PHẦN I: MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Đổi mới giáo dục là một trong những nhiệm vụ quan trọng của ngành
giáo dục đào tạo trong giai đoạn hiện nay. Để đổi mới nội dung, phương pháp
dạy học có hiệu quả cao cần trang bị cho học sinh hệ thống kiến thức cơ bản
vững chắc.Trên cơ sở đó học sinh biết vận dụng sáng tạo kiến thức giải quyết
các vấn đề học tập và thực tiễn cuộc sống.
Mục tiêu của nhà trường phổ thông là trang bị kiến thức phổ thông cơ
bản tương đối hoàn chỉnh để giúp học sinh nắm vững hiểu biết khoa học. Môn
hóa học góp một phần quan trọng trong mục tiêu đào tạo ở trường phổ thông.
Chương trình hóa học phổ thông bao gồm các khái niệm hoá học cơ bản ban
đầu và dần phát triển những khái niệm đó, việc giảng dạy hóa học phổ thông
phải chú ý đến nhiều khái niệm, axit – bazơ là một trong những khái niệm cơ
bản, có tầm quan trọng đối với khoa học hóa học. Để hiểu và truyền thụ đầy
đủ nội dung về sự hình thành và phát triển khái niệm axit – bazơ. Giáo viên
cần nắm vững quá trình hình thành phát triển khái niệm này để đảm bảo việc
giảng dạy có hiệu quả đáp ứng nhu cầu giáo dục.
Trong chương trình phổ thông khái niệm axit – bazơ được đề cập rất
sớm ngay từ phần mở đầu về hóa học lớp 8 và được củng cố ở các lớp và cấp
học tiếp theo. Khái niệm axit – bazơ trong chương trình phổ thông được hình
thành và phát triển qua nhiều giai đoạn, là một trong những đề tài có tầm quan
trọng đặc biệt.
Axit – bazơ là các hợp chất quan trọng và phổ biến, có nhiều ứng dụng
trong đời sống, trong sản xuất và nghiên cứu khoa học.
Các phản ứng xảy ra trong dung dịch thường liên quan đến khái niệm
axit – bazơ.
1
Khái niệm axit – bazơ và phản ứng axit – bazơ cho phép hệ thống hóa
các hợp chất hóa học, phân loại các phản ứng các chất, giải thích các hiện
tượng hóa học, chọn tác nhân phản ứng, chất xúc tác…
Sản phẩm tương tác axit – bazơ hoặc axit hay bazơ với hợp chất khác
chương trình hóa học vô cơ THPT chương trình nâng cao.
- Nghiên cứu phương pháp sử dụng hệ thống bài tập trên để hình thành
khái niệm axit – bazơ.
- Thực nghiệm sư phạm để xác định tính phù hợp của hệ thống bài tập
trên và kiểm nghiệm tính hiệu quả của các đề xuất.
6. Phương pháp nghiên cứu
Sử dụng phối hợp các phương pháp sau:
- Nhóm các phương pháp nghiên cứu lý luận.
- Nhóm các phương pháp nghiên cứu thực tiễn.
- Phương pháp hội thảo chuyên đề, trao đổi kinh nghiệm.
- Phương pháp thực nghiệm sư phạm và xử lý thông tin.
7. Giả thuyết khoa học
Trong dạy học hóa học nếu giáo viên xác định đúng nội hàm và ngoại
diên của khái niệm đồng thời lựa chọn xây dựng được 1 hệ thống bài tập hóa
học đa dạng phong phú ở các mức độ nhận thức khác nhau từ đó sử dụng
chúng 1 cách hợp lí và áp dụng những biện pháp rèn luyện tích cực theo
hướng dạy học tích cực, chúng ta có thể phát huy được tố chất, năng lực sáng
tạo, khả năng tư duy của học sinh. Từ đó nâng cao hiệu quả của việc dạy học.
3
8. Đóng góp mới của đề tài
- Phân tích quá trình hình thành và phát triển khái niệm axit – bazơ
trong chương trình hóa học phổ thông.
- Xây dựng và sưu tầm: Hệ thống các bài tập cơ bản, nâng cao nhằm
hình thành khái niệm axit – bazơ trong chương trình hóa học vô cơ trung học
phổ thông (nâng cao).
- Đề xuất phương pháp sử dụng hệ thống bài tập trong việc hình thành
khái niệm axit – bazơ trong chương trình hóa học phổ thông.
4
PHẦN II: NỘI DUNG
Chương 1:
cho các chất khác, có thể xảy ra trong các dung môi, cũng có
thể là dung môi nước hoặc các dung môi khác nước, có thể xảy ra giữa các
chất hoá học trong các phản ứng hoá học,…
Nội dung của khái niệm (nội hàm) đó là sự tổng hợp các dấu hiệu cơ
bản, dấu hiệu bản chất chính của khái niệm, nội dung chính của khái niệm
phản ánh mặt chất lượng của kiến thức thể hiện mức độ sâu rộng của khái
niệm trong nhận thức. Nội dung của khái niệm axit ở THCS là có mặt nguyên
tử H liên kết với gốc axit; bazơ là chất có nhóm hiđroxyl liên kết với nguyên
tử kim loại và phản ứng axit-bazơ là phản ứng giữa axit và bazơ.
Nội dung của khái niệm axit ở THPT là những chất có khả năng
nhường ion
H
+
cho bazơ , còn phản ứng axit-bazơ là phản ứng có sự trao đổi
H
+
giữa các chất phản ứng.
Dung lượng và nội dung là đặc tính logic của khái niệm. Khi phát triển
một khái niệm thì dung lượng của nó được mở rộng và nội dung của nó được
đào sâu, các mối liên hệ của nó với các khái niệm khác được thay đổi, mở
rộng và phát triển lên. Như vậy cấu trúc của khái niệm như là hệ thống các
dấu hiệu cơ bản mà được mở ra qua nội dung khái niệm.
1.1.3. Cơ sở phương pháp luận hình thành khái niệm hoá học [27]
Thế giới vật chất xung quanh chúng ta là nguồn gốc tạo ra các khái
niệm. Sự hình thành khái niệm là một quá trình nhận thức phức tạp, được dựa
trên logic của sự nhận thức khoa học và sự chuyển biến khách quan từ không
biết đến hiểu biết trong nhận thức của con người.
Phương pháp luận của quá trình hình thành khái niệm là học thuyết
nhận thức của Lênin: ’’ Từ trực quan sinh động đến tư duy trừu tượng và từ
6
Trực quan
Cảm giác
Tri giác
Biểut ợng
Khái niệm
(định
nghĩa)
Hình
thành
T duy trừu t ợng
Khái
quát
Vận
dụng
Thực tiễn
quan sát thực tiễn (thí nghiệm hoá học) bằng mô hình, phương tiện kĩ thuật và
sử dụng rộng rãi phương pháp nêu vấn đề, đề xuất giả thuyết, suy diễn-diễn
dịch, mô hình hoá để thực hiện các bước đi khái quát hoá lý thuyết. Quá trình
này không làm giảm vai trò thực nghiệm hoá học, hoặc các sự kiện, kinh
nghiệm đã có của học sinh hay phép qui nạp trong dạy học.
Vì vậy tuỳ theo nội dung khái niệm, logic bên trong của nó mà giáo
viên có thể chọn các con đường hình thành khái niệm từ trực quan hay từ tư
duy lí thuyết khi hình thành biểu tượng để khái quát hình thành khái niệm.
1.1.4. Nguyên tắc hình thành khái niệm hoá học ở trường phổ
thông [27]
Trên cơ sở lí luận dạy học và tâm lí dạy học cùng với tính chất đặc thù
và quy luật của sự nhận thức hoá học mà sự hình thành các khái niệm hoá học
trong dạy học hoá học phổ thông cần đảm bảo các nguyên tắc sau:
1. Sự hình thành khái niệm hoá học cần đi từ các ví dụ về đối tượng,
hiện tượng hoá học điển hình, để phân tích, xác định đúng nội dung của
Trong quá trình dạy học hoá học, hệ thống các khái niệm hoá học được
hình thành dần dần và phát triển trên cơ sở các học thuyết hoá học khác nhau.
Thông qua các quá trình này mà dung lượng và nội dung của khái niệm được
mở rộng, đào sâu dần.
Hình thành khái niệm hoá học cơ bản nhất được thực hiện ngay từ các
bài học hoá học đầu tiên ở THCS. Các khái niệm hoá học cơ bản được hình
thành bằng hai con đường khái quát qui nạp từ các tài liệu cảm giác và con
đường kết luận suy diễn từ các qui luật, học thuyết, định luật đã biết để lập
luận, khái quát thành khái niệm.
9
Đối với giai đoạn đầu của sự dạy học hoá học (THCS) sự hình thành
khái niệm bằng con đường khái quát qui nạp là đặc trưng nhất, cơ sở của nó là
sự khái quát hoá từ các tư liệu thực nghiệm để hình thành khái niệm.
+ Khái quát – quy nạp là phương pháp xây dựng khái niệm đi từ thực
nghiệm hay các tư liệu nghiên cứu để khái quát thành khái niệm (định nghĩa)
…Bước đầu, chọn ví dụ thực nghiệm, tư liệu hay sự kện điển hình, đem phân
tích, so sánh để tìm ra các dấu hiệu chung của khái niệm. Trong các dấu hiệu
chung đó, xác định dấu hiệu bản chất, từ đó rút ra định nghĩa khái niệm và
tiến tới vận dụng khái niệm. Sau đó thiết lập mối liên hệ giữa khái niệm đã
được hình thành với các khái niệm gần kề. Sự hình thành khái niệm bằng con
đường khái quát qui nạp được thực hiện theo một logic xác định bao gồm các
giai đoạn:
1. Phân tích, so sánh các đối tượng điển hình để làm rõ các dấu hiệu
chung của khái niệm.
2. Lựa chọn và làm chính xác hoá các dấu hiệu bản chất tức là tách dấu
hiệu bản chất khỏi các dấu hiệu không bản chất.
3. Phát biểu định nghĩa về khái niệm.
4. Thiết lập các mối liên hệ giữa khái niệm đó với các khái niệm khác
và phân chia giới hạn với các khái niệm gần kề.
5. Xác định vị trí của khái niệm trong sự phân loại tương ứng và vận
→
khái quát nét bản chất
→
khái niệm
→
vận dụng.Ví dụ: Các khái niệm
phản ứng hoá học, ăn mòn điện hoá, ảnh hưởng của nồng độ, nhiệt độ, xúc tác
đến tốc độ phản ứng hoá học, sự điện li…
* Từ sự tư duy lí thuyết dựa trên các học thuyết để phân tích các hiện
tượng tìm ra nét bản chất từ đó hình thành khái niệm.
Ví dụ: Các khái niệm liên kết hoá học, hoá trị, số oxihoá, sự lai hoá các
obitan, phản ứng oxihoá khử.
* Từ sự mô tả kinh nghiệm đi đến giải thích lí thuyết về nội hàm của
khái niệm
11
Ví dụ: Phân tích cấu trúc phân tử các chất hữu cơ qua mô hình để giải
thích về tính chất các loại hợp chất hữu cơ, phân tích cấu trúc tinh thể, các
dạng mạng tinh thể giải thích tính chất các chất có cấu trúc, dạng mạng tinh
thể tương ứng.
1.2.2. Sự phát triển khái niệm [27]
Trong chương trình hoá học phổ thông, các khái niệm đã hình thành ở
giai đoạn đầu nghiên cứu hoá học ở THCS được phát triển liên tục theo ba
con đường cơ bản đó là: Sự đào sâu khái niệm hay tăng nội dung của khái
niệm. Sự đào sâu bản chất của khái niệm bằng cách mở ra qui luật mới bên
trong khái niệm và thay đổi các mối liên hệ bên trong giữa các thành tố của
chính bên trong khái niệm.
Khái niệm axit-bazơ ở THCS nghiên cứu phân tử hợp chất có chứa
nguyên tử H (axit) hay chứa nhóm nguyên tử OH (bazơ). Khái niệm này được
phát triển ở THPT bằng cách đào sâu bản chất của khái niệm là có sự cho và
nhận proton và phản ứng axit-bazơ là phản ứng có sự trao đổi proton. Như
Như là hệ thống kiến thức theo các khái niệm lớn: Kim loại, phi kim, liên kết
hoá học, cấu tạo nguyên tử, hiđrocacbon, hợp chất có nhóm chức…
Sự liên kết các khái niệm được tiến hành bằng sự khái quát sâu lí thuyết
trên cơ sở lí thuyết chủ đạo với sự sử dụng rộng rãi mối liên hệ trong môn học
và liên môn học.
Sự hình thành, phát triển khái niệm đòi hỏi sự tổ chức hợp lí hoạt động
đồng bộ của giáo viên và học sinh. Giáo viên tổ chức cho học sinh tìm tòi,
khám phá những dấu hiệu bản chất của khái niệm, khái quát trong nhận xét,
định nghĩa và vận dụng trong các tình huống học tập, thực tiễn có liên quan.
1.3. Khái niệm axit-bazơ trong chương trình HHPT.
1.3.1. Khái niệm axit – bazơ trong chương trình THCS (Thuyết
nguyên tử, phân tử)
1.3.1.1. Thuyết nguyên tử, phân tử
Sau khi được nghiên cứu về chất và sự biến đổi của chất, học sinh tìm
hiểu về cấu tạo của chất để biết rõ nguyên nhân sự biến đổi đó. Những
13
nguyên liệu ban đầu cấu tạo nên các chất là những nguyên tố hóa học, nguyên
tố hóa học gồm những hạt vô cùng bé nhỏ gọi là nguyên tử.
Các chất đều được tạo nên từ những hạt vô cùng nhỏ, trung hoà về điện
gọi là nhuyên tử. Có hàng chục triệu chất khác nhau nhưng chỉ có trên một
trăm loại nguyên tử.
VD: Nguyên tố Hiđro : H - 1 nguyên tử hiđro
Chất có thể do một hoặc nhiều nguyên tố hóa học cấu tạo nên. Mỗi đơn
chất hay hợp chất đều gồm một tập hợp vô cùng nhỏ (hạt vi mô) tham gia
trong phản ứng hóa học thể hiện đầy đủ tính chất hóa học của một chất. Phân
tử là hạt đại diện cho chất, gồm một số nguyên tử liên kết với nhau và thể
hiện đầy đủ tính chất hoá học của chất. Phân tử có thể bị chia nhỏ trong phản
ứng hóa học.
VD: Nước tinh khiết gồm các phân tử H
2
Để nhận biết các dung dịch là axit hay bazơ, dựa vào sự biến đổi màu
của giấy quỳ tím. Dung dịch bazơ đổi màu quỳ tím thành xanh. Dung dịch
axit đổi màu quỳ tím thành đỏ.
Thành phần hóa học của axit : là hợp chất mà phân tử gồm một gốc axit
liên kết với một hay nhiều nguyên tử hiđro (H)
Axit clohiđric : HCl gốc axit – Cl : Clorua liên kết một nguyên tử H
Axit sunfuric: H
2
SO
4
gốc axit =SO
4
: Sunfat liên kết hai nguyên tử H
Thành phần hóa học của bazơ : là hợp chất mà phân tử gồm một
nguyên tử kim loại liên kết với một hay nhiều nhóm –OH (hiđroxit)
Ba(OH)
2
: Kim loại Ba liên kết với 2 nhóm –OH
NaOH : Kim loại Na liên kết với 1 nhóm –OH
Sau khi đã biết khái quát về thành phần hóa học của axit – bazơ ,học
sinh tiếp tục tìm hiểu về những tính chất hóa học và những quan hệ giữa axit
– bazơ và quan hệ giữa axit, bazơ và những hợp chất vô cơ khác.
Định nghĩa axit: Là hợp chất mà phân tử gồm có một hay nhiều nguyên
tử H liên kết với gốc axit.
VD: 1 nguyên tử H liên kết với gốc clorua: HCl
3 nguyên tử H liên kết với gốc photphat: H
3
PO
4
Định nghĩa axit còn có thể dựa vào tính chất hóa học của chúng. Axit là
2
, Cu(OH)
2
, Ca(OH)
2
,…
Định nghĩa bazơ dựa vào tính chất hóa học. Bazơ là hợp chất có phản
ứng trung hòa với axit, tạo thành muối và nước. Phản ứng axit – bazơ tạo
thành muối và nước gọi là phản ứng trung hòa
NaOH + HCl
→
NaCl + H
2
O ; 2NaOH + H
2
SO
4
→
Na
2
SO
4
+ 2H
2
O
1.3.2 Thuyết axit – bazơ của Areniuyt [12]
- Thuyết axit – bazơ xuất phát từ thuyết điện li của Areniuyt cho rằng,
axit là những chất khi hòa tan trong nước thì phân li cho cation hiđro
+
+
+
2-
3
CO
2-
3
CO
+
2
H O
€
-
3
HCO
+
-
OH
Thuyết của Areniuyt là thuyết axit – bazơ sớm nhất. Nó giải thích được
nhiều tính chất và phản ứng của các axit, bazơ trong dung dịch nước. Tuy
nhiên thuyết này có nhiều hạn chế. Nó chỉ áp dụng đúng cho dung môi là nước,
không áp dụng được cho tất cả các dung môi, đồng thời nó chưa thấy được vai
16
trò quyết định của dung môi trong sự phân li của axit, bazơ. Mặt khác, thuyết
Areniuyt không giải thích được các phản ứng tạo ra muối giống như phản ứng
trung hòa mà trong đó lại không có H
+
hoặc
nghĩa axit, bazơ chỉ liên quan tới proton: Axit là chất có khả năng cho proton,
bazơ là chất có khả năng nhận proton. Vì vậy, thuyết axit – bazơ của Bronstet
và Lauri còn được gọi là thuyết proton.
Thí dụ, trong nước,
3
CH COOH
là axit vì nó nhường proton cho nước, còn
phân tử
2
H O
là bazơ vì nó nhận proton để trở thành
+
3
H O
:
17
3
CH COOH
+
2
H O
€
-
3
CH COO
+
+
3
3
CH COOH
nhường proton để
trở thành
-
3
CH COO
, bazơ
2
H O
nhận proton và trở thành
+
3
H O
. Theo chiều
nghịch
-
3
CH COO
nhận proton từ để trở thành
3
CH COOH
, còn
+
3
H O
thì
nhường proton cho
-
3
NH
nhận proton để trở
thành
+
4
NH
, còn axit
2
H O
nhường proton để trở thành
-
OH
. Theo chiều
nghịch,
+
4
NH
nhường proton cho
-
OH
để trở thành
2
H O
, còn
-
OH
nhận
proton từ
+
4
, cặp thứ hai là A
2
-
B
2
, thì hai phản ứng axit – bazơ trên đều được viết như sau:
A
1
+ B
2
→
B
1
+ A
2
Axit 1 Bazơ2 Bazơ1 Axit2
Đây là phương trình tổng quát của phản ứng axit – bazơ theo Bronstet.
Ở phản ứng này có sự chuyển proton từ axit 1 cho bazơ 2 và từ axit 2 cho
bazơ 1. Như vậy sự chuyển proton là bản chất của phản ứng axit – bazơ theo
Bronstet.
Các phản ứng axit – bazơ khác cũng xảy ra sự chuyển proton theo
phương trình tổng quát nêu trên:
18
Axit 1 + Bzơ 2
→
Bazơ 1 + Axit 2
HCN +
2
H O
H PO
+
2
H O
€
2-
4
HPO
+
+
3
H O
(e)
Như vậy tất cả các phản ứng axit – bazơ đều bao gồm hai cặp axit – bazơ
liên hợp nằm trong một cân bằng. Một axit không thể hình thành bazơ liên hợp
của nó nếu không có một bazơ khác. Ngược lại, một bazơ cũng không thể hình
thành axit liên hợp với nó nếu không có một axit khác. Đối với một cặp axit –
bazơ liên hợp: axit càng dễ cho proton (lực axit càng mạnh) thì bazơ liên hợp
của nó càng khó nhận proton (lực bazơ càng yếu) và ngược lại.
Các ví dụ trên chính là những phản ứng ion thu gọn biểu diễn bản chất của
nhiều phản ứng axit – bazơ cụ thể khác nhau.
Bảng 1.1: Độ mạnh tương đối của các cặp axit – bazơ liên hợp
Axit Bazơ liên hợp
Axit pecloric
HClO
4
4
ClO
−
2
4
SO
−
Ion sunfat
Axit photphoric
H
3
PO
4
2 4
H PO
−
Ion đihiđrô
phôtphat
Axit nitrơ
HNO
2
2
NO
−
Ion nitrit
Axit flohiđric HF F
-
Ion florua
Axit formic HCOOH HCOO
-
Ion format
Axit axetic CH
Ion xianua
Ion hiđro sunfua HS
-
2-
S
Ion sunfua
19
M
ạ
n
hY
ế
uYếu
R
ấ
t
y
ế
u
OH C
2
H
5
O
-
Ion etylat
Amoniac
NH
3
2
NH
−
Ion amit
Hiđro H
2
H
-
Ion hiđrua
Metan
CH
4
3
CH
−
Anion metyl
Bảng 1.1. Sắp xếp các cặp axit – bazơ liên hợp theo độ mạnh yếu tương
đối giữa chúng. Theo trật tự từ trên xuống dưới, lực axit giảm dần và lực bazơ
của các bazơ liên hợp tăng dần. Các axit từ
+
→
-
HS
+
-
Cl
HCl
+
-
HS
→
2
H S
+
-
Cl
Các axit Bronstet – Lauri đều chứa proton, vì vậy, chúng còn được gọi
là axit protonic. Các axit protonic có thể là phân tử trung hòa như
HCl
,
2 4
H SO
,
3 4
H PO
…,là anion như
-
R CO
(R là gốc hữu cơ hoặc halogen), piriđin,
2
H O
…là anion như
2-
4
HPO
,
-
OH
,
-
Cl
,
-
2
NH
, …các cation như
+
2 3
H N - NH
,
3+
3 5
[Pt(NH ) (OH)]
,
2+
2 5
[Fe(H O) (OH)]
HCl
:
3
CH COOH
+
3
NH
→
-
3
CH COO
+
+
4
NH
3
CH COOH
+
HCl
€
+
3 2
CH COOH
+
-
Cl
O, NH
3
lỏng, HF lỏng hay
3
CH COOH
khan…và kể cả khi không có dung môi như:
3
NH
(k)
+
HCl
(k)
→
NH
4
Cl
(r)
Tuy vậy, thuyết proton chỉ giới hạn cho những phản ứng axit – bazơ
trong đó có sự trao đổi proton. Có nhiều quá trình tương tác, trong đó các chất
thể hiện tính axit và tính chất bazơ, nhưng theo thuyết proton không cho là
phản ứng axit – bazơ, bởi vì ở đó không có sự trao đổi proton. Chẳng hạn,
phản ứng của oxit kim loại và oxit phi kim tạo ra muối.
VD : CaO + SO
3
→
CaSO
4
Hoặc phản ứng giữa SOCl
€
+
3
H O
+
-
OH
Đối với cân bằng này ta có :
+ -
3
2
H O OH
2
H O
a .a
K =
a
Quá trình tự ion hóa của nước cực kì yếu, ở 25
0
C,
α
= 1,81 .
9
10
−
,
nghĩa là cứ 555 triệu phân tử nước mới có 1 ion
+
3
K là hằng số điện li của nước. Nó phụ thuộc vào nhiệt độ. Như vậy ở một
nhiệt độ xác định, tích nồng độ của ion
+
3
H O
với nồng độ ion
-
OH
là một
hằng số. Hằng số này được gọi là tích số ion của nước , kí hiệu là
2
H O
K
và đặc
trưng định lượng cho sự tự phân li của nước. Giá trị
2
H O
K
có thể tính từ
0
G∆
của phản ứng điện li của nước ở 25
0
C như sau :
2
0
H O
79,89.1000
lnK 32,23
8,314.298
€
+
3
H O
+
-
OH
Hoặc đơn giản :
2
H O
€
+
H
+
-
OH
0
298
58 /H kJ mol∆ =
Vì vậy, theo nguyên lí Lơ Sa-tơ-liê, nhiệt độ tăng, quá trình phân li của nước
tăng lên, nghĩa là tích số ion của nước tăng lên khi nhiệt độ tăng xem hình 1.1
và bảng 1.2
Hình 1.1: Sự phụ thuộc tích số ion của nước vào nhiệt độ
K
H O
€
+
3
H O
+
-
A
(1.1)
+ -
3
2
[H O ].[A ]
K =
[H O].[HA]
(1.2)
Vì [H
2
O] thay đổi không đáng kể nên có thể gộp vào hằng số K để thành K
a
:
+ -
3
a
[H O ].[A ]
K =
HA
(1.3)
€
+
3
H O
+
-
Cl
Trong dung dịch chỉ tồn tại các ion
-
Cl
,
+
3
H O
, không có phân tử
HCl
.
Vì vậy, không thể xác định được hằng số axit của axit clohiđric.
Các axit yếu, thường phản ứng rất ít với nước, trong dd nồng độ ion
+
3
H O
và
-
A
nhỏ, nồng độ HA lớn nên K
a
nhỏ. Vì vậy, để so sánh lực axit của
Bảng 1.3: Các giá trị K
a
và pK
a
đối với một số axit yếu ở 25
0
C
Axit K
a
pK
a
Axit K
a
pK
a
-
4
HSO
2−
1,0.10
2,00
-
2 4
H PO
6,31.
8−
10
7,20
3 4
H PO
1,26.
12−
10
11,90
3
CH COOH
4,75.
5−
10
4,757
-
HS
3,00.
13−
10
12,50
25