1 số giải pháp nhằm thúc đẩy xuất khẩu thuỷ sản vào thị trường EU - Pdf 60

ĐỀ ÁN MÔN HỌC
LỜI NÓI ĐẦU
Đất nước ta được thiên nhiên ưu đãi có một mạng lưới sông ngòi dày
đặc và một bờ biển dài với những loài thuỷ sản phong phú và có giá trị cao.
Chính vì vậy mà ngành thuỷ sản xuất khẩu của nước ta rất phát triển, mỗi
năm đóng góp rất lớn cho nền kinh tế. Do đó, thị trường xuất khẩu là một
vấn đề rất quan trọng, ảnh hưởng rất lớn tới kim ngạch xuất khẩu của ngành.
Trong các thị trường xuất khẩu, EU là một thị trường rất tiềm năng với kim
ngạch xuất khẩu thuỷ sản của Việt Nam hằng năm chỉ đứng thứ hai sau thị
trường Nhật Bản. Nhưng hiện nay, xuất khẩu sang thị trường EU đang gặp
rất nhiều khó khăn do EU là một thị trường khó tính, đòi hỏi cao về chất
lượng, mà vấn đề này đang là một thách thức đối với các doanh nghiệp xuất
khẩu của Việt Nam. Do vậy em đã chọn đề tài “ Một số giải pháp nhằm
thúc đẩy xuất khẩu thuỷ sản vào thị trường EU” làm đề tài cho đề án của
mình.
Đề tài gồm 3 chương:
Chương I: Tổng quan về xuất khẩu thuỷ sản của Việt Nam.
Chương II: Thực trạng xuất khẩu thuỷ sản của Việt Nam sang thị trường EU
Chương III: Một số giải pháp thúc đẩy xuất khẩu thuỷ sản của Việt Nam
sang thị trường EU.
1
ĐỀ ÁN MÔN HỌC
Chương I: TỔNG QUAN VỀ XUẤT KHẨU THUỶ SẢN CỦA
VIỆT NAM
I. Đặc điểm hàng thuỷ sản và xu hướng tiêu dùng của thế giới
1. Đặc điểm hàng thuỷ sản
Thuỷ sản là nguồn thực phẩm quan trọng đối với cuộc sống của chúng
ta bởi hàng thuỷ sản có những đặc điểm sau:
Hàng thuỷ sản được ưa chuộng: Đối với thế giới nói chung và Việt
Nam nói riêng, hàng thuỷ sản là một trong những mặt hàng thực phẩm được
ưa thích tiêu dùng. Ngành thuỷ sản cung cấp những sản phẩm quý cho tiêu

344.7000 km
2
, độ sâu trung bình 1.140 m, và bờ biển dài trên 3.260 km. Mặt
khác ở nước ta có nhiều sông hồ rải rác, vì vậy, nhà nước cần quan tâm đến
việc xây dựng và thực hiện việc quy hoạch phát triển ngành thuỷ sản từ khâu
khai thác, nuôi trồng, khai thác đến việc chế biến và tiêu thụ, kể cả tiêu thụ
trong nước và xuất khẩu.
Sản phẩm thuỷ sản có tính thời vụ: tính thời vụ là đặc trưng của việc
nuôi trồng thuỷ sản, bởi nước ta nằm trong vành đai nhiệt đới Bắc bán cầu
và chịu ảnh hưởng của gió mùa châu Á, nên về mùa đông, nhiệt độ trung
bình tháng lạnh nhất ở Bắc Bộ từ 13 – 17
o
C, ở Nam Bộ nhiệt độ từ 25 –
27
o
C. Ngược lại trong thời kỳ gió mùa xích đạo, nhiệt độ cao và phân bổ
đồng đều trong cả nước. Biên độ nhiệt trong năm chênh lệch nhiều giữa hai
3
ĐỀ ÁN MÔN HỌC
miền Nam - Bắc, ảnh hưởng nhiều đến việc nuôi trồng thuỷ sản và đánh bắt
thuỷ hải sản. Vì thế mùa đông lạnh của miền Bắc không thể nuôi trồng thuỷ
sản nên hàng trái vụ thì giá cao còn hàng chính vụ không tiêu thụ được do
đặc điểm của khâu chế biến thuỷ sản đánh bắt được phải chế biến nhanh.
2. Xu hướng tiêu dùng của thế giới
Thuỷ sản được đánh giá là nguồn thực phẩm quan trọng đối với con
người. Xu hướng tiêu thụ hiện nay là loại thực phẩm không tốn nhiều thời
gian chế biến. Do quá trình công nghiệp hoá - hiện đại hoá con người luôn
tất bật với công việc nên thời gian vào bếp rất ít, cộng với việc thuỷ sản dẽ
bị hư hỏng. Vì vậy xu hướng tiêu dùng hàng thuỷ sản đã chế biến tăng lên,
do vậy ngành công nghiệp chế biến lại có cơ hội phát triển, giải quyết được

2. Cơ cấu thị trường thuỷ sản xuất khẩu
Cơ cấu mặt hàng chế biến thuỷ sản xuất khẩu chủ yếu của Việt Nam
bao gồm:
Cá tươi và đông lạnh: được xuất khẩu sang thị trường chính như:
Hồng Kông, Đài Loan, Nhật Bản… nhưng khối lượng xuất khẩu không lớn.
Cá và tôm là hai mặt hàng có giá trị xuất khẩu lớn nhất bao gồm cá tra, cá ba
sa, cá thu có thị trường chính là Mỹ. cá ngừ chiếm 5% tổng giá trị xuất khẩu.
5
ĐỀ ÁN MÔN HỌC
Tôm đông lạnh: tỷ trọng xuất khẩu tôm của Việt Nam lớn nên nhà
nước cần có biện pháp và phương hướng đối với việc nuôi trồng tôm và các
thuỷ hải sản khác để giảm bớt rủi ro.
6
ĐỀ ÁN MÔN HỌC
Chương II: THỰC TRẠNG XUẤT KHẨU THUỶ SẢN CỦA
VIỆT NAM SANG THỊ TRƯỜNG EU
I. Thị trường thuỷ sản EU
1. Xu hướng tiêu dùng ở EU
Hiện nay EU là thị trường rộng lớn, gồm 27 quốc gia. Thị trường EU
tổng hợp nhiều đặc điểm tiêu dùng của mỗi quốc gia làm cho nhu cầu tiêu
dùng hết sức phong phú mang đặc điểm của từng vùng lãnh thổ.
• Về mặt hàng tiêu thụ
Các sản phẩm chế biến được tiêu thụ phổ biến ở EU gồm các mặt
hàng tươi, cắt khúc, luộc, tẩm bột, đóng hộp hay hun khói. Thị trường EU
chia thành hai khu vực chính: Các nước Tây Bắc Âu và các nước Địa Trung
Hải. Các nước Tây Bắc Âu ưa chuộng các loài nước lạnh (cá trích, cá thu, cá
minh thái, cá bơn, cá hồi). Khu vực Địa Trung Hải ưa chuộng nhuyễn thể
chân đầu, nhuyễn thể hai mảnh vỏ và cá tuyết. Cá ngừ, cá hồi, cá bơn và tôm
là loài thủy sản được ưa chuộng ở khắp châu Âu.
• Về xu hướng tiêu thụ

có giá trị dinh dưỡng cao. Thuỷ sản có hàm lượng prôtêin, các vitamin và
chất khoáng cao thích hợp cho nhu cầu này. Ngoài ra, các sản phẩm thuỷ sản
có chất lượng thường đóng vai trò chống lại các nguy cơ về sức khoẻ. Một
trong những trường hợp rõ nét nhất là dầu cá, được biết đến như axít béo
8
ĐỀ ÁN MÔN HỌC
Ômega - 3 có tác dụng tích cực trong việc phòng tránh các bệnh tim mạch.
Tuy nhiên, thuỷ sản không chỉ hoàn toàn có lợi cho sức khoẻ. Chẳng hạn,
một số cảnh báo chính thức đã được đưa ra cho người tiêu dùng, đặc biệt là
phụ nữ mang thai cần phải hạn chế một số loài thuỷ sản như cá ngừ và cá
kiếm vì hàm lượng thuỷ ngân quá cao. Bên cạnh đó, việc sử dụng các chất
kháng sinh trong nuôi tôm và cá đã dẫn đến hàm lượng các chất này trong
các sản phẩm cao, ảnh hưởng xấu đến hình ảnh của thuỷ sản.
Hướng tới sự thuận tiện: Trong những thập kỷ gần đây, thời gian dành
cho mua sắm và chế biến món ăn đã bị rút ngắn. Vai trò của phụ nữ trong xã
hội ngày càng tăng, nhiều hộ gia đình bận rộn với công việc. Vì vậy, nhu cầu
về các sản phẩm tiêu dùng và dễ chế biến sẵn cũng tăng lên. Với xu hướng
này thì các sản phẩm thuỷ sản dường như phù hợp hơn cả vì chúng được chế
biến dễ dàng và nhanh chóng. Một số dạng sản phẩm thích nghi với xu
hướng này như :
- Phi lê cá: nhiều người tiêu dùng muốn mua sản phẩm làm sẵn.
- Ðóng gói theo khẩu phần ăn: tiện lợi hơn khi chia khẩu phần.
- Ðã qua sơ chế: để giảm thời gian nấu.
- Dễ dàng chế biến và nấu: giảm thời gian nấu.
- Mùi vị trung tính: dễ dàng kết hợp với các món khác.
• Về mức tiêu thụ.
Tiêu thụ thuỷ sản theo đầu người của EU-15 rất cao với 26,3 kg/người
năm 2002, cao hơn 10 kg so với mức trung bình của thế giới (16,3 kg/người)
và cao hơn mức tiêu thụ thuỷ sản bình quân ở Mỹ (21,3 kg /người), Song
tiêu thụ thuỷ sản của các nước trong khối EU rất khác nhau. Các nước vùng

giới, vị thế của các nhà sản xuất thủ công.
Trên thị trường EU hình thành 3 nhóm tiêu dùng chính. Nhóm có khả
năng thanh toán cao chiếm 20% dân số nên xu hướng tiêu dùng của nhóm
này là thích những hàng hoá có chất lượng tốt, hiếm. nhóm có khả năng
thanh toán trung bình chiếm 68% dân số nên xu hướng tiêu dùng những sản
phẩm có chất lượng thấp hơn. Nhóm còn lại có khả năng thanh toán thấp nên
xu hướng tiêu thụ những mặt hàng có chất lượng thấp nhất.
II. Thực trạng xuất khẩu thuỷ sản của Việt Nam vào thị trường EU
1. Thực trạng xuất khẩu thuỷ sản của Việt Nam vào thị trường
EU
Từ năm 1996 – 1999, kim ngạch xuất khẩu thủy sản của Việt Nam
sang EU tăng rất nhanh với tốc độ trung bình hàng năm 54,92%. Theo số
liệu thống kê của EU, năm 1996 kim ngạch nhập khẩu thuỷ sản từ Việt Nam
đạt 26,9 triệu USD, năm 1997 - 65,0 triệu USD, năm 1998 tăng lên 92,5
triệu USD. Theo số liệu thống kê của Trung tâm Tin học Bộ Thuỷ sản, kim
ngạch xuất khẩu thủy sản của Việt Nam sang EU năm 1999 đạt 89,1 triệu.
Trong những năm 2000 – 2002, hoạt động xuất khẩu bị chững lại và có xu
hướng giảm sút, sau khi EU tăng cường kiểm tra dư lượng các chất kháng
sinh và hạ thấp ngưỡng phát hiện dư lượng các chất này trong sản phẩm.
Nhờ những nỗ lực khắc phục của các cơ quan quản lý, nhờ sự nỗ lực cải tiến
và quản lý chất lượng, quy trình và điều kiện sản xuất thuỷ sản của các
doanh nghiệp và nông ngư dân Việt Nam, từ năm 2003, kim ngạch xuất
khẩu thủy sản của Việt Nam đã tăng trưởng nhanh chóng trở lại. Năm 2003,
11
ĐỀ ÁN MÔN HỌC
kim ngạch xuất khẩu thuỷ sản Việt Nam sang EU đạt 116, 7 triệu đôla, năm
2004 - 231,5 triệu đôla, năm 2005 - 367,3 triệu đôla. Hàng thủy sản hiện là
mặt hàng có kim ngạch đứng thứ tư trong số các mặt hàng Việt Nam xuất
khẩu vào thị trường EU. Tuy nhiên, cho đến nay, tỷ trọng nhập khẩu thủy
sản từ Việt Nam hàng năm chỉ bằng 0,3-0,4% trị giá nhập khẩu thủy sản của

với cùng kỳ năm 2006, chiếm 7,8% về lượng và 17,68% về kim ngạch. Mực
đông lạnh chiếm 6,93% về lượng và 7,36% về kim ngạch, nghêu đông lạnh
chiếm 3,04% về lượng và 2,03% về kim ngạch. Sau đó là bạch tuộc đông
lạnh, chả cá, cá đóng hộp… là những mặt hàng xuất khẩu lớn nhất của Việt
Nam tới EU 10 tháng qua.
Khối lượng xuất khẩu thuỷ sản của Việt Nam tới EU trong năm 2007
đạt 274,7 nghìn tấn với kim ngạch đạt 912,24 triệu USD, tăng 26,53% về
lượng và 27,88% về kim ngạch so với năm 2006.
EU đang là khu vực nhập khẩu thuỷ sản lớn nhất của thế giới, năm
2006 EU (25 quốc gia) nhập khẩu khoảng 38,9 tỉ USD, tăng 10,7% so với
năm 2005. Ba nhà cung cấp thuỷ sản lớn nhất của thị trường EU hiện nay là
13

Trích đoạn Một số kiến nghị để nâng cao hiệu quả xuất khẩu thuỷ sản trong thời gian tớ
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status