TỔNG LIÊN ĐOÀN LAO ĐỘNG VIỆT NAM
TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÔN ĐỨC THẮNG
o0o
BÀI KIỂM TRA 1
MÔN TIỀN TỆ - NGÂN HÀNG – THỊ TRƯỜNG TÀI CHÍNH
CÁC CHÍNH SÁCH HỖ TRỢ CỦA CHÍNH PHỦ ĐỂ PHÁT TRIỂN
DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA Ở VIỆT NAM
Giảng viên: TS. Phạm Hữu Hồng Thái
Trang | 1
MỤC LỤC
PHẦN 1: GIỚI THIỆU CHUNG 4
I.Khái niệm Doanh nghiệp nhỏ và vừa - DNNVV
II.Vai trò của DNNVV đối với nền kinh tế
I.Thực trạng
1.Số lượng, quy mô DNNVV 6
2.Phân bố DNNVV theo ngành nghề, địa bàn 9
3.Lao động trong khu vực DNNVV 11
II.Hiệu quả hoạt động tài chính của DNNVV
III.Đóng góp của khu vực DNNVV vào GDP, xuất nhập khẩu
IV.Kết quả thực hiện kế hoạch phát triển DNNVV giai đoạn 2006-2010
1.Số DNNVV thành lập mới 14
2.Tỷ lệ tăng trưởng DNNVV tại các tỉnh khó khăn 14
3.Tỷ lệ DNNVV tham gia xuất khẩu, tạo việc làm mới và lao động đào tạo kỹ thuật làm việc
tại các DNNVV 15
4.Đánh giá kết quả thực hiện các nhóm giải pháp 16
5.Những tồn tại của Kế hoạch phát triển DNNVV giai đoạn 2006-2010 19
PHẦN 3: ĐÁNH GIÁ CÁC CHÍNH SÁCH SÁCH TÀI CHÍNH 21
I.Tạo lập môi trường kinh doanh thuận lợi cho DNNVV
II.Về tiếp cận các chính sách, chương trình nâng cao năng lực cạnh tranh cho DNNVV
1.Chương trình trợ giúp đào tạo nguồn nhân lực cho các DNNVV 22
2.Chương trình xúc tiến thương mại quốc gia 23
ĐỀ XUẤT, KHUYẾN NGHỊ 57
I.Về phía Chính phủ 57
II.Về phía Ngân hàng 57
III.Về phía Doanh nghiệp 58
TÀI LIỆU THAM KHẢO 60
Trang | 3
PHẦN 1: GIỚI THIỆU CHUNG
I. Khái niệm Doanh nghiệp nhỏ và vừa - DNNVV
Hiện nay trên thế giới có nhiều quan niệm khác nhau về doanh nghiệp nhỏ và vừa tuy
nhiên, đa phần các định nghĩa về DNVVN đều sử dụng số lượng lao động thường xuyên
như là một tiêu chí ưu tiên, ngoài ra còn sử dụng quy mô vốn, quy mô doanh thu v.v… Đối
với đa phần các quốc gia phát triển (Mỹ, Pháp, Nhật), những doanh nghiệp có số lao động
từ 500 trở xuống thì được coi là có quy mô vừa và nhỏ, trong số đó những doanh nghiệp có
số lao động 200 trở xuống được coi là doanh nghiệp nhỏ.Vừa qua, Nghị định số
56/2009/NĐ-CP ngày 30/6/2009 của Thủ tướng Chính phủ ban hành quy định về trợ giúp
doanh nghiệp nhỏ và vừa thay thế Nghị định số 90/2001/NĐ-CP ngày 23/11/2001 của
Chính phủ về trợ giúp doanh nghiệp nhỏ và vừa . Một trong những điểm mới lớn nhất của
Nghị định 56 là đưa ra một định nghĩa tương đối cụ thể về doanh nghiệp nhỏ và vừa :
Doanh nghiệp nhỏ và vừa là cơ sở kinh doanh đã đăng ký kinh doanh theo quy định pháp
luật, được chia thành ba cấp: siêu nhỏ, nhỏ, vừa theo quy mô tổng nguồn vốn (tổng nguồn
vốn tương đương tổng tài sản được xác định trong bảng cân đối kế toán của doanh nghiệp)
hoặc số lao động bình quân năm (tổng nguồn vốn là tiêu chí ưu tiên), cụ thể như sau:
Bảng 1: Tiêu chí phân loại DNNVV tại Việt Nam
Quy môKhu vực
Doanh
nghiệp siêu
nhỏ
người đến
200 người
từ trên 20 tỷ
đồng đến 100
tỷ đồng
từ trên 200
người đến 300
người
III. Thương mại và
dịch vụ
10 người trở
xuống
10 tỷ đồng
trở xuống
từ trên 10
người đến
50 người
từ trên 10 tỷ
đồng đến 50
tỷ đồng
từ trên 50
người đến 100
người
II. Vai trò của DNNVV đối với nền kinh tế
Ở mỗi nền kinh tế quốc gia hay lãnh thổ, các doanh nghiệp nhỏ và vừa có thể giữ
những vai trò với mức độ khác nhau, song nhìn chung có một số vai trò tương đồng như
sau:
− Giữ vai trò quan trọng trong nền kinh tế: các doanh nghiệp nhỏ và vừa thường
chiếm tỷ trọng lớn, thậm chí áp đảo trong tổng số doanh nghiệp (ở Việt Nam chỉ xét
Trang | 4
N
ă
m Tổng
DN
Siêu
nhỏ
DN
nhỏ
DN
v
ừ
a
DN
l
ớ
n
2005
112.950
63.456
41.337
3.196
4.961
2006
131.318
80.060
42.649
3.418
5.191
2007
155.771
có
162.785 doanh nghiệp siêu
nhỏ, 74.658 doanh nghiệp nhỏ, 5.010 doanh nghiệp
vừa
và
6.389 doanh nghiệp lớn. Tính
đến ngày 1/1/2010, nhóm doanh nghiệp siêu nhỏ của
Việt
Nam chiếm tới tỷ lệ 65,42%,
nhóm doanh nghiệp nhỏ chiếm tỷ lệ 30%. Số doanh nghiệp vừa chiếm tỷ lệ 2,01% và
doanh nghiệp lớn chiếm tỷ lệ 2,51%. Tổng cộng, số
doanh
nghiệp
siêu nhỏ, nhỏ và vừa
chiếm tỷ lệ
tới
97,43%. Trong giai đoạn 2000-2009, số doanh nghiệp siêu nhỏ có tốc độ
tăng trung
bình
hàng năm lớn nhất với 24,7%; số doanh nghiệp nhỏ là 20,41%; doanh
nghiệp vừa và
lớn
có
tốc độ tăng trung bình hàng năm lần lượt là 11,79% và
7,28%.
Tỷ lệ doanh nghiệp thuộc các nhóm doanh nghiệp siêu nhỏ, nhỏ, vừa và lớn
tế
tại thời điểm
1/1/2010
Khu vực Tổng
số
Chia theo qui mô lao
động
Doanh
nghiệp
siêu
nhỏ
Doanh
nghiệp
nhỏ
Doanh
nghiệp
vừa
Doanh
nghiệp
lớn
TỔNG
SỐ
248.842 162.785 74.658 5.010 6.389
1. Khu vực
doanh
nghiệp
Nhà n
ước
3.364 69 1.260 570 1.465
DN Nhà nước
vốn
Nhà
nước
1.740 80 819 263 578
CT Cổ phần không
có
vốn Nhà
nước
42.628 25.720 14.459 1.245 1.204
3. Khu vực có
vốn
đầu tư
nước
ngoài
6.546 1.055 3.480 583 1.428
100% vốn nước
ngoài
5.412 850 2.945 443 1.174
DN liên doanh
với
nước
ngoài
1.134 205 535 140 254
Trang | 7
Nguồn: Tổng cục Thống kê, Doanh nghiệp Việt Nam 9 năm đầu thế kỷ 21,
Nhà
xuất bản
Thống kê, Hà Nội, 2010 và Kết quả sản xuất kinh doanh của Doanh nghiệp Việt
Nam
năm
đến
d
ư
ớ
i
1
tỷ
Từ 1
tỷ
đến
d
ư
ớ
i
5
tỷ
Từ 5
tỷ
đến
d
ư
ớ
i
10
tỷ
Từ
10
tỷ
đến
tỷ
trở
lên
2005
112.950
26.687
20.434
41.856
9.255
10.017
3.302
895
504
2006
131.318
15.908
21.809
64.137
12.487
11.502
3.835
1.009
631
2007
155.771
18.646
23.630
72.342
17.269
16.353
năm 2007, 2008, 2009 phân theo ngành kinh tế VSIC 2007,
T
ậ
p
2, NXB Thống kê, Hà
Nội,
2011.
Phân loại theo quy mô vốn, thì doanh nghiệp nhỏ và vừa chiếm tỷ
lệ
95.97% tổng
số doanh nghiệp. Trong đó, doanh nghiệp nhỏ chiếm 82,26%, doanh nghiệp
vừa
chiếm
13,71% và 4,03 % doanh nghiệp cỡ
lớn.
Bảng 5: Số doanh nghiệp theo quy mô vốn tính đến ngày
1/1/2010
Năm
Tổng
số
Phân theo qui mô nguồn
vốn
Doanh
nghiệp
nhỏ
Doanh
nghiệp
vừa
Doanh
nghiệp
với
97,19%, trong khi doanh
nghiệp lớn chỉ chiếm 2,81%. Các doanh nghiệp nhà nước có tỷ
trọng
doanh
nghiệp lớn là
cao nhất, với 47,32%, trong khi doanh nghiệp nhỏ và vừa chỉ chiếm
52,68%.
Trong khu
vực có vốn đầu tư nước ngoài, các doanh nghiệp nhỏ và vừa chiếm tỷ lệ là 73,54%,
số
doanh nghiệp lớn chiếm tỷ lệ
26,46%.
Bảng 6: Số doanh nghiệp phân theo quy mô nguồn vốn và khu vực, thành
ph
ầ
n
kinh tế tính đến
1/1/2010.
Tổng
số
Phân theo qui mô nguồn
vốn
Doanh
nghiệp
nhỏ
Doanh
nghiệp
vừa
động đầu tư của các DNNVV vào các ngành dựa trên tri thức, thâm dụng vốn hoặc công
nghệ
cao
còn hạn
chế.
Kết quả điều tra doanh nghiệp do Tổng cục Thông kê công bố cho thấy một tỷ lệ lớn
các
doanh nghiệp đăng ký hoạt động trong các ngành bán sỉ, bán lẻ, sửa chữa ô tô, xe máy (39%
tổng
số doanh nghiệp đăng ký trong các năm 2006, 2007, 2008 và 2009). Các ngành công
nghiệp
(sơ
chế) và xây dựng lần lượt chiếm 17,69% và 14,29% tổng số doanh nghiệp đang
hoạt động
vào
1/1/2010. Hầu hết các doanh nghiệp này tạo ra giá trị gia tăng thấp, có xu
hướng sử dụng nhiều
lao
động, vốn hạn chế và công nghệ
thấp.
Trang | 9
Bảng 7: Phân bố doanh nghiệp theo ngành nghề kinh tế
2006-2009
2005
2006
2007
2008
2009
Tổng
số 112.950 131.318 155.771 205.732 248.842
42.550
52.332
60.892
80.446
97.051
Vận tải, kho
bãi 5.830 6.508 8.327 7.740 10.074
Dịch vụ lưu trú và ăn
uống
4.684
5.116
6.073
7.083
8.898
Thông tin và truyền
thông
1.343
1.889
2.364
3.429
4.538
Hoạt động tài chính, ngân hàng và b
ảo
hiểm
1.593
1.671
1.895
2.068
2.129
Hoạt động kinh doanh bất động
Nghệ thuật, vui chơi và giải
trí
1.183
419
490
678
820
Hoạt động dịch vụ
khác
1.278
653
820
1.028
1.417
Hoạt động làm thuê các công việc tro
ng
các
hộ
gia đình, sx sản phẩm vật chất
và
dịch vụ tự tiêu dùng của hộ gia đình
9 8 3 12 11
Nguồn: Tổng cục Thống kê, Niên giám thống kê 2010. NXB Thống kê, năm
2011.
Số doanh nghiệp đăng ký hoạt động và đầu tư vào những ngành quan trọng đối với
năng
lực cạnh tranh quốc gia như kho vận, công nghệ thông tin, khoa học…. còn khá
khiêm tốn,
song
đã có xu hướng gia tăng. Bảng trên cho thấy số lượng doanh nghiệp hoạt
0,27%
tổng
số doanh nghiệp.
Các DNNVV tập trung chủ yếu ở những thành phố lớn như Hà Nội, TP. Hồ Chí
Minh, Đà
Nẵng, Cần Thơ và Hải Phòng. Đồng bằng Sông Hồng, đông Nam Bộ là nơi tập
trung phần
lớn
các DNNVV của Việt Nam, lần lượt chiếm tỷ lệ 29,21% và 39,08% vào
31/12/2009.
Bảng 8: Phân bố Doanh nghiệp hoạt động 2005-2009 theo
vùng
2005 2006 2007 2008 2009
Cả
nước 112.950 131.318 155.771 205.732 248.842
Đồng bằng sông
Hồng 31.965 37.514 43.707 61.093 72.676
Trung du và miền núi phía
Bắc 7.175 7.802 9.153 11.564 11.627
Bắc Trung Bộ và duyên
hải
miền
Trung
16.223 19.344 23.476 31.033 36.608
Tây
Nguyên 3.564 4.039 4.597 6.576 7.294
Đông Nam
Bộ 39.601 47.130 57.022 73.877 97.253
Đồng bằng sông Cửu
Long 14.258 15.325 17.652 21.425 23.220
21,5%.
Cùng với khu vực doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, khu vực doanh nghiệp
vừa và nhỏ tư nhân đang tạo ra mạng lưới an sinh xã hội cho nhiều người lao động mất
việc từ khu vực doanh nghiệp nhà nước và khu vực công, đặc biệt trong quá trình
Trang | 11
chuyển đổi từ nền kinh tế kế hoạch sang kinh tế thị trường. Từ năm 2000 đến 2010,
khoảng 5,6 triệu việc làm mới đã được tạo ra bởi các doanh nghiệp tư nhân, 1,5 triệu
việc làm được tạo ra bởi các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, trong khi khu vực
doanh nghiệp nhà nước cắt giảm khoảng 300.000 lao động. Các DNNVV đang là nhân
tố quan trọng giúp duy trì tỷ lệ thất nghiệp thấp tại Việt Nam trong thập niên qua.
Bảng 9 - Các DNNVV tư nhân là khu vực tạo việc làm lớn
nh
ấ
t
N
ă
m
Tổng
số
Số lao động theo loại
hình
% lao động theo loại
hình
DNNN
DNTN
DTNN
DNNN
DNTN
DTNN
2000
16,60%
2004
5.770.671
2.250.372
2.475.448
1.044.851
39,00%
42,90%
18,10%
2005
6.237.396
2.037.660
2.979.120
1.220.616
32,70%
47,80%
19,60%
2006
6.715.166
1.899.937
3.369.855
1.445.374
28,30%
50,20%
21,50%
2007
7.382.160
1.763.117
3.933.182
1.685.861
Bảng 10: Một số chỉ tiêu tài chính của DNNVV Việt Nam giai đoạn
2005
–
2009.
Đơn
vị: Tỷ
VND
N
ă
m
Tổng số
vốn
Tài sản cố định
và
Doanh
thu
thu
ầ
n
Lợi
nhu
ậ
n
trước
thuế
2005 698.739 196.200 860.338 10.433
2006 983.988 298.296 1.142.571 19.822
2007 1.824.125 591.188 1.679.861 46.887
2008 2.723.008 957.342 2.973.456 36.566
2009 4.197.475 1.289.190 3.351.404 78.385,8
ờ
i)
Vốn
trung
bình/DN (tỷ
đồng
)
Tài sản cố ñịnh v
à
đầu
tư dài hạn/
lao
động
(triệu
đồng
)
Doanh
thu
thu
ầ
n
trung
bình/lao
động
(triệu
đồng
)
2005 28 7.0 65.9 288.8
2006 27 8.0 88.5 339.1
2009.
III. Đóng góp của khu vực DNNVV vào GDP, xuất nhập khẩu
Khu vực DNNVV tư nhân đang đóng góp ngày một quan trọng vào ngân sách quốc
gia. Năm 2005, đóng góp của khu vực này vào ngân sách quốc gia chỉ khoảng 10.6%
trong tổng lượng đóng góp (thuế và phí) của tất cả khu vực doanh nghiệp. Tỷ lệ này đã
nhanh chóng tăng lên tới 31% vào năm 2008 và 2009. Về con số tuyệt đối, số tiền thuế và
phí mà các DNNVV tư nhân đã nộp cho nhà nước đã tăng 3,707 lần sau 5 năm. Sự đóng
góp lớn như vậy đã hỗ trợ lớn cho việc chi tiêu của chính phủ vào các công tác xã hội và
các chương trình phát triển khác.
Bảng 12: Đ
óng
góp của DNNVV tư nhân trong thu ngân sách quốc
gia
Đơn vị
: Tỷ
đồng
IV.
N
ă
m
Thuế và các khoản
ph
ả
i
đóng
cho Nhà
nước của khu vực
Trong đó bởi DNNVV
T
ư
011.
IV. Kết quả thực hiện kế hoạch phát triển DNNVV giai đoạn 2006-2010
Ngày 23/10/2006, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 236/2006/QĐ-
TTg phê duyệt Kế hoạch phát triển DNNVV 5 năm lần thứ nhất 2006 – 2010. Kế hoạch
này đã đề ra 5 mục tiêu, 9 nhiệm vụ và 7 nhóm giải pháp để phát triển DNNVV. 7 nhóm
giải pháp được cụ thể hóa thành 15 giải pháp trong Chương trình hành động ban hành
kèm theo Quyết định 236/2006/QĐ-TTg và phân công trách nhiệm thực hiện với lộ
trình rõ ràng cho từng cơ quan trung ương và địa phương chủ trì thực hiện.
1. Số DNNVV thành lập mới
Hình 1: Số lượng doanh nghiệp thành lập mới giai đoạn
2006-2010
Nguồn số liệu:Cục Phát triển doanh nghiệp, Cục Quản lý đă
ng
ký kinh
doanh
Tính chung trong cả giai đoạn Kế hoạch, tổng số doanh nghiệp thành lập mới đạt
gần
384.000 doanh nghiệp, trong đó chủ yếu là DNNVV,
khoảng
370.000 doanh nghiệp.
Như vậy, chỉ tiêu Kế hoạch đề ra đến năm 2010
có
320.000 DNNVV đăng ký thành lập
mới là hoàn
thành.
2. Tỷ lệ tăng trưởng DNNVV tại các tỉnh khó khăn
Trang | 14
Hình 2: Số lượng doanh nghiệp thành lập mới giai đoạn
2006-2010
Trong giai đoạn 2006-2010, tỷ lệ tăng trưởng DNNVV trung bình tại các tỉnh khó khăn
và
doanh nghiệp có vốn đầu tư nước
ngoài), do đó số lao động tăng thêm (chỗ làm mới) trong
các
DNNVV ước đạt khoảng 2,7
Trang | 15
triệu chỗ làm mới; (iii) ước tính hàng năm có khoảng 1,5 triệu
lao
động được đạo tạo
nghề, do đó, mục tiêu đạt ra có khoảng 165.000 lao động được đạo tạo kỹ
thuật
làm việc
trong các DNNVV có thể đạt
được.
Như vậy, sau năm năm thực hiện Kế hoạch, các chỉ tiêu đặt ra về
cơ
bản đã
đạt đ
ược.
4. Đánh giá kết quả thực hiện các nhóm giải pháp
a. Nhóm giải pháp 1: Đơn giản hóa các thủ tục hành chính, tạo điều kiện thuận lợi
cho việc đăng kí kinh doanh, gia nhập thị trường và các hoạt động của doanh
nghiệp
− Kiện toàn công tác đăng kí kinh doanh: Công tác đăng ký kinh doanh đã được kiện
toàn theo hướng đơn giản hóa các thủ
tục
hành
chính, tạo điều kiện thuận lợi cho
các nhà đầu tư gia nhập thị
− Điều kiện kinh doanh đối với nhiều lĩnh vực đã được bổ sung:
+ Một loạt các quy định về điều kiện kinh doanh như kinh doanh dịch vụ đòi nợ,
phát hành
và
quản lý phát hành chứng khoán không niêm yết ra công chúng; về
giao dịch thương mại như
Luật
Trọng tài Thương mại, Luật Công chứng, Luật
Đ
ăng
ký giao dịch bảo đảm, Luật Phá sản; về
các
hoạt động sau đăng ký kinh
doanh như in ấn hóa đơn, hỗ trợ pháp lý liên ngành; về chế độ kế
toán,
báo cáo
kế toán, thuế, hải quan, công nghệ đã từng bước được bổ sung, sửa đổi, hoàn
thiện
hơn,
đáp ứng nhu cầu hoạt động của các doanh nghiệp.
+ Nghị định
104/2007/NĐ-CP
ngày 14/6/2007 quy định kinh doanh dịch vụ đòi nợ
của Chính phủ và Thông tư
số
104/2007/TT-BTC
ngày 12/9/2007 để hướng dẫn
thực hiện chế độ báo cáo và chế độ kiểm
tra,
đoạn
(2010-2014).
− Hoàn thiện các quy định pháp lý về giao dịch thương mại:
+ Ngày 17/6/2010, Quốc Hội đã ban hành Luật trọng tài thương mại
số
54/2010/QH12 thay thế Pháp lệnh trọng tài thương mại số 03/2003/PL-
UBTVQH. Luật
trọng
tài thương mại đã khắc phục được những hạn chế, bất cập
của Pháp lệnh trọng tài thương mại
2003,
khẳng định khung pháp luật về trọng tài
của Việt Nam ngày càng hoàn thiện hơn, đảm bảo phù
hợp
với pháp luật trọng tài
thương mại quốc tế.
+ Nghị định số
02/2008/NĐ-CP
quy định chi tiết thi hành Luật Công chứng năm
2006, Nghị định số
163/2006/NĐ-CP
về giao dịch bảo đảm, Nghị định số
83/2010/NĐ-CP
về đăng ký giao dịch bảo đảm và Báo cáo đánh giá, rà
soát
và
kiến nghị sửa đổi Luật phá sản năm
2004.
− Các quy định về chế độ kế toán và báo cáo tài chính:
+ Các quy định trong Chế độ kế toán đã được bổ sung, sửa đổi theo hướng đơn
Trong giai đoạn 2006-2010, các chính sách liên quan đến đất đai đã được hoàn
thiện
theo hướng ngày càng thuận lợi hơn cho hoạt động của các DNNVV.
− Thành lập Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất tại các địa phương (VPĐK):
+ Hiện nay, cả nước đã có 63 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương thành lập
VPĐK
cấp
tỉnh, có 54 tỉnh, thành phố đã thành lập
VPĐK
trực thuộc Phòng Tài
nguyên và Môi trường ở 443 huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh.
Trang | 17
+ Bộ Tài nguyên và Môi trường trong năm 2008 cũng đã
tiến
hành kiểm kê quỹ
đất của các tổ chức đang quản lý, sử dụng theo Chỉ thị số 31/2007/CT-TTg
ngày
14/12/2007 của Thủ tướng Chính phủ về việc kiểm kê quỹ đất đang sử dụng của
các tổ chức được Nhà nước giao đất, cho thuê đất, trong đó có kiểm kê các doanh
nghiệp thuộc đối tượng tổ
chức
kinh
tế đang quản lý, sử dụng mà được Nhà
nước giao hoặc cho thuê
đất.
Hầu hết các địa phương đã hoàn thành việc lập
quy hoạch, kế hoạch
sử
trì
ở mức khoảng 30%, dư nợ tính đến 30/6/2010 đạt khoảng 527.844
tỷ đồng, chiếm tỷ trọng
27%
trên tổng dư nợ tín dụng đối với nền kinh tế. Nợ quá hạn
của DNNVV duy trì ở mức khoảng
2,5%.
d. Nhóm giải pháp 4: Nâng cao năng lực cạnh tranh cho DNNVV
− Năng lực cạnh tranh của DNNVV đã được cải thiện đáng kể trong 5 năm qua nhờ
những
cố gắng của cả các Bộ, ngành và cộng đồng doanh nghiệp. Ngày
30/6/2006, Thủ
tướng
Chính phủ ban hành Quyết định
số 156/2006/QĐ-TTg
về
việc phê duyệt Đ
ề
án Phát triển xuất khẩu giai
đoạn
2006-2010. Theo đó, Đ
ề
án
này đã xác định một số nhóm ngành hàng chủ lực, có tiềm năng,
có
khả năng cạnh
tranh để hỗ trợ các doanh nghiệp cả nước nói chung và DNNVV nói riêng
đẩy
mạnh xuất khẩu trong bối cảnh Việt Nam gia nhập
thức trách nhiệm.
− Việc rà soát, điều chỉnh, bổ sung quy hoạch mạng lưới cơ sở dạy nghề theo hướng xã
hội
hóa cũng đã được Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội triển khai thực hiện.
f. Nhóm giải pháp 6: Tạo lập môi trường tâm lý xã hội đối với khu vực DNNVV
− Tại hầu hết các địa phương, môi trường kinh tế-xã hội, môi trường đầu
tư,
môi
trường pháp lý được hoàn thiện một bước tạo thuận lợi để DNNVV phát triển, từ
đó
tạo
bước chuyển biến toàn diện và sâu sắc trong nhận thức về việc cần thiết hỗ
trợ các DNNVV, tạo điều kiện cho hộ kinh doanh chuyển
sang
thành lập doanh
nghiệp, tạo việc làm và thu nhập ổn định cho người lao động, góp phần phát
triển
kinh tế của địa phương và cả
nước.
− Chính quyền các địa phương ngày càng nhận thức rõ vai trò động lực của các
DNNVV
trong nền kinh tế quốc dân.
g. Nhóm giải pháp 7: Quản lý thực hiện kế hoạch
− Chính phủ đ ã ban
hành
Nghị định số
56/2009/NĐ-CP
ngày
30/6/2009 về trợ
−
Đội
ngũ cán
bộ
làm công tác quản lý nhà nước của tỉnh, huyện, thành phố trong lĩnh
vực phát triển DNNVV
còn
thiếu, năng lực hạn chế, hầu hết chưa được qua đào tạo,
bồi dưỡng. Phần lớn không có cán
bộ
chuyên trách mà chỉ có cán bộ làm công tác
kiêm
nhiệm.
− Sự phối hợp giữa các Bộ, ban, ngành Trung ương trong việc triển khai thực hiện Kế
hoạch
thiếu chặt chẽ. Một số Bộ, ngành chưa dành sự quan tâm đúng mức cho việc
tổ chức thực hiện
cũng
như báo cáo tình hình thực hiện các giải pháp đã được giao
trong Kế hoạch (Bộ Lao
động,
Thương binh và Xã hội, Bộ Giáo dục và
Đ
ào
tạo
chưa có báo cáo thực hiện các giải pháp liên quan phát triển thị trường lao động, giáo
Trang | 19
dục văn hóa kinh doanh trong các trường đại
học,
các DNNVV với các ngân hàng thương mại hiện còn nhiều hạn chế. Phần lớn các DNNVV
có quy mô nhỏ, trình độ sản xuất còn nhiều yếu kém. Nhiều DNNVV chưa tạo dựng được
thương hiệu, uy tín trên thị trường, cộng với sự thiếu minh bạch về tài chính khiến các ngân
hàng ngại cho vay. Do đó, Chính phủ đã ban hành nhiều chủ trương, cơ chế chính sách
nhằm tạo môi trường kinh doanh thuận lợi cho các doanh nghiệp, hỗ trợ các DNNVV phát
triển thông qua đơn giản hóa các thủ tục hành chính, thực hiện các chính sách, chương trình
trợ giúp DNNVV nâng cao năng lực cạnh tranh, tiếp cận tài chính.v.v… Các chính sách,
chương trình trợ giúp phát triển DNNVV đã được triển khai trên nhiều lĩnh vực (như tài
chính; mặt bằng sản xuất; công nghệ; xúc tiến, mở rộng thị trường; thông tin, tư vấn; đào
tạo, phát triển nguồn nhân lực.v.v…) và trong thời gian khá dài. Tuy nhiên, theo đánh giá
chung, hiệu quả của việc thực hiện các chính sách, chương trình này chưa cao, trước hết là
sự tiếp cận của các DNNVV và tác động của các chính sách, chương trình trợ giúp này đối
với các DNNVV còn hạn chế trên nhiều mặt.
Các nỗ lực của Chính phủ trong việc trợ giúp phát triển DNNVV được thể hiện trên
các chương trình trợ giúp sau đây:
I. Tạo lập môi trường kinh doanh thuận lợi cho DNNVV
− Kết quả thực hiện được:
Trong giai đoạn từ năm 2006 đến nay, việc hoàn thiện môi trường kinh doanh thuận
lợi, minh bạch cho doanh nghiệp đã có các bước tiến đáng kể. Luật doanh nghiệp và các văn
bản quy phạm pháp luật về doanh nghiệp đã quy định cụ thể về đăng ký kinh doanh và các
hoạt động doanh nghiệp, quản trị doanh nghiệp phù hợp hơn với điều kiện kinh tế thị trường
có định hướng của Nhà nước và yêu cầu hội nhập kinh tế quốc tế sau khi Việt Nam trở
thành thành viên của Tổ chức Thương mại thế giới (WTO). Hiện tại, các DNNVV khởi sự
kinh doanh dễ dàng hơn nhiều so với những năm trước đây, giảm đáng kể về thời gian và
chi phí liên quan để thành lập doanh nghiệp. Nghị định số 43/2010/NĐ-CP ngày 15/4/2010
của Chính phủ về đăng ký doanh nghiệp đã tạo bước thuận lợi rất đáng kể cho quá trình
đăng ký thành lập doanh nghiệp, theo đó người kinh doanh chỉ mất 05 ngày làm việc để
nhận được giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh. Người thành lập doanh nghiệp có thể đăng
ký thành lập doanh nghiệp tại Phòng đăng ký kinh doanh địa phương hoặc qua mạng điện tử
của Hệ thống đăng ký doanh nghiệp quốc gia. Các doanh nghiệp đủ điều kiện sẽ được tự in
theo đó kể từ năm 2011, kế hoạch trợ giúp đào tạo nguồn nhân lực cho các DNNVV được
xây dựng và tổng hợp trong Kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội hàng năm và 5 năm của các
Bộ, ngành, địa phương. Chính sách hỗ trợ đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho các
DNNVV thực hiện theo nguyên tắc xã hội hóa: ngân sách nhà nước hỗ trợ một phần kinh
phí và các DNNVV, cá nhân tham gia đào tạo đóng góp một phần kinh phí. Vì vậy, tạo điều
kiện thuận lợi cho các DNNVV, cá nhân có nhu cầu tiếp cận tham gia chương trình đào tạo,
bồi dưỡng nguồn nhân lực cho các DNNVV.
Theo đánh giá chung, trong thời gian qua, các DNNVV tiếp cận các khóa đào tạo
nguồn nhân lực dành cho DNNVV tương đối dễ dàng và thuận lợi. Theo báo cáo khảo sát
2.200 doanh nghiệp năm 2010 (Báo cáo khảo sát DNNVV tại 3 tỉnh thí điểm (Hà Nội, Bình
Thuận và Cần Thơ) do JICA và Cục Phát triển doanh nghiệp, Bộ KH & ĐT phối hợp thực
hiện, tháng 7/2010) từ năm 2006, số người được các doanh nghiệp cử tham gia các khóa đào
tạo bồi dưỡng kiến thức kinh doanh do các cơ quan Nhà nước tổ chức chiếm tỷ lệ 61,5%
tổng số lượt người được đào tạo. Nhìn chung, các khóa học này được các doanh nghiệp
đánh giá khá tốt cả về mặt tổ chức và nội dung.
− Mặt hạn chế:
Các chương trình hỗ trợ đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho các DNNVV thực
hiện theo nguyên tắc: ngân sách nhà nước hỗ trợ một phần kinh phí và các DNNVV, cá
nhân tham gia đào tạo đóng góp một phần kinh phí đôi khi cũng cản trợ các DNNVV tham
Trang | 22
gia chương trình hỗ trợ đào tạo vì tiết kiệm chi phí, và các chương trình này thường tổ chức
ở các vùng kinh tế tương đối phát triển ( thành thị, trung tâm ) đồng thời về số lượng vẫn
chưa đáp ứng đủ nhu cầu.
2. Chương trình xúc tiến thương mại quốc gia
− Kết quả thực hiện được:
Với Chương trình này, các hoạt động xúc tiến thương mại được định hướng, có trọng
tâm về ngành hàng và thị trường, đồng thời cơ bản khắc phục được tình trạng tổ chức các
hoạt động xúc tiến thương mại mang tính tự phát trong cộng đồng doanh nghiệp. Chính sách
hỗ trợ của Nhà nước thông qua các Chương trình hàng năm đã góp phần tạo lập vị thế, vai
trò cho các hiệp hội ngành hàng, huy động được các nguồn lực tham gia vào hoạt động xúc
− Kết quả thực hiện được:
Trong thời gian qua, một số chính sách, chương trình hỗ trợ doanh nghiệp nâng cao
năng lực về kỹ thuật và công nghệ đã được ban hành, điển hình là một số chính sách và cơ
Trang | 23
chế tài chính khuyến khích doanh nghiệp đầu tư vào hoạt động khoa học và công nghệ
(Nghị định số 119/1999/NĐ-CP ngày 18/9/1999 của Chính phủ); Luật chất lượng sản phẩm,
hàng hoá (Luật số 05/2007/QH12 ngày 21/11/2007); Chương trình hỗ trợ phát triển tài sản
trí tuệ của doanh nghiệp (Quyết định số 68/2005/QĐ-TTg ngày 04/4/2005 của Thủ tướng
Chính phủ); Chương trình quốc gia “Nâng cao năng suất và chất lượng sản phẩm, hàng hóa
của doanh nghiệp Việt Nam đến năm 2020” (Quyết định số 712/QĐ-TTg ngày 21/5/2010
của Thủ tướng Chính phủ).v.v… Tuy các chính sách, chương trình hỗ trợ doanh nghiệp về
kỹ thuật, công nghệ tương đối đầy đủ, nhưng kết quả thực hiện chưa được như mong muốn.
Việc triển khai Nghị định số 119/1999/NĐ-CP trong giai đoạn 2002-2007, Bộ Khoa học và
Công nghệ nhận được hơn 500 đề xuất từ doanh nghiệp, trong đó các doanh nghiệp ngoài
quốc doanh chiếm 35% năm 2002 và tăng lên 59% năm 2007. Giai đoạn này, Bộ Khoa học
và Công nghệ đã phê duyệt hỗ trợ cho 111 doanh nghiệp. Theo khảo sát của JICA nói trên,
thời gian qua đã có 1.532 doanh nghiệp (chiếm 69,63%) đã thực hiện các hoạt động liên
quan đến đổi mới công nghệ như đánh giá, lựa chọn, mua sắm mới, triển khai đề tài nghiên
cứu, đăng ký bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp.v.v
Hàng năm, các hoạt động trung gian, xúc tiến giao dịch công nghệ cho doanh nghiệp
như các chợ công nghệ và thiết bị diễn ra tương đối sôi nổi. Trong giai đoạn 2006-2008, Bộ
Khoa học và Công nghệ đã tổ chức được 18 chợ công nghệ và thiết bị với giá trị giao dịch
đạt khoảng 2,6 nghìn tỷ đồng. Theo số liệu của Bộ Công thương, hai năm 2008 và 2009 đã
có 1.357 hội chợ và triển lãm sản phẩm và công nghệ diễn ra trên cả nước
− Mặt hạn chế:
Tuy nhiên, trong số các doanh nghiệp có thực hiện các hoạt động liên quan đến đổi
mới công nghệ, số doanh nghiệp khảo sát nhận được hỗ trợ là không nhiều, khoảng 102
doanh nghiệp (chiếm 4,64%).
Hầu hết các hội chợ và triển lãm sản phẩm và công nghệ này không thống kê được giá
trị mua bán và giao dịch các sản phẩm và công nghệ của các doanh nghiệp (bao gồm cả
gia đình kinh doanh cá thể theo quy định của pháp luật; các chủ trang trại, các hộ nông dân,
ngư dân.v.v… thực hiện dự án nuôi thủy sản, đánh bắt xa bờ, trồng cây công nghiệp, chăn
nuôi.v.v…
Điều kiện được bảo lãnh tín dụng: (i) Có dự án đầu tư, phương án sản xuất kinh doanh
khả thi, có khả năng hoàn trả vốn vay; (ii) Có tổng giá trị tài sản thế chấp, cầm cố tại tổ
chức tín dụng theo quy định của pháp luật tối thiểu bằng 30% giá trị khoản vay; (iii) Không
có các khoản nợ đọng thuế, nợ quá hạn tại các tổ chức tín dụng hoặc tổ chức kinh tế khác.
Hiện nay, Việt Nam đã thành lập một số quỹ nhằm mục đích hỗ trợ cho các doanh
nghiệp hoặc có mục đích tương tự như các quỹ bảo lãnh tín dụng cho DNNVV, hỗ trợ phát
triển khoa học và công nghệ, hỗ trợ xúc tiến đầu tư, hỗ trợ phát triển hợp tác xã, hỗ trợ đầu
tư phát triển.v.v…
Bộ máy quản lý và điều hành của Quỹ bảo lãnh tín dụng gồm có Hội đồng quản lý,
Ban kiểm soát và Ban điều hành (Giám đốc, các Phó Giám đốc và một số cán bộ chuyên
môn giúp việc)
− Kết quả thực hiện:
Một số doanh nghiệp tiếp cận được với quỹ bảo lãnh tín dụng vay được vốn ngân
hàng với lãi suất bằng lãi suất ngân hàng cho vay cộng với phí bảo lãnh tín dụng ( 0.5%-
0.8%).
Đối với các doanh nghiệp tiếp cận được với quỹ bảo lãnh tín dụng, ngoài việc được
bảo lãnh vay vốn còn được cán bộ tín dụng tư vấn để hoàn chỉnh việc quản lý đáp ứng
yêu cầu cho vay vốn của ngân hàng.
Tỷ lệ doanh nghiệp nhỏ được quỹ bảo lãnh tín dụng cấp bảo lãnh chỉ khoảng 1% và
chỉ có 18,5% doanh nghiệp thực hiện thanh toán quốc tế, khoảng 20 % doanh nghiệp tiếp
cận được vốn tín dụng
− Mặt hạn chế:
Các hạn chế trong chương trình trợ giúp doanh nghiệp nhỏ và vừa qua hoạt động của
quỹ bảo lãnh tín dụng:
Về số lượng quỹ bảo lãnh tín dụng thành lập và hoạt động: vì vốn điều lệ của quỹ bảo
lãnh tín dụng gồm vốn ngân sách Vốn cấp của ngân sách tỉnh, thành phố trực thuộc Trung
Trang | 25