Vốn vừa mang tính chất tiền đề vừa là vấn đề xuyên suất cho quá tình hình thành
và phát triển của NHTM. Mục tiêu tổng quát của NHTM là an toàn và sinh lời
trong kinh doanh. Do đó, việc tạo lập một nguồn vốn vững chắc, đảm bảo cho sự
phát triển bền vững của ngân hàng là điều rất cần thiết. Mỗi Ngân hàng hoạt động
trong một môi trường, điều kiện cụ thể sẽ có các nghiệp vụ huy động vốn n khác
nhau. Song nhìn chung các NHTM thường áp dụng một số nghiệp vụ cơ bản sau:
Phân loại căn cứ theo thời gian
Phân loại theo thời gian có ý nghĩa quan trọng đối với ngân hàng vì nó liên quan
mật thiết đến tính an toàn và khả năng sinh lợi của nguồn vốn huy động cũng như
thời gian phải hoàn trả khách hàng. Theo thời gian, hình thức huy động được chia
thành:
Huy động ngắn hạn
Đây là hình thức huy động chủ yếu trong các ngân hàng thương mại thông qua việc
phát hành các công cụ nợ ngắn hạn trên thị trường tiền tệ và các nghiệp vụ nhận
tiền gửi ngắn hạn, tiền gửi thanh toán Phần lớn số này được dùng để cho vay
ngắn hạn ( dưới 1 năm ) hoặc được chuyển hoán kỳ hạn để thực hiện cho vay trung
hạn. Do thời gian ngắn nên lãi suất huy động ngắn hạn thường thấp, tuy nhiên tính
ổn định lại kém.
Huy động trung hạn
Đây là nguồn huy động vốn ngân hàng qua phát hành các công cụ nợ trung hạn
trên thị trường vốn hoặc nhận tiền gửi trung hạn (từ 1 đến 5 năm). Vốn huy động
này ngân hàng có thể sử dụng tương đối dài và thuận tiện. Tuy nhiên lãi suất huy
động nguồn này thường cao hơn nguồn ngắn hạn. Nguồn huy động trung hạn rất
quan trọng và cần thiết để ngân hàng thực hiện các hoạt động đầu tư, thay đổi công
nghệ và cho vay trung, dài hạn với lãi suất cao.
Huy động dài hạn
Đây là hoạt động huy động vốn dài hạn của ngân hàng trên thị trường vốn, với
nguồn huy động này ngân hàng có thể sử dụng dễ dàng, có tính ổn định cao ( từ 5
năm trở lên ). Do vậy lãi suất mà ngân hàng phải trả cũng rất cao.
Phân loại căn cứ theo đối tượng huy động
Huy động vốn từ dân cư
Hình thức phân loại này là hình thức chủ yếu được các ngân hàng thương mại sử
dụng hiện nay. Phân loại theo nghiệp vụ huy động vốn rõ ràng tạo sự thuận tiện
cho ngân hàng khi tiến hành huy động. Các hình thức huy động bao gồm:
Huy động vốn qua nghiệp vụ nhận tiền gửi
Huy động tiền gửi không kỳ hạn
Đây là phần tiền huy động tương đối quan trọng ở những nước phát triển có tỷ lệ
thanh toán không dùng tiền mặt cao. Mục đích của các khoản tiền gửi này không
phải là để lấy lãi mà chủ yếu dùng để thanh toán. Khách hàng gửi tiền phần lớn là
những tổ chức kinh tế, các doanh nghiệp, các cá nhân làm ăn buôn bán phải thanh
toán tiền hàng hoá, dịch vụ liên tục. Người gửi tiền có thể rút tiền ra bất cứ lúc nào
hoặc để trả cho người thứ ba. Hình thức rút có thể là tiền mặt hay lấy qua hình thức
thanh toàn bằng séc. Đặc biệt người gửi tiền có thể không cần trực tiếp đến ngân
hàng lấy mà có thể rút qua các máy rút tiền tự động ( máy ATM ). Ngân hàng
thường bảo quản loại tiền gửi này trên hai tài khoản: tài khoản thanh toán và tài
khoản vãng lai:
+ Tài khoản thanh toán là loại tài khoản tiền gửi mà chủ tài khoản có toàn quyền sử
dụng số tiền trên tài khoản nhưng chỉ trong phạm vi số dư tiền gửi. Loại tài khoản
này luôn luôn có số dư có.
+ Tài khoản vãng lai là tài khoản có thể dư có hoặc dư nợ, thường được sử dụng
cho các tổ chức kinh tế. Số dư có thể hiện tiền gửi của khách hàng còn số dư nợ thể
hiện khoản tín dụng ngân hàng cấp cho khách hàng vay.
Với mục đích chủ yếu khi gửi tiền là để sử dụng các dịch vụ ngân hàng nên mức
lãi suất mà ngân hàng trả cho người gửi tiền là rất thấp, thậm chí không phải trả lãi.
Tuy nhiên ở nhiều nước có tỷ lệ thanh toán không dùng tiền mặt thấp ( trong đó có
Việt Nam ) và để tăng mức động viên tiền gửi, ngân hàng vẫn trả lãi cho tiền gửi
này ( có những thời điểm được trả ngang bằng với lãi suất tiền gửi tiết kiệm không
kỳ hạn ). Tỷ lệ huy động từ nguồn này sẽ là khá cao nếu ngân hàng có các dịch vụ
đa dạng, sản phẩm ngân hàng chất lượng cao, hệ thống mạng lưới rộng rãi đáp ứng
tốt các nhu cầu của người gửi tiền.
Huy động tiền gửi có kỳ hạn
( thời hạn tương đối dài ). Loại hình này giúp cho ngân hàng có nguồn vốn ổn định
để có thể đầu tư trung và dài hạn.
Huy động vốn qua nghiệp vụ đi vay
Hình thức này ngày càng chiếm vai trò quan trọng trong môi trường kinh doanh
đầy biến động như hiện nay. Các ngân hàng thương mại có thể vay từ nhiều nguồn:
Vay từ các tổ chức tín dụng
Đó là các khoản vay thông thường mà các ngân hàng vay lẫn nhau trên thị trường
liên ngân hàng hay thị trường tiền tệ. Các ngân hàng thường xây dựng các mối
quan hệ tốt để khi thiếu hụt vốn có thể vay lẫn nhau chứ không vay ngân hàng
trung ương.
Vay từ ngân hàng trung ương
Khi ngân hàng thương mại xảy ra tình trạng thiếu hụt dự trữ bắt buộc hay mất khả
năng thanh toán thì người cuối cùng mà các ngân hàng có thể cầu cứu là ngân hàng
trung ương. Ngân hàng trung ương cho vay dưới hình thức tái chiết khấu thương
phiếu. Các ngân hàng thương mại có thể mang các thương phiếu lên ngân hàng
trung ương để vay. Tuy nhiên việc vay này cũng có một số khó khăn do ngân hàng
trung ương chỉ cho ngân hàng thương mại một hạn mức tái chiết khấu và việc cho
vay này lại nằm trong định hướng của chính sách tài chính quốc gia. Dẫu sao đây
cũng là một hình thức bổ sung vốn cho ngân hàng thương mại cực kỳ quan trọng
trong những thời điểm nhất định.
Huy động qua phát hành các công cụ nợ
Đây là hình thức huy động vốn có hiệu quả khá cao của các ngân hàng thương mại.
Trong qúa trình hoạt động, ở những thời điểm nhất định, ngân hàng thấy cần phải
huy động thêm vốn trước những cơ hội kinh doanh đầy hấp dẫn. Điều đó có nghĩa
là ngân hàng huy động vốn ở thế chủ động, có nghĩa là có đầu ra mới tính đầu vào.
Ngân hàng xác định rõ quy mô vốn huy động, loại tiền huy động và đưa ra các
mức chi phí hợp lý làm cho việc tạo vốn của ngân hàng thành công nhanh chóng.
Để vay trên thị trường, ngân hàng có thể phát hành kỳ phiếu và trái phiếu.
Trái phiếu ngân hàng là một giấy tờ có giá, xác nhận khoản nợ của khách hàng đối
với người chủ ngân hàng với những cam kết như thanh toán một số tiền xác định
khác như: chỉ thị, thông tư Lĩnh vực hoạt động của ngân hàng là vô cùng quan
trọng trong nền kinh tế, vì vậy các hoạt động của ngân hàng luôn được Nhà nước
quản lý chặt chẽ bằng các văn bản pháp quy. Mỗi văn bản đều có ảnh hưởng sâu
sắc đến hoạt động của Ngân hàng, cụ thể là hoạt động huy động vốn.
Chính phủ đề ra chính sách tiền tệ quốc gia và hệ thống ngân hàng là công cụ đắc
lực để thực hiện. Chẳng hạn khi nền kinh tế lạm phát tăng, Nhà nước có chính sách
thắt chặt tiền tệ bằng cách tăng lãi suất tiền gửi để thu hút tiền ngoài xã hội thì lúc
đó ngân hàng thương mại huy động vốn dễ dàng hơn. Hoặc khi Nhà nước có chính
sách khuyến khích đầu tư, mở rộng sản xuất thì ngân hàng khó huy động vốn hơn
vì người có tiền nhàn rỗi họ bỏ tiền vào sản xuất có lợi hơn gửi ngân hàng
Các quy định của pháp luật đòi hỏi các ngân hàng thương mại luôn phải tuân thủ.
Pháp luật quy định số tiền huy động của ngân hàng không được lớn hơn 20 lần vốn
chủ sở hữu. Hay thông qua tỷ lệ dự trữ bắt buộc chính phủ điều chỉnh việc cung
ứng tiền cho nền kinh tế. Việc điều chỉnh tỷ lệ dự trữ bắt buộc hay lãi suất tái chiết
khấu là tuỳ theo định hướng phát triển của từng thời kỳ. Các chính sách đầu tư, ưu
đãi, ưu tiên phát triển mũi nhọn cũng ảnh hưởng sâu sắc tới việc huy động vốn
của ngân hàng thương mại. Nói chung bất cứ ngân hàng thương mại nào khi cần
huy động vốn đều phải xem xét các quy định của luật pháp.
Tình hình chính trị – kinh tế – xã hội trong và ngoài nước
Có thể nói đây là yếu tố khách quan đối với tất cả các ngành nghề kinh tế, không
riêng gì ngân hàng. Sự ổn định chính trị cả trong và ngoài nước có tác động rất rõ.
Các cuộc bãi công, biểu tình, sụp đổ chính phủ luôn kéo theo tình trạng huy động
vốn của ngân hàng bị trì trệ bởi người dân không còn tin tưởng. Ngược lại, sự đồng
tâm, nhất trí, ổn định trong bộ máy lãnh đạo sẽ làm cho các ngân hàng thương mại
huy động vốn được dễ dàng. Như Achentina năm 2002, sau khi có những vấn đề
về chính trị, người dân kéo đến ngân hàng rút tiền ồ ạt làm cho cả hệ thống ngân
hàng chao đảo. Và cuộc chiến Irac gần đây cũng ảnh hưởng đến nền kinh tế thế
giới trong đó có sự khó khăn về huy động vốn của ngân hàng thương mại.
Nền kinh tế ở vào trạng thái tăng trưởng hay suy thoái đã tác động tới việc huy
động vốn của ngân hàng. ở tình trạng tăng trưởng, người dân cần nhiều vốn để đầu
Chiến lược kinh doanh của ngân hàng
Chiến lược kinh doanh có thể nói là đường lối, phương hướng hoạt động cho một
ngân hàng. Mỗi ngân hàng có một chiến lược kinh doanh khác nhau. Điều này phụ
thuộc vào từng điểm mạnh, điểm yếu, khả năng cũng như hạn chế của ngân hàng.
Chiến lược kinh doanh xác định quy mô huy động có thể mở rộng hay thu hẹp, cơ
cấu vốn có thể thay đổi về tỷ lệ các loại nguồn, chi phí hoạt động có thể tăng hay
giảm .
Chiến lược kinh doanh có liên quan đến huy động vốn bao gồm: Chính sách về giá
cả, lãi suất tiền gửi, tỷ lệ hoa hồng và phí dịch vụ. Đây là các yếu tố quan trọng.
Với việc lãi suất huy động tăng thì sẽ dẫn đến nguồn vốn vào ngân hàng tăng, rất
lớn. Nhưng đồng thời thì hiệu quả của việc huy động vốn có thể giảm do chi phí
huy động tăng. Do đó số lượng nguồn vốn huy động được sẽ phụ thuộc chủ yếu
vào chiến lược kinh doanh hay đúng hơn là phụ thuộc vào chính bản thân ngân
hàng.
Năng lực và trình độ của cán bộ ngân hàng
Không chỉ riêng ngân hàng mà trong bất cứ hoạt động nào, ngành nghề nào, yếu tố
con người cũng phải được đặt lên hàng đầu. Các cán bộ nhân viên ngân hàng có
năng lực sẽ phán đoán, xử lý chính xác các tình huống sẽ làm cho các hoạt động
huy động vốn được thực hiện một cách tốt đẹp. Trình độ của cán bộ ngân hàng cao
sẽ làm cho các thao tác nghiệp vụ được thực hiện nhanh chóng và hiệu quả. Thái
độ trong tiếp xúc của nhân viên với khách hàng cũng rất quan trọng. Nó có thể lôi
kéo khách hàng làm tăng nguồn vốn huy động đồng thời cũng có thể làm khách
hàng rơì bỏ gây ra những hậu quả vô cùng nghiêm trọng trong hoạt động của ngân
hàng, trước hết là trong khâu huy động vốn. Các nhân viên ngân hàng là những
người mang hình ảnh cho cả ngân hàng. Do đó, để tăng cường huy động vốn thì
một điều cực kỳ quan trọng là các nhân viên ngân hàng phải có đủ những tiêu chí
của một nhân viên ngân hàng chuyên nghiệp: Hiểu biết khách hàng, Hiểu biết
nghiệp vụ, Hiểu biết quy trình, Hoàn thiện phong cách phục vụ.
Uy tín của ngân hàng
Đó là hình ảnh của ngân hàng trong lòng khách hàng, là niềm tin của khách hàng
đúng, chính xác các yếu tố tác động sẽ huy động được vốn lớn với chi phí rẻ, từ đó
nâng cao hiệu quả hoạt động.
Huy động từ chủ sở hữu:
Nguồn huy động từ chủ sở hữu thông thường gồm vốn tự có và một số quỹ mang
tính chất đặc thù của mỗi quốc gia ( như Quỹ đầu tư phát triển do Chính phủ cấp
cho một số NHTM quốc doanh ở Việt Nam).
Vốn tự có của NHTM cũng được xem xét dưới nhiều góc độ khác nhau. Trong
phạm vi bài viết này chúng ta chỉ xem xét dưới các hình thức như: Vốn pháp định,
vốn điều lệ và các quỹ.
Vốn pháp định: Điều kiện hàng đầu để khởi nghiệp trước khi được phép khai
trương Ngân hàng là phải có đủ vốn ban đầu theo luật định. ở Việt Nam, để thành
lập một NHTM trước hết phải có đủ vốn pháp định theo mức quy định của NHNN.
Vốn pháp định của mỗi ngân hàng được hình thành do tính chất sở hữu của ngân
hàng quyết định. Theo quy định của Việt Nam có thể khái quát như sau: Nếu là
NHTM thuộc sở hữu nhà nước, vốn pháp định do Ngân sách Nhà nước cấp 100%
vốn ban đầu; Nếu là NHTM cổ phần, vốn pháp định do sự đóng góp của cổ đông
dưới hình thức phát hành cổ phiếu; Nếu là NHTM liên doanh, vốn pháp định là
vốn đóng góp cổ phần của ngân hàng tham gia liên doanh.
Vốn điều lệ là vốn được ghi trong điều lệ hoạt động của NHTM. Vốn điều lệ ít
nhất phải bằng mức vốn pháp định do NHNN công bố vào đầu mỗi năm tài chính.
Vốn điều lệ quy định cho một ngân hàng nhiều hay ít tuỳ thuộc vào quy mô và
phạm vi hoạt động của ngân hàng đó ( vốn điều lệ bao hàm cả vốn pháp định).
Ngoài ra vốn tự có củaNHTM còn có các quỹ dự trữ ngân hàng ( đây là các quỹ
buộc phải trích lập trong quá trình tồn tại và hoạt động của ngân hàng) như: Quỹ
bảo toàn vốn, Quỹ phúc lợi, Quỹ khấu hao tài sản cố định,
Nguồn vốn tự có của NHTM thường chiếm tỷ trọng nhỏ trong tổng nguồn vốn của
một ngân hàng, nhưng lại là nguồn vốn rất quan trọng, vì nó cho thấy thực lực, quy
mô của ngân hàng, nó là cơ sở để thu hút các nguồn vốn khác, là vốn khởi đầu tạo
uy tín của ngân hàng đối với khách hàng. Hơn nữa nguồn vốn này có tính ổn định
cao, có vai trò đặc biệt quan trọng trong việc tài trợ cho các tài sản cố định của
Huy động tiền gửi
ở Việt Nam, theo luật các tổ chức tín dụng thì tiền gửi nói chung được hiểu là số
tiền của khách hàng gởi taị tổ chức tín dụng dưới nhiều hình thức tiền gửi không
kỳ hạn, tiền gửi có kỳ hạn, tiền gửi tiết kiệm và các hình thức khác. gửi là. Trên
phương diện chủ thể gửi tiền thì tiền gửi có thể được chia thành hai loại: Tiền gửi
của các doanh nghiệp, các tổ chức kinh tế- xã hội, và Tiền gửi tiết kiệm của dân cư.
Tiền gửi giao dịch (tiền gửi thanh toán)
Một trong những dịch vụ lâu đời nhất mà ngân hàng cung cấp là nhận tiền gửi để
thanh toán hộ khách hàng. Tiền gửi giao dịch đòi hỏi ngân hàng phải thanh toán
ngay lập tức một lệnh rút tiền cho một cá nhân hay cho bên thứ ban, được chỉ rõ là
người thụ hưởng.
* Tiền gửi giao dịch hưởng lãi
Sự kết hợp giữa tiền gửi giao dịch không hưởng lãi và tiền gửi tiết kiệm đã xuất
hiện dưới hình thức tài khoản NOW (negoyiable order of withdrawal) tài khoản
lệnh rút tiền có thể thương lượng. NOW là tài khoản giao dịch được hưởng lãi, do
đó nó cho phép ngân hàng đòi hỏi khách hàng phải thông báo trước về việc rút
tiền. Do đòi hỏi này ít được thực hiện nên NOW được sử dụng như một tài khoản
phát séc để chi trả cho việc mua bán hàng hoá và dịch vụ. Tuy nhiên loại tài khoản
này chỉ có thể được nắm giữ bởi cá nhân và các tổ chức phi lợi nhuận. Ngân hàng
khi đó có nghiệp vụ là chuyển vốn tự động và khách hàng uỷ quyền trước cho ngân
hàng trong việc chuyển vốn từ tài khoản tiết kiệm sang tài khoản phát séc để bù
đắp thấu chi. Kết quả cuối cùng là khách hàng hưởng lãi trên tài khoản giao dịch
tương đương với lãi thu được từ tài khoản tiền tiết kiệm.
Hiện nay có hai loại tài khoản tiền gửi cạnh tranh nhau: Tài khoản tiền gửi trên thị
trường tiền tệ (MMDA) và tài khoản “Supper NOW”. Hai loại tài khoản này được
trả lãi theo lãi suất trên thị trường tiền tệ và khách hàng có thể thực hiện thanh
thoán cho các giao dịch mua hàng hoá và dịch vụ thông qua việc phát séc hay hối
phiếu uỷ quyền trước.
Tiền gửi của các doanh nghiệp, các tổ chức kinh tế-xã hội
Đây là khoản tiền tạm thời nhàn rỗi phát sinh trong quá trình sản xuất kinh doanh,
Các tầng lớp dân cư gửi tiền tiết kiệm vào NHTM với mục đích chủ yếu là tiết
kiệm và sinh lời. Do đó, nguồn vốn này có tính ổn định khá cao.
Để tạo thuận lợi cho khách hàng cũng như ngân hàng, thủ tục gửi tiền cũng rất đơn
giản: Khi khách hàng gửi tiền vào Ngân hàng sẽ được nhận một quyển sổ tiết kiệm.
Sổ này được coi là giấy chứng nhận số tiền, thời hạn, lãi suất của khoản tiền đó
trong quỹ tiết kiệm. Thông thường lãi suất của tài khoản tiết kiệm cao hơn lãi suất
của tài khoản gửi thanh toán và người chủ tài khoản không được hưởng dịch vụ
thanh toán quan ngân hàng như tài khoản tiền gửi thanh toán.
Để thoả mãn nhu cầu của khách hàng trong việc gửi tiết kiệm, các NHTM đã và
đang áp dụng nhiều hình thức huy động phong phú như: Tiết kiệm nhà ở, tiết kiệm
đảm bảo giá trị theo vàng, tiết kiệm có thưởng, với nhiều kỳ hạn đa dạng và đảm
bảo nguyên tắc: Kỳ hạn càng dài thì lãi suất càn cao. Bên cạnh đó, NHTM cũng
từng bước nâng cao các tiện ích cho người gửi tiết kiệm như: Coi sổ tiết kiệm như
là một chứng từ đảm bảo tiền gửi, người có sổ có thể mang sổ tiết kiệm đến ngân
hàng để cầm cố hoặc xin chiết khấu để vay vốn khi cần thiết.
Tóm lại, nguồn vốn huy động từ tiền gửi có vai trò quan trọng trong việc tài trợ cho
các hoạt động kinh doanh của NHTM. Thống thường nguồn vốn này phụ thuộc vào
ba thông số chính: Lãi suất do các NHTM trả cao hay thấp; Lãi suất của các loại
hình đầu tư khác như: Trái phiếu, cổ phiếu, Thu nhập của khách hàng. Trong đó
thông số đầu tiên được coi là quan trọng nhất. Vì thế việc đưa ra chiến lược lãi suất
như thế nào, hình thức huy động ra sao để thu hút được vốn nhiều và kinh doanh
có lãi là điều quan trọng hàng đầu, phản ánh khả năng kĩ trị của các NHTM.
Vốn đi vay
Trong hoạt động kinh doanh Ngân hàng khi dư vốn, đủ vốn, thiếu vốn là lẽ tất
nhiên, đặc biệt là vốn trung và dài hạn. Khi một NHTM thiếu vốn để đáp ứng nhu
cầu vốn của khách hàng hay cho mục đích đầu tư phát triển mà các nguồn khác
chưa đủ đáp ứng thì NHTM có thể đi vay. Nghiệp vụ vay vốn của NHTM có thể
chia thành hai loại chính: Vay thông qua phát hành giấy tờ có giá và vay trực tiếp.
Vay thông qua phát hành giấy tờ có giá:
Phát hành giấy tờ có giá là nghiệp vụ huy động vốn của NHTM dưới hình thức
phát hành. chủ sở hữu CD sẽ nhận được toàn bộ phần tiền gốc và lãi khi CD đến
hạn. Đối với CD có thời hạn dưới 1 năm thì lãi suất được trả vào thời điểm đến
hạn.
+ CD trả lãi kỳ hạn: Lãi của những CD này thường được trả 6 tháng một lần.
những CD loại này thường được phát hành với kỳ hạn trên 1 năm.
+ CD chuyển tiếp liên tục: Đây là một Seri những CD thời hạn 6 tháng chuyển tiếp
liên tục trong vòng 2 năm hoặc lâu hơn. Người mua CD thiết lập một hợp đồng
mua chứng chỉ tiền gửi thời hạn 6 tháng liên tục cho đến khi hợp đồng hết hạn. CD
loại này có thể áp dụng lãi suất cố định hoặc lãi suất thả nổi.
Ngoài ra các NHTM Mĩ còn phát hành nhiều loại CD khác như: CD có lãi điều
chỉnh, chứng chỉ tiền gửi Dollar Châu Âu, Thông qua nghiệp vụ phát hành CD,
các NHTM Mĩ có thể tạo dựng được điều kiện để cạnh tranh một cách có hiệu quả
đối với nguồn vốn ngắn và trung hạn.
- ở Việt Nam, các NHTM phát hành kỳ phiếu dựa trên quyết định số 220- NH/QĐ
ngày 27/11/1991 của Thống đốc NHNN về việc cho phép NHTM quốc doanh phát
hành kỳ phiếu Ngân hàng. Như vậy chỉ có NHTM quốc doanh mới được phép phát
hành loại chứng chỉ tiền gửi này.
Theo văn bản trên, kỳ phiếu là một loại giấy nhận nợ do NHTM quốc doanh phát
hành nhằm huy động vốn trong xã hội một cách linh hoạt. Căn cứ vào mục đích,
nhu cầu cụ thể mà ngân hàng có thể phát hành kỳ phiếu bằng VNĐ hay USD.
Nhu cầu phát hành kỳ phiếu thường phát sinh khi ngân hàng muốn có nguồn vốn
đủ điều kiện để tài trợ các dự án có quy mô, trọng điểm nhằm phục vụ kịp thời cho
đầu tư phát triển của đất nước hoặc vì mục đích kinh doanh của ngân hàng như:
Đầu tư chứng khoán, kinh doanh vàng bạc, ngoại tệ mà các nguồn huy động khác
chưa đáp ứng được. Khi đó ngân hàng có thể xin phép phát hành bằng từ trình gửi
NHNN. Trong tờ trình “ Xin phép phát hành kỳ phiếu” phải trình bày đầy đủ các
nội dung sau:
+ Lý do xin phát hành
+ Kế hoạch sử dụng và nhu cầu sử dụng vốn
+ Các loại kỳ phiếu xin phát hành ( về kỳ hạn, phương thức trả lãi)
điểm đáo hạn. Mệnh giá của trái phiếu là số tiền ghi trên trái phiếu lúc phát hành
và có giá trị tối thiểu là 50.000 VND. Các loại mệnh giá lớn hơn được xác định
bằng bội số của mệnh giá tối thiểu.
Lãi suất của trái phiếu do NHTM ấn định trên cơ sở quan hệ cung cầu về vốn trên
thị trường sao cho có thể khuyến khích, động viên được người gửi vốn, người vay
có thể chấp nhận được và NHTM đảm bảo hiệu quả kinh doanh. Phương thức trả
lãi cũng được các NHTM áp dụng một cách linh hoạt: Trả lãi trước, Trả lãi sau,
Trả lãi định kỳ
NHTM muốn được phép phát hành trái phiếu cần phải hội đủ các điều kiện sau:
+ Hoạt động ổn định ít nhất 2 năm và chứng minh được hoạt động kinh doanh của
đơn vị được quản lý có hiệu quả
+ Có phương án kinh doanh cụ thể
+ Cần phải có vốn điều lệ đủ lớn theo pháp định
+ Được phép bằng văn bản của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước
Sau khi đã hội đủ các điều kiện cần thiết, NHTM phải làm thủ tục xin phép NHNN
về việc phát hành trái phiéu theo quy định của pháp luật.
Nguồn vốn huy động được từ nghiệp vụ phát hành trái phiếu không chịu sự điều
chỉnh của quy định dự trữ bắt buộc. Hơn nữa, nó là nguồn có tính ổn định cao,
đáng được quan tâm nếu muốn mở rộng nguồn vốn huy động trung và dài hạn tại
một NHTM. Bằng cộng cụ này, các NHTM có thể chủ động tạo được một khối
lượng vốn như mong muốn một cách nhanh chóng để đáp ứng nhu cầu vốn cấp
bách đầu tư cho các công trình lớn của quốc gia.
Vay vốn các tổ chức tín dụng
Khi cần vốn thì các NHTM có thể đi vay trực tiếp từ các tổ chức tín dụng khác,
Ngân hàng nước ngoài, từ công ty mẹ, Nhưng dù vay ở nguồn nào thì nhìn chung
chi phí cho các khoản vay trực tiếp thường cao hơn chi phí phải trả cho các hình
thức huy động vốn khác.
ở Việt Nam, nguồn vay vốn của NHTM cũng khá phong phú. Một NHTM có thể
vay ở một số nguồn chính như: Vay từ NHNN và Bộ Tài chính (BTC), vay từ các
NHTM khác và tổ chức tín dụng, từ nước ngoài.
Theo tinh thần Nghị định 90/1998/NĐ-CP ngày 7/11/1998 thì các NHTM có thể
vay vốn ở Ngân hàng nước ngoài để cho vay lại trong nước. Các NHTM Việt Nam
hiện có quan hệ đại lý và quan hệ thanh toán rộng rãi với các Ngân hàng trong khu
vực và trên thế giới nên nghiệp vụ này tiến hành cũng khá thuận lợi. Lãi suất vay
được áp dụng theo lãi suất trên thị trường tiền tệ thế giới. Tuy nhiên, khi vay thì
các NHTM Việt Nam phải chấp hành một hạn mức tín dụng do nước ngoài quy
định. Hạn mức này phải được Chính phủ hoặc NHNN Việt Nam bảo lãnh. Theo
Nghị định 90/CP, thì mức bảo lãnh vay vốn nước ngoài cho một tổ chức tín dụng
không quá 6 lần vốn tự có của tổ chức đó. Nhưng hạn mức trên phải trừ đi số nợ
trước chưa trả đến thời điểm đến thời điểm vay mới. Như vậy muốn tận dụng hạn
mức tín dụng của nước ngoài, các NHTM Việt Nam phải thực hiện tốt khâu hoàn
trả.
Các khoản vay từ Ngân hàng nước ngoài của các NHTM Việt Nam đều do NHNN
trực tiếp kiểm soát và quản lý. Vì vậy, các hồ sơ vay vốn đều phải quan NHNN xét
duyệt. Các NHTM được quyền chủ động tìm kiếm các nguồn vay từ nước ngoài,
qua đó góp phần quan trọng trong việc tài trợ các hoạt động kinh doanh ngân hàng.
sách tiền tệ
Vốn huy động là những giá trị tiền tệ do ngân hàng huy động thông qua các nghiệp
vụ chủ yếu như: nghiệp vụ tiền gửi, nghiệp vụ phát hành giấy tờ có giá và các
nghiệp vụ trung gian khác.Vốn huy động là nguồn vốn mà ngân hàng có thể chủ
động tìm kiếm hoặc bị động trong việc tạo nguồn.
Vốn huy động chiếm một tỷ trọng rất lớn trong tổng nguồn vốn kinh doanh của
ngân hàng thường ở mức 70 – 80%, đây chính là nguồn chủ yếu đáp ứng nhu cầu
tín dụng của khách hàng và cũng là nguồn mang lại thu nhập chủ yếu cho ngân
hàng. Vì vậy, ngân hàng thông qua các công cụ tài chính với mức lãi suất khác
nhau, thời hạn hoàn trả khác nhau để có thể huy động tới mức tối đa nguồn tiền
tạm thời nhàn rỗi của khách hàng. Các NHTM phải làm sao thu hút được nhiều
tiền của người tiêu dùng và các doanh nghiệp dù ngân hàng phải trả lãi cho loại
tiền gửi này song việc thu hút nhanh và biết sử dụng vẫn mang lại nguồn lợi lớn
cho ngân hàng.
khiến khách hàng yên tâm giao dịch, tin tưởng vào ngân hàng. Từ đó, uy tín của
ngân hàng trên thị trường cũng được nâng cao, càng có điều kiện để mở rộng hoạt
động và nâng cao vị thế.
Do nguồn vốn huy động là nguồn vốn cơ bản và quan trọng để ngân hàng dùng vào
hoạt động kinh doanh tiền tệ của mình nên để đảm bảo đủ vốn cho hoạt động kinh
doanh có hiệu quả đem lại nhiều lợi nhuận nhất các NHTM không ngừng mở rộng
các hình thức huy động vốn nhưng về cơ bản các ngân hàng thường sử dụng huy
động vốn qua tài khoản tiền gửi, huy động vốn bằng phát hành giấy tờ có giá và
huy động thông qua các khoản đi vay.
Huy động từ tài khoản tiền gửi
Tiền gửi của ngân hàng là nguồn tài nguyên quan trọng nhất của NHTM. Khi một
ngân hàng bắt đầu hoạt động nghiệp vụ đầu tiên là mở các tài khoản tiền gửi để giữ
hộ và thanh toán hộ cho khách hàng, bằng cách đó ngân hàng huy động tiền của
các doanh nghiệp, tổ chức và dân cư. Để gia tăng tiền gửi trong môi trường cạnh
tranh và để có được nguồn tiền có chất lượng ngày càng cao các ngân hàng đã đưa
ra và thực hiện nhiều hình thức huy động khác nhau do đó cũng có nhiều loại tiền
gửi khác nhau.
* Tài khoản tiền gửi không kỳ hạn :
Tiền gửi không kỳ hạn là những giá trị tiền tệ mà khách hàng gửi vào ngân hàng
nhưng có thể rút ra bất cứ lúc nào và ngân hàng phải đáp ứng đầy đủ yêu cầu này
của người gửi tiền. Đây là tiền của cá nhân, doanh nghiệp gửi vào ngân hàng với
mục đích chính là để hưởng dịch vụ thanh toán của ngân hàng. Trong phạm vi số
dư cho phép các nhu cầu chi trả của doanh nghiệp , cá nhân đều được ngân hàng
thực hiện và các khoản thu bằng tiền của doanh nghiệp và cá nhân đều được ngân
hàng thực hiện nhập vào tài khoản thanh toán theo yêu cầu. Tiền gửi không kỳ hạn
là loại tiền gửi khách hàng có thể rút ra bất cứ lúc nào. Do vậy nó là nguồn vốn
biến động nhiều nhất mà ngân hàng khó có thể dự đoán về quy mô tiền gửi không
kỳ hạn ngân hàng có thể huy động được, đồng thời kỳ hạn tiềm năng của loại loại
tiền này cũng là ngắn nhất .
* Tài khoản tiền gửi có kỳ hạn:
nhiên ngân hàng cần chú ý đến chính sách lãi suất huy động, nghiên cứu để đưa ra
các hình thức huy động hấp dẫn, phù hợp với tính đa dạng phong phú và phức tạp
của đối tượng dân cư. Đặc biệt cần có cơ chế trả lãi hợp lý đối với loại tiết kiệm
không kỳ hạn, cơ chế đảm bảo bằng giá trị vàng, hay ngoại tệ mạnh cho các loại
tiết kiệm nội tệ, nhằm đảm bảo quyền lợi cho người gửi, tạo niềm tin để khuyến
khích dân cư gửi vào ngân hàng ngày càng lớn.
Huy động vốn thông qua phát hành giấy tờ có giá
Các giấy tờ có giá là các công cụ nợ do ngân hàng phát hành để huy động vốn trên
thị trường. Nguồn vốn này tương đối ổn định để sử dụng cho một mục đích nào đó.
Lãi suất của loại này phụ thuộc vào sự cấp thiết của việc huy động vốn nên thường
cao hơn lãi suất tiền gửi có kỳ hạn thông thường.
• Chứng chỉ tiền gửi (CDs):
CDs là công cụ vay nợ do NHTM bán cho người gửi tiền với lãi suất nhất định và
được lưu thông khi chưa đến hạn thanh toán. Người sở hữu CDs có thể được hoàn
trả hết toàn bộ số tiền gửi cộng với lãi hoặc có thể bán CDs trên thị trường thứ cấp.
CDs là công cụ mang lãi suất, lãi suất của nó được tính toán trên cơ sở 360 ngày và
được trả theo mệnh giá và thời hạn.
Lãi suất của CDs được tính dựa trên lãi suất của thị trường tiền tệ, tình trạng tài
chính của ngân hàng phát hành ra nó và thời hạn thanh toán CDs. Mức lãi suất của
CDs do ngân hàng có chất lượng cao phát hành thường cao hơn lãi suất của tín
phiếu kho bạc, sự chênh lệch này phản ánh mức độ chênh lệch và rủi ro của từng
ngân hàng. Sự phát triển của CDs cùng với sự nhạy cảm của lãi suất giúp các
NHTM chủ động trong việc huy động vốn và thích ứng với môi trường cạnh tranh
mới.
• Trái phiếu :
Trái phiếu là một chứng thư xác nhận một khoản nợ của tổ chức phát hành đối với
người hữu, trong đó cam kết sẽ hoàn trả nợ kèm lãi trong một thời hạn nhất định.
Thông qua phát hành trái phiếu, ngân hàng có thể thu hút được nguồn vốn trung và
dài hạn để cho vay mở rộng sản xuất kinh doanh và đầu tư. Việc phát hành trái
phiếu sẽ thu hút được lượng tiền ổn định trong dài hạn do vậy phát hành trái phiếu