Thúc đẩy xuất khẩu thủy sản vào thị trường châu âu - Pdf 23

LỜI MỞ ĐẦU
Trong quá trình phát triển của nền kinh tế Việt Nam thì xuất khẩu đóng góp
một vai trò không nhỏ. Xuất khẩu giúp tăng thu ngoại tệ tạo cơ sở nhập khẩu
máy móc thiết bị hiện đại phục vụ cho quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá.
Bên cạnh đó xuất khẩu còn góp phần giải quyết các vấn đề còn nhiều bất cập ở
Việt Nam như việc giải quyết vấn đề việc làm, chuyển dịch cơ cấu ngành nghề
vùng kinh tế cũng như góp phần mở rộng quan hệ với các nước trên thế giới.
Trong đó xuất khẩu thủy sản luôn là một trong những mặt hàng có kim ngạch
xuất khẩu cao nhất của nước ta bởi lẽ nước ta được thiên nhiên ban tặng cho
những lợi thếa mà không phải nước nào cũng có được như đường bờ biển dài
hàng ngàn kilomet, hệ thống sông ngòi kênh rạch chằng chịt rất thuận lợi cho
việc khai thác và nuôi trồng thủy sản.
Trong số các thị trường xuất khẩu thủy sản chủ yếu của Việt Nam thì thị
trường châu âu đóng một vai trò quan trọng. Trong suốt nhiều năm liền thị
trường này (cùng thị trường Mỹ và Nhật Bản) là một trong ba thị trường xuất
khẩu thủy sản lớn nhất của Việt Nam nhưng xét cả về khối lượng và giá trị xuất
khẩu thủy sản của Việt Nam sang thị trường này đều chưa thể hiện hết được nhu
cầu của thị trường đầy tiềm năng này.
Do đó tôi quyết định chọn đề tài
“Thúc đẩy xuất khẩu thủy sản vào thị trường châu âu”
để có thể hiểu rõ hơn những lý do khiến thủy sản của nước ta trong nhiều năm
qua luôn gặp khó khăn khi xâm nhập thị trường này dù tiềm lực thủy sản của
thủy sản là rất lớn. Đề tài này gồm cho 3 phần chính:
+) Chương 1: Lý luận chung về thúc đẩy xuất khẩu thủy sản
sang thị trường châu âu
+) Chương 2: Thực trạng xuất khẩu thủy sản sang thị trường
châu âu
+) Chương 3: Biện pháp thúc đẩy xuất khẩu thủy sản sang thị
1
trường châu âu
Cuối cùng tôi xin chân thành cảm ơn GS.TS Hoàng Đức Thân và thư viện

không chỉ bó hẹp ở thị trường trong nước, điều đó sẽ góp phần ổn định sản xuất
các mặt hàng thủy sản ở trong nước, cũng như mở ra các cơ hội mới cho ngành
thủy sản có thể mở rộng về quy mô sản xuất.
+) Góp phần thu hút vốn đầu tư từ nước ngoài đó là điều kiện thuận lợi
để thực hiện hiện đại hoá nền kinh tế trong nước và mở rộng quy mô, nâng cao
chất lượng của các sản phẩm chế biến từ thủy sản.
Ngoài ra xuất khẩu thủy sản còn góp phần giải quyết vấn đề cấp bách đối
với một đất nước đang tiến hành thực hiện công nghiệp hoá, hiện đại hoá đó là
vấn đề việc làm cho người dân.Việc tiến hành hoạt động xuất khẩu thủy sản sẽ
tạo ra nhiều cơ hội tìm kiếm việc làm cho người dân bởi lẽ các hoạt động liên
quan đến xuất khẩu thủy sản như nuôi trồng thủy sản, khai thác chế biến thủy
sản đồi hỏi một lượng lao động tương đối lớn. Bên cạnh đó các hoạt động khác
như dịch vụ hậu cần trong ngành thủy sản cũng thu hút được một lượng lao
động khá lớn. Chính vì vậy xuất khẩu thủy sản đã góp phần ổn định đời sống
người lao động của nước ta thông qua đó góp phần ổn định kinh tế chính trị tạo
điều kiện phát triển kinh tế xã hội ở nước ta.
Cuối cùng, xuất khẩu là cơ sở để mở rộng giao lưu, quan hệ với các quốc
gia khác trên thế giới. Thông qua xuất khẩu nói chgung và xuất khẩu thủy sản
nói riêng, chúng ta đã ký kết nhiều hoạt động quan hệ quốc tế, cũng như phần
nào giới thiệu được những nét văn hoá đặc trưng cũng như con người Việt Nam
với bạn bè thế giới. Từ đó tạo điều kiện cho việc các quốc gia tiến đến ký kết
các hoạt động giao lưu văn hoá, cũng như thu hút các du khách nước ngoài đến
tham quan và tìm hiểu về con người Việt Nam.
1.2 Đặc điểm của thị trường châu âu
1.2.1 Giới thiệu khái quát về kinh tế, xã hội các nước châu âu
*) Đối với khu vực EU, kinh tế trong thời gian qua vẫn duy trì với tốc độ
tăng trưởng cao. Tốc độ tăng trưởng GDP năm 1996 là 1,6%, năm 1997 là
2,5%, năm 1999 là 2%. Năm 2000, GDP của EU tăng 2,6% đạt 9785 tỷ USD,
4
lớn hơn Mỹ 13%, Nhật 38% (trong đó các thị trường chính như Anh, Pháp, Đức,

Nguồn: Tạp chí nghiên cứu châu âu
Ghi chú: (*) mức dự báo
Bên cạnh đó các vấn đề xã hội của khu vực EU đã được giải quyết tốt.
Tỷ lệ thất nghiệp đã giảm xuống trên toàn châu âu nhờ những thành tựu kinh tế
5
mà khu vực này đạt được: từ 11% dân số thất nghiệp năm 1995 đến năm 1998 tỷ
lệ này giảm còn 10,2%, đến năm 2000 xuống còn 9%.Và thời gian gần đây, nhờ
các tác động của sự phát triển kinh tế dự kiến số việc làm mới được tạo trong
giai đoạn 2007-2009 sẽ là 8 triệu việc làm, điều này sẽ giúp cho tỷ lệ thất nghiệp
của năm 2009 giảm còn 6,6%. Bên cạnh đó EU còn quan tâm hơn đến sức khoẻ
của người dân thông qua việc phát triển các nguồn thực phẩm phục vụ hàng
ngày cũng như tăng cường chất lượng và tiện ích của các dịch vụ trong đời sống
như tiến hành hạ cước phí điện thoại di động khi thực hiện các cuộc gọi giữa các
nước là thành viên EU, cũng như được quyền lựa chọn nhà cung cấp điện và khí
đốt cho mình. Cũng trong thời gian này Eu cũng rất chú ý đến các dịch vụ đi lại
tiện ích cũng như bảo vệ lợi ích của người tiêu dùng như sự kiện Microsoft bị
thua kiện do sử dụng vị thế độc quyền của mình để giới hạn việc chuyển dữ liệu
với các hệ điều hành qua đó giới hạn khả năng lựa chọn của người dân.
*) Đối với khu vực SNG
Trong những năm đầu thập niên 90, kinh tế của khu vực này liên tục rơi
vào suy thoái giảm sút. So với những năm trước đó, GDP năm 1992 giảm
khoảng 14%, năm 1995 GDP giảm 5,3% trong đó ngay cả những nước được coi
là phát triển nhất của khu vực mhư Nga, Ukraine cũng liên tục sụt giảm kinh tế.
Năm 1992, GDP của Nga giảm 14,5%, của Ukraine giảm 9,9% đến năm 1995
con số này của Nga là giảm 4,1%, của Ukraine là giảm 12,9%. Cũng trong giai
đoạn này mức lạm phát của khu vực luôn ở mức hai con số. Tuy nhiên trong
thời gian từ năm 2000 trở lại đây, kinh tế của khu vực này đã có nhiều khởi sắc.
Mức tăng trưởng kinh tế của khu vực luôn ở mức khá cao như năm 2000 GDP
của khu vực tăng 8,3%, năm 2003 con số này là 7,8% và năm 2005 con số này
là 6,8%. Tuy nhiên mức độ lạm phát của dù đã giảm nhưng vẫn ở mức cao trên

Hiện nay mặt hàng thủy sản xuất khẩu vào thị trường châu âu đang bị hàng rào
kỹ thuật khống chế rất khắt khe. Đặc biệt người tiêu dùng châu âu thích tiêu
dùng các nhãn hiệu nổi tiếng, có chất lượng dù giá có đắt hơn so với các sản
phẩm khác cùng loại nhưng không có thương hiệu, không đảm bảo chất lượng.
7
Với thị trường SNG, nhìn chung thị hiếu người tiêu dùng được chia làm
hai loại. Loại một là những người có thu nhập cao thì họ có xu hướng giống với
người tiêu dùng ở thị trường EU là hàng phải có uy tín chất lượng cao, nguồn
gốc xuất xứ rõ ràng dù giá có cao cũng được. Loại hai là những người có thu
nhập thấp thì họ chỉ mua hàng rẻ tiền, chất lượng chấp nhận được. Do đó hành
thủy sản của Việt Nam khi xâm nhập thị trường này cần xác định rõ đối tượng
khách hàng của mình là ai để có thể đáp ứng nhu cầu của họ.
*) Về kênh phân phối của thị trường châu âu
Hiện nay, hệ thống các kênh phân phối của châu âu được xem là một
trong những hệ thống phức tạp nhất trên thế giới hiện nay. Chúng bao gồm
nhiều thành phần khác nhau trong đó nổi bật là các công ty xuyên quốc gia. Các
công ty này tổ chức mạng lưới tiêu thụ từ khâu mua hàng cho đến khâu phân
phối hàng cho các mạng lưới bán lẻ do đó họ luôn có mối quan hệ vô cùng chặt
chẽ với các nhà thầu nước ngoài. Với các công ty xuyên quốc gia này, hệ thống
phân phối của EU hình thành một mạng lưới rất chặt chẽ. Hai hình thức phổ
biến nhất của các kênh phân phối bao gồm theo tập đoàn và không theo tập
đoàn. Theo hình thức phân phối theo tập đoàn, các nhà sản xuất của tập đoàn chỉ
cung cấp hàng cho các hệ thống cửa hàng, siêu thị của tập đoàn mà không cung
cấp cho các nhà bán lẻ bên ngoài. Còn hình thức không theo tập đoàn thì nhà sản
xuất hay nhập khẩu có thể cung cấp hàng cùng lúc cho nhiều hệ thống bán lẻ
trên thị trường
Bên cạnh các công ty bán lẻ và các siêu thị ở thị trường châu âu thường
không mua hàng trực tiếp từ các đầu mối nước ngoài mà thông qua các trung
tâm thu mua lớn ở châu âu. Nhờ đó mà đảm bảo cho việc cung cấp nguồn hàng
luôn ổn định và đảm bảo về mặt chất lượng. Hình thức phân phối của thị trường

STT Trung tâm Nước Doanh số
(tỷ Franc)
1 Bigr Đức 280
2 Eurogroup Đức 240
3 Cem Bỉ 240
4 Deurobuying Thụy Sĩ 310
5 Naf Đan Mạch 240
9
trên các nguyên tắc tự nguyện, không đòi hỏi có đi có lại và đơn phương quyết
định. EU chia sản phẩm dược hưởng GSP thành 4 nhóm chính trong đó các sản
phẩm bán nhạy cảm bao gồm các mặt hàng như thủy sản đông lạnh, hàng công
nghiệp dân dụng được hưởng mức thuế GSP bằng 35% mước thuế suất thông
thường. Đây là mặt hàng được khuyến khích nhập khẩu.
Trong tương lai thì hàng nhập khẩu của các nước đang phát triển sẽ
không được hưởng GSP nữa khi đó sẽ tạo ra nhiều khó khăn và thách thức đối
với các nước này.
+) Ngoài ra EU còn áp dụng chính sách chống bán phá giá với các hàng
hoá vào thị trường EU. Từ khi gia nhập WTO thì EU chỉ được áp dụng chính
sách chống bán phá giá trong trường hợp các ngành của EU bị ảnh hưởng do các
hàng nhạp khẩu bán phá giá. Đến năm 1996 thì quy chế áp dụng chính sách
chống bán phá giá chỉ được áp dụng trong các trường hợp:
-) giá xuất khẩu của sản phẩm bán trên thị trường EU thấp hơn giá bán
các sản phẩm đó ở thị trường nước xuất khẩu.
-) hàng xuất khẩu của nước xuất khẩu có thể gây ra tổn thất cho các
ngành kinh doanh ở EU.
-) chi phí mà EU bỏ ra thực hiện các biện pháp không được tỷ lệ nghịch
với lợi ích thu được.
+) Quyền lợi của người tiêu dùng EU phải luôn được bảo vệ do đó EU đã
đề ra các biện pháp bảo vệ quyền lợi cho người tiêu dùng của mình. Khác với
trước đây, ngày nay EU đã tiến hành kiểm tra các sản phẩm buônlưu thông trên

một nước không có nền kinh tế thị trường do đó hàng hoá của Việt Nam luôn bị
đối xử phân biệt gây bất lợi cho các mặt hàng của Việt Nam. Mãi cho tới
14/05/2000 thì EU mới chính thức coi Việt Nam là một nước áp dụng kinh tế thị
trường thì hàng hoá của Việt Nam mới được đối xử công bằng như các nước
khác.
Với thị trường SNG, trong những năm gần đây các nước của khu vực này
đã thông qua nhiều văn bản luật điều chỉnh hoạt động kinh doanh , thương mại
11
thuế tạo điều kiện cho hàng hoá các nước xâm nhập thị trường này. Và với Việt
Nam, dù đã có nhiều động thái tích cực song lượng hàng xuất khẩu của Việt
Nam sang khu vực này vẫn rất hạn chế (bao gồm cả thủy sản).
1.3 Các nhân tố ảnh hưởng tới xuất khẩu thuỷ sản
1.3.1 Các nhân tố bên trong
+) Nguồn lực con người
Từ xưa đến nay con người luôn có một vai trò vô cùng quan trọng trong
mọi hoạt động của đời sống. Ngày nay khi máy móc, thiết bị hiện đại phát triển
thì vai trò của con người ngày càng quan trọng hơn. Máy móc phải có con người
diều khiển mới có thể vận hành tốt, làm ra những sản phẩm, hàng hoá có ích.
Một doanh nghiệp muốn phát triển phải có người lãnh đạo, đề ra các mục tiêu
chiến lược, các định hướng để đạt được các mục tiêu đó. Cũng cần có con
người, đặc biệt là những người có trình độ cao để tiếp nhận các thông tin, từ đó
tiến đến xử lý các thông tin rồi ra các quyết định cho phù hợp. Bởi vậy nguồn
lực con người có tính quyết định tới sự thành công hay thất bại của một dự án,
công trình. Trong ngành xuất khẩu thuỷ sản cũng vậy, nếu những người lãnh đạo
không có năng lực không đề ra được các chiến lược phương hướng đúng đắn,
công nhân không có tay nghề cao thì sản lượng thuỷ sản xuất khẩu đi sẽ thấp và
ngược lại.
+) Năng lực tài chính
Năng lực tài chính có thể được hiểu là quy mô vốn và khả năng thanh
toán của mỗi doanh nghiệp. Điều đó cho phép doanh nghiệp thường xuyên nâng

+) Về chính trị
Một quốc gia muốn thu hút vốn đầu tư nước ngoài vào để phát triển thị
trường trong nước thì yếu tố đầu tiên phải tính đén đó là chính trị. Không một
nhà đầu tư nước ngoài nào lại đem tiền của mình đầu tư vào một nước có nền
chính trị mất ổn định, đảo chính bạo loạn đánh nhau xảy ra triền miên bởi những
yếu tố đó sẽ gây ra các rủi ro mà họ không lường trước được và khả năng mất
13
trắng là rất lớn. Bởi vậy yếu tố chính trị có tác động rất lớn đến các hoạt động
kinh tế cũn như hoạt động xã hội khác( xuất khẩu thủy sản cũng không nằm
ngoài quy luật đó).
+) Về chính sách pháp luật
Bất kỳ quốc gia nào muốn tồn tại và phát triển đều phải có hệ thống
chính sách và pháp luật đồng nhất. Trong quá trình xuất khẩu và phát triển kinh
tế cũng vậy, chính sách pháp luật có vai trò và ảnh hưởng lớn đến các quyết định
của các nhà đầu tư cũng như các nhà xuất khẩu. Một quốc gia nếu có chính sách
pháp luật thuận lợi, hợp lý sẽ thúc đẩy kinh tế trong nước phát triển nhanh cũng
như thu hút nhiều vốn đầu tư nước ngoài hơn nếu chính sách pháp luật không
hợp lý gây khó khăn cản trở cho các hoạt động giao lưu trao đổi mua bán. Đối
với hoạt động xuất khẩu thủy sản thì chính sách này càng có ý nghĩa quan trọng.
Các đơn vị xuất khẩu phải tìm hiểu rõ các chính sách pháp luật của thị trường
mình định xuất khẩu sang tránh các trường hợp vi phạm có thể dẫn tới bị phạt
gây ảnh hưởng đến số lượng và kim ngạch xuất khẩu.
+) Về cạnh tranh
Một thị trường nếu có nhiều nhà cung cấp cùng cạnh tranh với nhau thì
thị trường đó sẽ không còn hấp dẫn đối với các nhà đầu tư cung cấp mới. Thực
chất khi một thị trường có quá nhiều đói thủ cạnh tranh thì việc các đói thủ
không có đủ tiềm lực năng lực bị loại khỏi cuộc đua là điều dễ hiểu. Bên cạnh
đó co nhiều đói thủ thì lợi nhuận kỳ vọng sẽ bị giảm chưa kể đến những kẻ đến
sau sẽ rất khó chiếm được thị trường do những kẻ đến trước đã giành được. Mà
các doanh nghiệp của Việt Nam thì tiềm lực có hạn, chất lượng sản phẩm dù đã

động xúc tiến thương mại, mở rộng thị trường xuất khẩu, đáp ứng các quy định
về chất lượng, vệ sinh an toàn thực phẩm nhờ đó có thể xâm nhập vào các thị
trường lớn. Nhờ đó ngành thuỷ sản đã đật được những kết quả rất khả quan
trong những năm qua:
+) Về cơ cấu sản lượng thuỷ sản
15
Năm 1981, tổng sản lượng chỉ đạt có 596356 tấn (trong đó khai thác
đạt 416356 tấn, nuôi trồng chiếm 180000 tấn). Năm 1986, sản lượng tăng lên
840906 tấn (trong đó khai thác chiếm 598040 tấn còn nuôi trồng đạt 242866
tấn). Nhưng đến năm 2000, tổng sản lượng thuỷ sản đã vượt ngưỡng 2 triệu tấn,
năm 2003 tổng sản lượng đạt 2536361 tấn (trong đó khai thác đạt 1426223 tấn,
còn nuôi trồng là 1110138 tấn).Và đến năm 2005 sản lượng đã đạt tới 3432800
tấn (trong đó khai thác là 1995400, nuôi trồng là 1437400 tấn). Đến năm 2007,
tổng sản lượng thuỷ sản đạt 4,5 triệu tấn tăng 11,5% so với năm 2006 ( trong đó
khai thác đạt 2,06 triệu tấn tăng 1,8% so với năm 2006, nuôi trồng đạt 2,1 triệu
tấn tăng 23,1% so với năm 2006).
+) Về diện tích nuôi trồng thuỷ sản
Diện tích nuôi trồng thủy sản cũng tăng liên tục kể từ năm 1981 chỉ
đạt 230000 ha, đến năm 1986 tăng lên 384.6 ha và đến nay thì diện tích nuôi
trồng thủy sản đạt khoảng hơn 1 triệu ha. Như vậy ngành nuôi trồng thủy sản
đang từng bước trở thành một trong những ngành sản xuất chủ lực đông vai trò
vô cùng quan trọng đói với sự phát triển của ngành thuỷ sản nói riêng và các
ngành sản xuất hàng hoá nói chung.
+) Về năng lực tàu thuyền khai thác
Trong ngành khai thác thủy sản, trước đây nước ta chỉ hoạt động với
quy mô nhỏ, khai thác gần bờ thì giờ đây đã phát triển thành đánh bắt xa bờ với
đối tượng là các sản phẩm có giá trị và xuất khẩu. Bên cạnh đó là tiếp tục ổn
định, vừa khai thác vừa bảo vệ đối với nguồn tài nguyên ven bờ, môi trường
sinh thái. Và từ năm 1991 đến nay số thuyền máy tăng nhanh: năm 1991, số
lượng tàu thuyền máy có 44347 chiếc chiếm 59.6% tổng số thuyền đánh bắt; đến

Tổng số
tàu
thuyền
(chiếc)
Diện tích
mặt nước
NTTS (ha)
1990 1.019.000 709.000 310.000 205.000 72.723 491.723
1991 1.062.163 714.253 347.910 262.234 72.043 489.833
1992 1.097.830 746.570 351.260 305.630 83.972 577.538
1993 1.116.169 793.324 368.604 368.435 93.147 600.000
1994 1.211.496 878.474 333.022 458.200 93.672 576.000
1995 1.344.140 928.860 415.280 550.100 95.700 581.000
1996 1.373.500 962.500 411.000 670.000 97.700 585.000
1997 1.570.000 1.062.000 481.000 776.000 71.500 600.000
1998 1.668.530 1.130.660 537.870 858.600 71.799 626.330
1999 1.827.310 1.212.800 614.510 971.120 73.397 630.000
2000

2.003.000 1.280.590 723.110 1.478.609 79.768 652.000
2001

2.226.900 1.347.800 879.100 1.777.485 78.978 887.500
2002 2.410.900 1.434.800 976.100 2.014.000 81.800 955.000
2003 2.536.361 1.426.223 1.110.138 2.199.577 83.122 902.229
17
2004 3.073.600 1.923.500 1.150.100 2.400.781 85.430 902.900
2005 3.432.800 1.995.400 1.437.400 2.738.726 90.880 959.900
2006 3.695.927 2.001.656 1.694.271 3.357.960
Chưa xác
Bảng 5: Kim ngạch xuất khẩu thủy sản của Việt Nam
Năm

Sản lượng xuất
khẩu thủy sản
(1000 tấn)
Kim ngạch xuất
khẩu thủy sản
(triệu USD)
Tỷ lệ tăng trưởng
về kim ngạch so
với năm trước
(%)
1996 150,52
670.000
-
1997 206,39
776.000
15,82
1998 200,55
858.600
10,64
1999 229,96
971.120
13,1
2000 291,92
1.478.609
52,26

xuất khẩu thì đến giai đoạn hiện nay mặc dù xuất khẩu tôm vẫn chiếm tỷ trọng
lớn nhất nhưng đã có những thay đổi đáng kể. Năm 2001, tỷ trọng tôm trong
kim ngạch xuất khẩu thủy sản là 43,8%, năm 2003 là 48,1% thì đến năm 2005
con số này là 49,7% và năm 2006 là 39,8%.
Mặt hàng có kim ngạch xuất khẩu lớn thứ hai là cá. Năm 1986, xuất
khẩu cá đóng góp vào kim ngạch xuất khẩu gần như là con số không. Nhưng
những năm gần đây thì sản lượng cá xuất khẩu tăng khá mạnh và tỷ trọng đóng
góp vào tổng kim ngạch xuất khẩu là khá lớn. Năm 1998 là 11,4%, năm 2002 là
21,7%, năm 2004 là 22,8%, năm 2005 là 20,27%. Riêng việc xuất khẩu cá tra,
cá basa đang có xu hướng phát triển mạnh.
Tiếp theo là mực và bạch tuộc. Sản lượng khai thác ở mức thấp. Trong
năm 2005 đạt kim ngạch xuất khẩu là 182253 triệu USD chiếm khoảng 7% tổng
giá trị kim ngạch xuất khẩu thủy sản.
Tiếp theo là các mặt hàng khô ( như mực khô, tôm khô, cá khô) chiếm
khoảng 5% trong tổng kim ngạch xuất khẩu năm 2005 và đến năm 2006 con số
này là 5,2 %. Như vậy mặt hàng này có tốc độ phát triển chậm dần và có xu
hướng giảm trong những năm sắp tới.
Bảng 6: Giá trị xuất khẩu của các mặt hàng thủy sản chính

20
Mặt hàng 2001 2002 2003 2004 2005 2006
Tôm 761,5 966,7 1058 1261 1371,556 1460,59
Cá 310,1 462,8 466,5 552,4 687,659 1145,09
Mực và bạch
tuộc
118,4 142,8 113,9 162,5 182,253 222,19
Hàng khô 188,5 138,3 73,7 101,9 130,354 142,2
Thủy sản khác 379 312,2 504,4 323 367,178 378,23
Nguồn: Tạp chí thương mại thủy sản VASEP- Bộ thủy sản
*) Cơ cấu về thị trường xuất khẩu thủy sản

441,371591 triệu USD đứng chiếm 16,13% tổng kim ngạch xuất khẩu. Đến năm
2006 con số này đã đạt tới 723,504870 triệu USD chiếm 21,54% và vươn lên
đứng thứ hai trong số các thị trường xuất khẩu lớn nhất của thủy sản Việt Nam
(sauu Nhật Bản). Nhưng theo dự báo trong những năm tới EU sẽ trở thành thị
trường xuất khẩu lớn nhất của thủy sản Việt Nam do EU vẫn tiếp tục được mở
rộng, tiếp nạp nhiều thành viên mới do đó những con số như hiện nay chưa phản
ánh hết nhu cầu của khu vực này.
Bảng 7: Các thị trường xuất khẩu của thủy sản Việt Nam
Thị
trường
2005

2006 8 tháng đầu
2007
Số lượng
(tấn)
Giá trị
(USD)
Số lượng
(tấn)
Giá trị
(USD)
Số lượng
(tấn)
Giá trị
(USD)
Nhật
Bản
129284,
6

41358921
7
Châu Á
(trừ
Nhật,
166771,
3
44238245
1
176160,
6
49379868
0
111860,
5
34063190
7
22
ASEA
N)
Châu
Âu (trừ
EU)
18554,
7
6044629
0
73921 17420854
7
46181,

8604365
8
Châu
Đại
Dương

23185,
7
10235284
4

25849,
6
13358340
6

13146,
8

6882019
1
Châu
Phi
1653,
7
437345
7
3941,
7
922072

triệu USD và đến năm 2007 thì kim ngạch xuất khẩu thủy sản của Việt Nam vào
thị trường EU đạt 920 triệu USD tăng 27% so với năm 2006 (đứng thứ hai thế
giới sau Mỹ 1,1 tỷ USD). Thủy sản cũng là mặt hàng xuất khẩu nhiều thứ tư của
Việt Nam vào thị trường EU. Tuy có những bước phát triển nhanh chóng như
vậy song cho đến nay thì tỷ trọng thủy sản xuất khẩu vào EU của Việt Nam chỉ
chiếm có 0,3 - 0,4% giá trị xuất khẩu thủy sản sang thị trường này.

Bảng 8: Kim ngạch xuất khẩu thủy sản Việt Nam sang thị trường EU

Năm 2000 2001 2002 2003

2004 2005 2006
Kim ngạch
(tr USD)
71,8 90,7 73,7 116,7 231,5 441,37 723,50
Khối
lượng
(tấn)
20290,8 26659,1 28612,8 38186,8 73459,2 123350,2 219967
Nguồn: Trung tâm tin học-bộ thủy sản
24
Sản phẩm thủy sản xuất khẩu chủ yếu của Việt Nam bao gồm cá, tôm, cá
ngừ, bạch tuộc, mực và đồ hộp. Mặt hàng thủy sản đầu tiên là tôm đông lạnh.
Kim ngạch xuất khẩu tôm đông lạnh của Việt Nam sang thị trường EU năm
2000 đạt 38,6 triệu USD, năm 2001 là 43,6 triệu USD nhưng đến năm 2002 kim
ngạch chỉ còn 15,7 triệu USD. Nguyên nhân chủ yếu là do EU thự hiện chính
sách bảo đảm an toàn cho người tiêu dùng quy định dư lượng kháng sinh bằng
không hay chính xác là dưới 0,3 phần tỷ. Đây có thể coi là một yêu sách vô lý
của EU. Thời gian tiếp theo thì xuất khẩu tôm đã có dấu hiệu tăng trưởng trở lại.
Năm 2003 Việt Nam đã xuất khẩu sang EU khoảng 5316 tấn tôm tăng 28% so


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status