ổn định nhất

thương nghiệp thường phát triển mạnh. Bên cạnh đó việc đánh giá hiệu quả
sản xuất kinh doanh không còn chính xác vì thước đo của đồng tiền bị thu
hẹp, công tác hạch toán chỉ còn là hình thức.
Trong lĩnh vực thương mại: người ta từ chối tiền giấy trong vai trò là
trung gian trao đổi đồng thời chuyển sang đầu cơ tích trữ vàng, hàng hóa đẩy
14
khỏi tay mình những đồng tiền mất giá. Điều này càng làm cho lưu thông
tiền tệ bị rối loạn. Lạm phát xảy ra là môi trường tốt để những hiện tượng
tiêu cực trong đời sống phát sinh như đầu cơ, tích trữ gây cung – cầu hàng
hóa giả tạo…
Trong lĩnh vực tiền tệ tín dụng: tín dụng cũng rơi vào khủng hoảng khi
người dân không an tâm đầu tư trong điều kiện lạm phát gia tăng. Lạm phát
làm sức mua của đồng tiền bị giảm, lưu thông của tiền tệ diễn biến khác
thường, tốc độ lưu thông của thị trường tăng lên một cách đột biến hoạt động
của hệ thống tín dụng rơi vào tình trạng khủng hoảng do nguồn tiền gửi
trong xã hội bị sụt giảm nhanh chóng nhiều ngân hàng bị phá sản do mất khả
năng thanh toán và thua lỗ trong kinh doanh dẫn đến hệ thống tiền tệ bị rối
loạn không thể kiểm soát nổi.
Trong lĩnh vực tài chính nhà nước: tuy lúc đầu lạm phát mang lại thu nhập
cho ngân sách nhà nước qua cơ chế phân phối lại sản phẩm và thu nhập của
quốc dân nhưng do ảnh hưởng nặng nề của lạm phát mà những nguồn thu
của ngân sách nhà nước (chủ yếu là thuế) ngày càng sụt giảm do sản xuất bị
sút kém, do nhiều công ty, xí nghiệp bị phá sản, giải thể…
Trong lĩnh vực đời sống xã hội: đại bộ phận tầng lớp dân cư sẽ rất khó
khăn và chật vật do phải chịu áp lực từ sự gia tăng của giá cả. Giá trị thực tế
của tiền lương giảm sút nghiêm trọng làm cho trật tự an toàn xã hội bị phá
hoại nặng nề.
Như vậy, lạm phát đã ảnh hưởng đến mọi mặt trong đời sống kinh tế xã
hội và nhà nước phải cân bằng được giữa nhu cầu khuyến khích tăng trưởng
kinh tế và sự đòi hỏi phải kiểm soát được lạm phát.

thống tín dụng rơi vào tình trạng khủng hoảng do nguồn tiền gởi trong xã
hội bị sụt giảm nhanh chống, nhiều ngân hàng bị phá sản do mất khả năng
thanh toán và thua lỗ trong kinh doanh dẫn đến hệ thống tiền tệ bị rối loạn
không thể kiểm soát nổi
16
Trong lĩnh vực tài chính nhà nước: tuy lúc đầu mang lại thu nhập cho
Ngân sách nhà nước qua cơ chế phân phối lại sản phẩm và thu nhập quốc
dân nhưng do ảnh hưởng nặng nề của lạm phát mà những nguồn thu của
Ngân sách nhà nước (chủ yếu là thuế) ngày càng bị giảm do sản xuất bị sút
kém, do nhiều công ty xí nghiệp bị phá sản, giải thể…
Trong lĩnh vực đời sống xã hội: đại bộ phận tầng lớp dân cư sẽ rất khó
khăn và chật vật do phải chịu áp lực từ sự gia tăng của giá cả. Giá trị thực tế
của tiền lương bị giảm sút nghiêm trọng dẫn đến trật tự an toàn xã hội bị phá
hoại nặng nề.
Như vậy lạm phát đã ảnh hưởng đến mọi mặt trong đời sống kinh tế xã
hội ,và nhà nước phải cần bằng giữa nhu cầu khuyến khích tăng trưởng kinh
tế và đòi hỏi phải kiểm soát được lạm phát.
CHƯƠNG II: TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ
I. KHÁI NIỆM
Tăng trưởng kinh tế là sự tăng lên về số lượng, chất lượng, tốc độ và quy
mô sản lượng của nền kinh tế trong một thời kỳ nhất định. Sự tăng trưởng
được so sánh theo các thời điểm gốc sẽ phản ánh tốc độ tăng trưởng. Đó là
sự gia tăng quy mô sản lượng kinh tế nhanh hay chậm so với thời điểm gốc.
Hiện nay, trên thế giới người ta thường tính mức gia tăng về tổng giá trị
của cải của xã hội bằng các đại lượng tổng sản phẩm quốc dân hoặc tổng sản
phẩm quốc nội.
- Tổng sản phẩm quốc dân (GNP) là tổng giá trị tính bằng tiền của những
hàng hoá và dịch vụ mà một nước sản xuất ra từ các yếu tố sản xuất của
mình (dù là sản xuất ở trong nước hay ở nước ngoài) trong một thời kỳ nhất
định (thường là một năm).

Trong thực tế không một quốc gia nào dù phát triển đến đâu cũng không
tránh khỏi lạm phát. Bất cứ một nền kinh tế của quốc gia nào đều cũng trải
qua các cuộc khủng hoảng kinh tế và tỷ lệ lạm phát tăng với những quy mô
khác nhau. Tỷ lệ lạm phát tăng cáo sẽ đẩy giá cả hàng hóa chung tăng lên
mà tiền công danh nghĩa của công nhân không tăng lên đo đó tiền lương
thực tế của họ sẽ giảm đi.
Khi lạm phát tăng cao gây ra hiện tượng siêu lạm phát làm đồng nội tê
tăng rất nhanh, khi đó người dân sẽ ồ ạt bán nội tệ để mua ngoại tệ.Tệ nạn
tham nhũng tăng cao, nạn buôn lậu phát triển mạnh, tình hình đầu cơ trái
phép tăng nhanh, trốn thuế và thuế không thu đã gây ra tình trạng nguồn thu
của nhà nước bị tổn hại nặng nề càng làm cho thâm hụt ngân sách nhà nước
trầm trọng dẫn đến tỷ lệ lạm phát cao.
CHƯƠNG II I : LẠM PHÁT Ở VIỆT NAM - THỰC TRẠNG VÀ ĐẶC
TRƯNG
I. THỜI KỲ 1976-1980
Năm 1976, Việt Nam thống nhất đổi tên thành nước Cộng hòa Xã hội
chủ nghĩa Việt Nam, năm 1980 ra Hiến pháp thể chế hóa đường lối của
Đảng cộng sản Việt Nam được quyết định tại Đại hội Đại biểu toàn quốc
năm 1976. Đường lối kinh tế chủ đạo của Việt Nam từ thời kỳ này là công
nghiệp hóa xã hội chủ nghĩa, xây dựng chế độ làm chủ tập thể xã hội chủ
nghĩa của nhân dân lao động (gồm công nhân, nông dân tập thể, trí thức xã
hội chủ nghĩa và lao động khác), xây dựng nền sản xuất lớn xã hội chủ
nghĩa, xoá bỏ chế độ người bóc lột người, xoá bỏ nghèo nàn và lạc hậu.
Để thực hiện điều này, Việt Nam đã xây dựng một hệ thống kinh tế trong
đó:
• Công nghiệp nặng được ưu tiên phát triển,
19
• Các thành phần kinh tế phi xã hội chủ nghĩa được cải tạo, kinh tế quốc
doanh giữ vai trò chủ đạo trong nền kinh tế quốc dân và được phát
triển ưu tiên, nông dân ở Nam Trung Bộ và Nam Bộ được khuyến


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status