Thúc đẩy xuất khẩu thủy sản vào thị trường châu âu - Pdf 10

LỜI MỞ ĐẦU
Trong quá trình phát triển của nền kinh tế Việt Nam thì xuất khẩu đóng góp một
vai trò không nhỏ. Xuất khẩu giúp tăng thu ngoại tệ tạo cơ sở nhập khẩu máy móc
thiết bị hiện đại phục vụ cho quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá. Bên cạnh đó
xuất khẩu còn góp phần giải quyết các vấn đề còn nhiều bất cập ở Việt Nam như việc
giải quyết vấn đề việc làm, chuyển dịch cơ cấu ngành nghề vùng kinh tế cũng như
góp phần mở rộng quan hệ với các nước trên thế giới. Trong đó xuất khẩu thủy sản
luôn là một trong những mặt hàng có kim ngạch xuất khẩu cao nhất của nước ta bởi
lẽ nước ta được thiên nhiên ban tặng cho những lợi thếa mà không phải nước nào
cũng có được như đường bờ biển dài hàng ngàn kilomet, hệ thống sông ngòi kênh
rạch chằng chịt rất thuận lợi cho việc khai thác và nuôi trồng thủy sản.
Trong số các thị trường xuất khẩu thủy sản chủ yếu của Việt Nam thì thị trường
châu âu đóng một vai trò quan trọng. Trong suốt nhiều năm liền thị trường này (cùng
thị trường Mỹ và Nhật Bản) là một trong ba thị trường xuất khẩu thủy sản lớn nhất
của Việt Nam nhưng xét cả về khối lượng và giá trị xuất khẩu thủy sản của Việt Nam
sang thị trường này đều chưa thể hiện hết được nhu cầu của thị trường đầy tiềm năng
này.
Do đó tôi quyết định chọn đề tài
“ Thúc đẩy xuất khẩu thủy sản vào thị trường châu âu”
để có thể hiểu rõ hơn những lý do khiến thủy sản của nước ta trong nhiều năm qua
luôn gặp khó khăn khi xâm nhập thị trường này dù tiềm lực thủy sản của thủy sản là
rất lớn. Đề tài này gồm cho 3 phần chính:
+) Chương 1: Lý luận chung về thúc đẩy xuất khẩu thủy sản
sang thị trường châu âu
+) Chương 2: Thực trạng xuất khẩu thủy sản sang thị trường
châu âu
+) Chương 3: Biện pháp thúc đẩy xuất khẩu thủy sản sang thị
1 1
trường châu âu
Cuối cùng tôi xin chân thành cảm ơn GS.TS Hoàng Đức Thân và thư viện trường
Đại học Kinh tế quốc dân đã giúp tôi hoàn thành đề án này. Xin chân thành cảm ơn.

thủy sản có thể mở rộng về quy mô sản xuất.
+) Góp phần thu hút vốn đầu tư từ nước ngoài đó là điều kiện thuận lợi
để thực hiện hiện đại hoá nền kinh tế trong nước và mở rộng quy mô, nâng cao
chất lượng của các sản phẩm chế biến từ thủy sản.
Ngoài ra xuất khẩu thủy sản còn góp phần giải quyết vấn đề cấp bách đối
với một đất nước đang tiến hành thực hiện công nghiệp hoá, hiện đại hoá đó là
vấn đề việc làm cho người dân.Việc tiến hành hoạt động xuất khẩu thủy sản sẽ
tạo ra nhiều cơ hội tìm kiếm việc làm cho người dân bởi lẽ các hoạt động liên
quan đến xuất khẩu thủy sản như nuôi trồng thủy sản, khai thác chế biến thủy
sản đồi hỏi một lượng lao động tương đối lớn. Bên cạnh đó các hoạt động khác
như dịch vụ hậu cần trong ngành thủy sản cũng thu hút được một lượng lao
động khá lớn. Chính vì vậy xuất khẩu thủy sản đã góp phần ổn định đời sống
người lao động của nước ta thông qua đó góp phần ổn định kinh tế chính trị tạo
điều kiện phát triển kinh tế xã hội ở nước ta.
Cuối cùng, xuất khẩu là cơ sở để mở rộng giao lưu, quan hệ với các quốc
gia khác trên thế giới. Thông qua xuất khẩu nói chgung và xuất khẩu thủy sản
nói riêng, chúng ta đã ký kết nhiều hoạt động quan hệ quốc tế, cũng như phần
nào giới thiệu được những nét văn hoá đặc trưng cũng như con người Việt Nam
với bạn bè thế giới. Từ đó tạo điều kiện cho việc các quốc gia tiến đến ký kết
các hoạt động giao lưu văn hoá, cũng như thu hút các du khách nước ngoài đến
tham quan và tìm hiểu về con người Việt Nam.
1.2 Đặc điểm của thị trường châu âu
1.2.1 Giới thiệu khái quát về kinh tế, xã hội các nước châu âu
*) Đối với khu vực EU, kinh tế trong thời gian qua vẫn duy trì với tốc độ
tăng trưởng cao. Tốc độ tăng trưởng GDP năm 1996 là 1,6%, năm 1997 là
2,5%, năm 1999 là 2%. Năm 2000, GDP của EU tăng 2,6% đạt 9785 tỷ USD,
lớn hơn Mỹ 13%, Nhật 38% (trong đó các thị trường chính như Anh, Pháp, Đức,
Italia chiếm tới 72% GDP của EU). Đến năm 2005, tốc độ tăng trưởng GDP đạt
1,8%, năm 2007 đạt 2,6%. Tuy nhiên, tình hình lạm phát ở EU đang có xu
hướng đi lên. Năm 1998, tỷ lệ lạm phát là 1,5%, đến năm 1999 con số này giảm

Tỷ lệ thất nghiệp đã giảm xuống trên toàn châu âu nhờ những thành tựu kinh tế
mà khu vực này đạt được: từ 11% dân số thất nghiệp năm 1995 đến năm 1998 tỷ
lệ này giảm còn 10,2%, đến năm 2000 xuống còn 9%.Và thời gian gần đây, nhờ
các tác động của sự phát triển kinh tế dự kiến số việc làm mới được tạo trong
giai đoạn 2007-2009 sẽ là 8 triệu việc làm, điều này sẽ giúp cho tỷ lệ thất nghiệp
của năm 2009 giảm còn 6,6%. Bên cạnh đó EU còn quan tâm hơn đến sức khoẻ
của người dân thông qua việc phát triển các nguồn thực phẩm phục vụ hàng
ngày cũng như tăng cường chất lượng và tiện ích của các dịch vụ trong đời sống
như tiến hành hạ cước phí điện thoại di động khi thực hiện các cuộc gọi giữa các
nước là thành viên EU, cũng như được quyền lựa chọn nhà cung cấp điện và khí
đốt cho mình. Cũng trong thời gian này Eu cũng rất chú ý đến các dịch vụ đi lại
tiện ích cũng như bảo vệ lợi ích của người tiêu dùng như sự kiện Microsoft bị
thua kiện do sử dụng vị thế độc quyền của mình để giới hạn việc chuyển dữ liệu
với các hệ điều hành qua đó giới hạn khả năng lựa chọn của người dân.
*) Đối với khu vực SNG
Trong những năm đầu thập niên 90, kinh tế của khu vực này liên tục rơi
vào suy thoái giảm sút. So với những năm trước đó, GDP năm 1992 giảm
khoảng 14%, năm 1995 GDP giảm 5,3% trong đó ngay cả những nước được coi
là phát triển nhất của khu vực mhư Nga, Ukraine cũng liên tục sụt giảm kinh tế.
Năm 1992, GDP của Nga giảm 14,5%, của Ukraine giảm 9,9% đến năm 1995
con số này của Nga là giảm 4,1%, của Ukraine là giảm 12,9%. Cũng trong giai
đoạn này mức lạm phát của khu vực luôn ở mức hai con số. Tuy nhiên trong thời
gian từ năm 2000 trở lại đây, kinh tế của khu vực này đã có nhiều khởi sắc. Mức
tăng trưởng kinh tế của khu vực luôn ở mức khá cao như năm 2000 GDP của
khu vực tăng 8,3%, năm 2003 con số này là 7,8% và năm 2005 con số này là
6,8%. Tuy nhiên mức độ lạm phát của dù đã giảm nhưng vẫn ở mức cao trên hai
con số. Về vấn đề xã hội thì khu vực này vẫn còn nhiều bất ổn về chính trị, xã
hội vẫn còn nhiều biến động, tiêu cực. Đời sống của người dân vẫn còn ở mức
thấp, tỷ lệ người thất nghiệp vẫn còn ở mức cao. Việc thực thi pháp luật còn
lỏng lẻo, tuỳ tiện thiếu nghiêm túc. Điều đó ảnh hưởng lớn đến kinh tế xã hội

hai loại. Loại một là những người có thu nhập cao thì họ có xu hướng giống với
người tiêu dùng ở thị trường EU là hàng phải có uy tín chất lượng cao, nguồn
gốc xuất xứ rõ ràng dù giá có cao cũng được. Loại hai là những người có thu
nhập thấp thì họ chỉ mua hàng rẻ tiền, chất lượng chấp nhận được. Do đó hành
thủy sản của Việt Nam khi xâm nhập thị trường này cần xác định rõ đối tượng
khách hàng của mình là ai để có thể đáp ứng nhu cầu của họ.
*) Về kênh phân phối của thị trường châu âu
Hiện nay, hệ thống các kênh phân phối của châu âu được xem là một trong
những hệ thống phức tạp nhất trên thế giới hiện nay. Chúng bao gồm nhiều
thành phần khác nhau trong đó nổi bật là các công ty xuyên quốc gia. Các công
ty này tổ chức mạng lưới tiêu thụ từ khâu mua hàng cho đến khâu phân phối
hàng cho các mạng lưới bán lẻ do đó họ luôn có mối quan hệ vô cùng chặt chẽ
với các nhà thầu nước ngoài. Với các công ty xuyên quốc gia này, hệ thống phân
phối của EU hình thành một mạng lưới rất chặt chẽ. Hai hình thức phổ biến nhất
của các kênh phân phối bao gồm theo tập đoàn và không theo tập đoàn. Theo
hình thức phân phối theo tập đoàn, các nhà sản xuất của tập đoàn chỉ cung cấp
hàng cho các hệ thống cửa hàng, siêu thị của tập đoàn mà không cung cấp cho
các nhà bán lẻ bên ngoài. Còn hình thức không theo tập đoàn thì nhà sản xuất
hay nhập khẩu có thể cung cấp hàng cùng lúc cho nhiều hệ thống bán lẻ trên thị
trường
Bên cạnh các công ty bán lẻ và các siêu thị ở thị trường châu âu thường
không mua hàng trực tiếp từ các đầu mối nước ngoài mà thông qua các trung
tâm thu mua lớn ở châu âu. Nhờ đó mà đảm bảo cho việc cung cấp nguồn hàng
luôn ổn định và đảm bảo về mặt chất lượng. Hình thức phân phối của thị trường
châu âu tạo ra một chuỗi liên kết rất chặt chẽ thông qua các hợp đồng kinh tế, vì
vậy đây sẽ là điều khó khăn cho các nhà xuất khẩu muốn xâm nhập thị trường
châu âu (trong đó có Việt Nam ). Chính vì vậy hang thủy sản Việt Nam muốn
xâm nhập thị trường châu âu cần tìm các nhà nhập khẩu để xuất khẩu trực tiếp
(có thể tìm thông qua các đại sứ quán các nước hoặc các thương vụ Việt Nam ở
châu âu) hoặc liên doanh với các công ty xuyên quốc gia ở châu âu để trở thành

GSP để giúp đỡ cho hàng hoá các nước này. Chương trình này được xây dựng
trên các nguyên tắc tự nguyện, không đòi hỏi có đi có lại và đơn phương quyết
định. EU chia sản phẩm dược hưởng GSP thành 4 nhóm chính trong đó các sản
phẩm bán nhạy cảm bao gồm các mặt hàng như thủy sản đông lạnh, hàng công
nghiệp dân dụng được hưởng mức thuế GSP bằng 35% mước thuế suất thông
thường. Đây là mặt hàng được khuyến khích nhập khẩu.
Trong tương lai thì hàng nhập khẩu của các nước đang phát triển sẽ
không được hưởng GSP nữa khi đó sẽ tạo ra nhiều khó khăn và thách thức đối
với các nước này.
+) Ngoài ra EU còn áp dụng chính sách chống bán phá giá với các hàng
hoá vào thị trường EU. Từ khi gia nhập WTO thì EU chỉ được áp dụng chính
sách chống bán phá giá trong trường hợp các ngành của EU bị ảnh hưởng do các
hàng nhạp khẩu bán phá giá. Đến năm 1996 thì quy chế áp dụng chính sách
chống bán phá giá chỉ được áp dụng trong các trường hợp:
-) giá xuất khẩu của sản phẩm bán trên thị trường EU thấp hơn giá bán
các sản phẩm đó ở thị trường nước xuất khẩu.
-) hàng xuất khẩu của nước xuất khẩu có thể gây ra tổn thất cho các
ngành kinh doanh ở EU.
-) chi phí mà EU bỏ ra thực hiện các biện pháp không được tỷ lệ nghịch
với lợi ích thu được.
+) Quyền lợi của người tiêu dùng EU phải luôn được bảo vệ do đó EU đã
đề ra các biện pháp bảo vệ quyền lợi cho người tiêu dùng của mình. Khác với
trước đây, ngày nay EU đã tiến hành kiểm tra các sản phẩm buônlưu thông trên
thị trường ngay từ nơi sản xuất và các nước thuộc EU đã có sự liên kết với nhau
để đảm bảo an toàn ngày càng cao cho người tiêu dùng. Ngoài ra các tổ chức
nghiên cứu đại diện cho quyền lợi người tiêu dùng cũng đưa ra các quy chế
chuẩn theo từng quốc gia hay dùng chung cho toàn EU. Hiện nay ở EU tồn tại
song song cùng lúc các cơ quan định chuẩn là ủy ban châu âu về định chuẩn, ủy
ban châu âu về định chuẩn điện tử, viện định chuẩn viễn thông châu âu. Dưới
đây là một số quy chế bảo đảm an toàn mà EU áp dụng với những loại sản phẩm

Nam, dù đã có nhiều động thái tích cực song lượng hàng xuất khẩu của Việt
Nam sang khu vực này vẫn rất hạn chế (bao gồm cả thủy sản).
1.3 Các nhân tố ảnh hưởng tới xuất khẩu thuỷ sản
1.3.1 Các nhân tố bên trong
+) Nguồn lực con người
Từ xưa đến nay con người luôn có một vai trò vô cùng quan trọng trong
mọi hoạt động của đời sống. Ngày nay khi máy móc, thiết bị hiện đại phát triển
thì vai trò của con người ngày càng quan trọng hơn. Máy móc phải có con người
diều khiển mới có thể vận hành tốt, làm ra những sản phẩm, hàng hoá có ích.
Một doanh nghiệp muốn phát triển phải có người lãnh đạo, đề ra các mục tiêu
chiến lược, các định hướng để đạt được các mục tiêu đó. Cũng cần có con
người, đặc biệt là những người có trình độ cao để tiếp nhận các thông tin, từ đó
tiến đến xử lý các thông tin rồi ra các quyết định cho phù hợp. Bởi vậy nguồn
lực con người có tính quyết định tới sự thành công hay thất bại của một dự án,
công trình. Trong ngành xuất khẩu thuỷ sản cũng vậy, nếu những người lãnh đạo
không có năng lực không đề ra được các chiến lược phương hướng đúng đắn,
công nhân không có tay nghề cao thì sản lượng thuỷ sản xuất khẩu đi sẽ thấp và
ngược lại.
+) Năng lực tài chính
Năng lực tài chính có thể được hiểu là quy mô vốn và khả năng thanh
toán của mỗi doanh nghiệp. Điều đó cho phép doanh nghiệp thường xuyên nâng
cao, cải tiến về kỹ thuật công nghệ từ đó góp phần nâng cao chất lượng sản
phẩm, thay đổi mẫu mã cho phù hợp thị hiếu người tiêu dùng. Đối với mặt hàng
thủy sản thì vấn đề về tài chính cũng vô cùng quan trọng. Nếu một doanh nghiệp
xuất khẩu thủy sản có khả năng tài chính lớn thì doanh nghiệp đó sẽ có nhiều cơ
hội thâm nhập các thị trường cũng như khả năng tiêu thụ các sản phẩm cao hơn.
+) Năng lực công nghệ
Là điều kiện để có thể tăng sức cạnh tranh của các mặt hàng do tạo ra
được các sản phẩm có chất lượng cao, mẫu mã đẹp, giá thành hạ từ đó có thể
xâm nhập vào các thị trường các nước và có thể cạnh tranh với hàng hoá các

Bất kỳ quốc gia nào muốn tồn tại và phát triển đều phải có hệ thống
chính sách và pháp luật đồng nhất. Trong quá trình xuất khẩu và phát triển kinh
tế cũng vậy, chính sách pháp luật có vai trò và ảnh hưởng lớn đến các quyết định
của các nhà đầu tư cũng như các nhà xuất khẩu. Một quốc gia nếu có chính sách
pháp luật thuận lợi, hợp lý sẽ thúc đẩy kinh tế trong nước phát triển nhanh cũng
như thu hút nhiều vốn đầu tư nước ngoài hơn nếu chính sách pháp luật không
hợp lý gây khó khăn cản trở cho các hoạt động giao lưu trao đổi mua bán. Đối
với hoạt động xuất khẩu thủy sản thì chính sách này càng có ý nghĩa quan trọng.
Các đơn vị xuất khẩu phải tìm hiểu rõ các chính sách pháp luật của thị trường
mình định xuất khẩu sang tránh các trường hợp vi phạm có thể dẫn tới bị phạt
gây ảnh hưởng đến số lượng và kim ngạch xuất khẩu.
+) Về cạnh tranh
Một thị trường nếu có nhiều nhà cung cấp cùng cạnh tranh với nhau thì
thị trường đó sẽ không còn hấp dẫn đối với các nhà đầu tư cung cấp mới. Thực
chất khi một thị trường có quá nhiều đói thủ cạnh tranh thì việc các đói thủ
không có đủ tiềm lực năng lực bị loại khỏi cuộc đua là điều dễ hiểu. Bên cạnh
đó co nhiều đói thủ thì lợi nhuận kỳ vọng sẽ bị giảm chưa kể đến những kẻ đến
sau sẽ rất khó chiếm được thị trường do những kẻ đến trước đã giành được. Mà
các doanh nghiệp của Việt Nam thì tiềm lực có hạn, chất lượng sản phẩm dù đã
có cải thiện tuy nhiên để cạnh tranh với các doanh nghiệp lớn thì đó là điều hết
sức khó khăn. Do vậy cạnh tranh cũng là yếu tố tác động lớn đến việc lựa chọn
thị trường và hình thức kinh doanh của doanh nghiệp.
+) Về thị hiếu tập quán của người tiêu dùng nước nhập khẩu
Đây là một yếu tố mà các nhà xuất khẩu muốn đạt được thành công phải
hết sức chú ý. Nếu các sản phẩm ta xuất khẩu sang thị trường đó phù hợp với
nhu cầu thị hiếu cuỉa họ thì việc tiêu thụ sản phẩm không gặp khó khăn tuy
nhiên nếu các sản phẩm xuất khẩu không phù hợp với thị hiếu tập quán của họ
thì hàng không thể bán gây khó khăn, thất thu cho doanh nghiệp. Như với thị
trường EU, họ tẩy chay các loại thủy sản có chứa khuẩn Salmonella, độc tố
Lustamine, nhiễm V.Cholarae nếu các doanh nghiệp cứ xuất khẩu các loại thủy

tổng sản lượng thuỷ sản đạt 4,5 triệu tấn tăng 11,5% so với năm 2006 ( trong đó
khai thác đạt 2,06 triệu tấn tăng 1,8% so với năm 2006, nuôi trồng đạt 2,1 triệu
tấn tăng 23,1% so với năm 2006).
+) Về diện tích nuôi trồng thuỷ sản
Diện tích nuôi trồng thủy sản cũng tăng liên tục kể từ năm 1981 chỉ
đạt 230000 ha, đến năm 1986 tăng lên 384.6 ha và đến nay thì diện tích nuôi
trồng thủy sản đạt khoảng hơn 1 triệu ha. Như vậy ngành nuôi trồng thủy sản
đang từng bước trở thành một trong những ngành sản xuất chủ lực đông vai trò
vô cùng quan trọng đói với sự phát triển của ngành thuỷ sản nói riêng và các
ngành sản xuất hàng hoá nói chung.
+) Về năng lực tàu thuyền khai thác
Trong ngành khai thác thủy sản, trước đây nước ta chỉ hoạt động với
quy mô nhỏ, khai thác gần bờ thì giờ đây đã phát triển thành đánh bắt xa bờ với
đối tượng là các sản phẩm có giá trị và xuất khẩu. Bên cạnh đó là tiếp tục ổn
định, vừa khai thác vừa bảo vệ đối với nguồn tài nguyên ven bờ, môi trường
sinh thái. Và từ năm 1991 đến nay số thuyền máy tăng nhanh: năm 1991, số
lượng tàu thuyền máy có 44347 chiếc chiếm 59.6% tổng số thuyền đánh bắt; đến
năm 2003 tổng số thuyền máy là 83123 chiếc tổng công suất đạt 3497457 CV,
gấp năm 5 lần năm 1991. Số thuyền có công suất cao dùng đánh bắt xa bờ cũng
tăng khá nhanh trong thời gian qua, từ 5000 chiếc năm 1997 đến năm 2003 là
6258 chiếc do đó tỷ trọng khai thác xa bờ đã tăng nhanh chóng, năm 2003 đã đạt
38.8%.
+) Về dịch vụ hậu cần khai thác
Lực lượng tàu làm dịch vụ hậu cần nhằm phục vụ cho tàu khai thác xa
bờ có thể ở trên biển dài ngày giảm chi phí đi lại và nâng cao chất lượng sản
phẩm. Tuy nhiên nưng lực của loại tàu này hiện còn thâpso với nhu cầu (mới
chiếm 1% về sản lượng và 3% về công suất trong tổng công suất tàu thuyền cơ
giới. Hệ thống cảng cá mới có 49/75 cảng cá tại 25 tỉnh thành phố được đưa vào
sử dụng. Tuy các cảng đã phát huy được tác dụng dịch vụ hậu cần nhưng nhiều
nơi đã bị quá tải. Về lực lượng khai tháchiện có 900 ngàn lao động. Trong đó lao

1997 1.570.000 1.062.000 481.000 776.000 71.500 600.000
1998 1.668.530 1.130.660 537.870 858.600 71.799 626.330
1999 1.827.310 1.212.800 614.510 971.120 73.397 630.000
2000

2.003.000 1.280.590 723.110 1.478.609 79.768 652.000
2001

2.226.900 1.347.800 879.100 1.777.485 78.978 887.500
2002 2.410.900 1.434.800 976.100 2.014.000 81.800 955.000
2003 2.536.361 1.426.223 1.110.138 2.199.577 83.122 902.229
2004 3.073.600 1.923.500 1.150.100 2.400.781 85.430 902.900
2005 3.432.800 1.995.400 1.437.400 2.738.726 90.880 959.900
2006 3.695.927 2.001.656 1.694.271 3.357.960
Chưa xác
định
1.050.000
Nguồn: Báo cao tổng kết hàng năm của bộ thủy sản
2.1.2 Tình hình về xuất khẩu thủy sản của Việt Nam
*) Kim ngạch xuất khẩu thuỷ sản của Việt Nam
Tình hình xuất khẩu thủy sản của Việt Nam trong những năm gần đây
đạt được tốc độ tăng trưởng khá cao. Nếu như năm 1990, kim ngạch xuất khẩu
chỉ đạt có 205 triệu USD thì đến năm 1998 con số này đã là 858,6 triệu USD.
Vậy là chỉ trong vòng có 8 năm kim ngạch xuất khẩu đã tăng gấp hơn 4 lần, đặc
biệt năm 2000 đánh dấu một cột mốc quan trọng của ngành xuất khẩu thủy sản
đó là kim ngạch xuất khẩu của thủy sản đã đạt tới con số 1478 triệu USD trở
thành một trong số ít các mặt hàng xuất khẩu của Việt Nam vượt qua được con
số 1 tỷ USD và có tốc độ phát triển vượt bậc so với năm trước ( tới 52,5%). Đến
năm 2002, kim ngạch của ngành đã đạt tới cột mốc hơn 2 tỷ USD bằng tổng giá
trị kim ngạch của giai đoạn 1980-1995 . Tiếp theo những bước tăng trưởng khá

150,52
670.000
-
1997 206,39
776.000
15,82
1998 200,55
858.600
10,64
1999 229,96
971.120
13,1
2000 291,92
1.478.609
52,26
2001 358,83
1.777.485
20,21
2002 444,04
2.014.000
13,31
2003 458,5
2.199.577
9,21
2004 518,747
2.400.781
9,15
2005 634,499
2.738.726
14,08

hướng giảm trong những năm sắp tới.
Bảng 6: Giá trị xuất khẩu của các mặt hàng thủy sản chính

Mặt hàng 2001 2002 2003 2004 2005 2006
Tôm 761,5 966,7 1058 1261 1371,55
6
1460,59
Cá 310,1 462,8 466,5 552,4 687,65
9
1145,09
Mực và bạch tuộc 118,4 142,8 113,9 162,5 182,25
3
222,19
Hàng khô 188,5 138,3 73,7 101,9 130,35
4
142,2
Thủy sản khác 379 312,2 504,4 323 367,17
8
378,23
Nguồn: Tạp chí thương mại thủy sản VASEP- Bộ thủy sản
*) Cơ cấu về thị trường xuất khẩu thủy sản
Nếu như trước đây thị trường xuất khẩu thủy sản của nước ta còn hết
sức hạn hẹp thì giờ đây thủy sản của Việt Nam đã xuất hiện ở hầu hết các vùng
và lãnh thổ trên thế giới, trong đó riêng 3 thị trường chính là EU, Hoa Kỳ và
Nhật Bản đã chiếm tới khoảng 70% kim ngạch xuất khẩu thủy sản năm 2005 và
đến năm 2006 con số này là 66,4%.
Trong đó đứng đầu là thị trường Nhật Bản. Trong những năm của thập
kỷ 90 Nhật Bản luôn là nước nhập khẩu thủy sản lớn nhất của Việt Nam, chiếm
tới khoảng hơn 50% kim ngạch xuất khẩu thủy sản của Việt Nam. Nhưng đến
những năm đầu của thiên niên kỷ mới, do kinh tế suy thoái cho nên Nhật Bản đã

2005

2006
8 tháng đầu
2007
Số lượng
(tấn)
Giá trị
(USD)
Số lượng
(tấn)
Giá trị
(USD)
Số lượng
(tấn)
Giá trị
(USD)
Nhật
Bản
129284,
6
82395360
3
123889,
1
84261367
7
64351,
2
39623309

44238245
1
176160,
6
49379868
0
111860,5 34063190
7
Châu
Âu (trừ
EU)
18554,
7
6044629
0
73921 17420854
7
46181,
3
11847127
3
ASEAN 49195,
1
12515112
6
60295,
7
15088710
1
39487,

6

13146,
8

6882019
1
Châu
Phi
1653,
7
437345
7
3941,
7
922072
6
4993,
2
1373590
2
Nguồn:www.fistenet.gov.
2.2 Thực trạng xuất khẩu thủy sản sang thị trường châu âu
*) Đối với thị trường EU:
Từ năm 1980, thủy sản của Việt Nam đã xuất hiện trên thị trường và ngay
khi xuất hiện đã tạo được những ấn tượng tốt với người tiêu dùng EU. Đây là
một thị trường rộng lớn có tiềm năng phát triển rất cao song lại có đòi hỏi rất
cao về an toàn vệ sinh thực phẩm, mà công nghệ Việt Nam ở thời kỳ những năm
đầu thập kỷ 90 lại lạc hậu cũ kỹ không đáp ứng được đòi hỏi của thị trường
nàycho nên kim ngạch xuất khẩu thủy sản vào thị trường nay trong thời kỹ đó là

Khối lượng
(tấn)
20290,8 26659,1 28612,8 38186,8 73459,2 123350,2 219967
Nguồn: Trung tâm tin học-bộ thủy sản
Sản phẩm thủy sản xuất khẩu chủ yếu của Việt Nam bao gồm cá, tôm, cá
ngừ, bạch tuộc, mực và đồ hộp. Mặt hàng thủy sản đầu tiên là tôm đông lạnh.
Kim ngạch xuất khẩu tôm đông lạnh của Việt Nam sang thị trường EU năm
2000 đạt 38,6 triệu USD, năm 2001 là 43,6 triệu USD nhưng đến năm 2002 kim
ngạch chỉ còn 15,7 triệu USD. Nguyên nhân chủ yếu là do EU thự hiện chính
sách bảo đảm an toàn cho người tiêu dùng quy định dư lượng kháng sinh bằng
không hay chính xác là dưới 0,3 phần tỷ. Đây có thể coi là một yêu sách vô lý
của EU. Thời gian tiếp theo thì xuất khẩu tôm đã có dấu hiệu tăng trưởng trở lại.
Năm 2003 Việt Nam đã xuất khẩu sang EU khoảng 5316 tấn tôm tăng 28% so
với năm 2002 và đến năm 2004 thì tôm Việt Nam có xu hướng xâm nhập vào
các thị trường mới tại EU. Cá đông lạnh cũng có xu hướng tăng xuất khẩu sang
thị trường EU. Năm 2003 xuất khẩu cá sang thị trường này đã vượt qua tôm cả
về khối lượng lẫn giá tri, vươn lên đứng thứ hai chỉ sau xuất khẩu vào thị trường
Hoa Kỳ (141 triệu USD) và chiếm 20% tổng giá trị xuất khẩu cá của Việt Nam
(552 triệu USD). Năm 2004 xuất khẩu cá sang thị trường EU đạt 231,5 triệu
USD chiếm gần 50% giá trị xuất khẩu thủy sản của Việt Nam sang thị trường
này.
Về các thị trường xuất khẩu thủy sản chính của Việt Nam trong năm 2005
thì Bỉ là nước có tỷ trọng xuất khẩu lớn nhất chiếm tới 18% tổng kim ngạch xuất
khẩu thủy sản Việt Nam sang EU. Kế đến là Đức (16%), Italia(15%), Tây Ban
Nha (12%), Hà Lan (10%), Anh và Pháp (9% mỗi nước), Ba Lan (3%), Bồ Đào
Nha (2%), Đan Mạch và Hy Lạp (1% mỗi nước).

Trích đoạn Đánh giá thực trạng xuất khẩu thủy sản sang thị trường châu âu Những thách thức đối với ngành thủy sản Các giải pháp vĩ mô Các giải pháp vi mô
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status