PHẦN MỞ ĐẦU
- - - - - - - -
1. Sự cần thiết của đề tài
Ngân hàng (NH) là ngành kinh doanh đặc biệt vì cả nguyên liệu lẫn sản
phẩm kinh doanh đều là tiền tệ. Có đối tượng phục vụ rất đa dạng, ở nhiều
ngành nghề, nhiều lĩnh vực kinh tế và hoạt động của NH lại dựa trên yếu tố
tâm lý hết sức nhạy cảm đó là niềm tin. Nên trong giai đoạn này, khi mà kinh
doanh NH trở nên sôi động với lợi nhuận khổng lồ, song hành cùng rủi ro
không thể dự đoán, thì việc nhà quản trị có những chiến lược phù hợp nhằm
tối đa hóa lợi nhuận, giảm thiểu rủi ro là nhân tố hết sức quan trọng ảnh hưởng
đến hoạt động của NH.
Trong một nền kinh tế, hệ thống NH đóng vai trò quan trọng là cầu nối
giữa các nơi thừa và thiếu vốn. Hệ thống NH có đủ “sức khỏe” thì nền kinh tế
mới có thể vững mạnh. Đất nước ta đang có sự chuyển mình với những bước
đi đúng hướng, những thành tựu mới trong mọi lĩnh vực của đời sống kinh tế -
xã hội, cùng với việc Việt Nam (VN) trở thành thành viên thứ 150 của Tổ
chức Thương mại thế giới (WTO), mở ra nhiều cơ hội mới cho mọi doanh
nghiệp, mọi lĩnh vực. Trong đó, chúng ta không thể không nói tới một lĩnh
vực hết sức nhạy cảm đó chính là NH. Chúng ta đang bắt đầu thực hiện các
cam kết mở cửa, khiến cho các doanh nghiệp đứng trước sự cạnh tranh ngày
càng khốc liệt, cơ hội mở ra nhiều nhưng thách thức cũng không nhỏ. Vì vậy,
trong thời kỳ hội nhập như vậy, hoạt động NH phải phát triển hơn nữa để đảm
bảo được nhu cầu vốn trong nước, tăng khả năng cạnh tranh với những NH
nước ngoài đã và đang thành lập ở VN. Trong kinh doanh NH thì hoạt động
tín dụng (TD) là một trong những hoạt động tạo ra giá trị nhiều nhất, mang lại
lợi nhuận cao nhất cho NH. Hoạt động TD là nghiệp vụ chủ yếu, nó chiếm từ
80 – 90% thu nhập của NH, nhưng rủi ro mang lại cũng rất lớn.
Chính vì vậy, để tăng hiệu quả hoạt động kinh doanh của mình thì việc đảm
bảo an toàn hoạt động tín dụng của các NHTM nói chung và ngân hàng Nông
nghiệp và phát triển nông thôn (NHNo&PTNT) nói riêng cần được quản trị
một cách tốt nhất, để giảm thiểu rủi ro nhằm đảm bảo an toàn hoạt động, tránh
* Phương pháp phân tích, xử lý số liệu
Trong đề tài sử dụng các phương pháp phân tích sau đây:
– Phương pháp so sánh theo chiều dọc: Là phương pháp phân tích các chỉ
tiêu theo thời gian (3 năm) nhằm thấy được sự biến động tăng giảm giữa năm
này và năm kia. Từ đó tìm ra nguyên nhân.
– Phương pháp so sánh là phương pháp sử dụng phổ biến nhất nhằm so
sánh đối chiếu các chỉ tiêu, kết quả. Gồm có so sánh tuyệt đối và so sánh
tương đối.
* Phương pháp so sánh bằng số tuyệt đối: là kết quả của phép trừ giữa trị
số của kỳ phân tích với kỳ gốc của chỉ tiêu kinh tế.
∆y = y
1
- y
o
Trong đó:
y
o
: Chỉ tiêu năm trước
y
1
: Chỉ tiêu năm sau
∆y : Là phần chệnh lệch tăng, giảm của các chỉ tiêu kinh tế.
Trang 2
Phương pháp này sử dụng để so sánh số liệu năm sau với số liệu năm
trước của các chỉ tiêu xem có biến động không và tìm ra nguyên nhân biến
động của các chỉ tiêu kinh tế, từ đó đề ra biện pháp khắc phục.
* Phương pháp so sánh bằng số tương đối: là kết quả của phép chia giữa
trị số của kỳ phân tích so với kỳ gốc của các chỉ tiêu kinh tế.
Trong đó:
y
Phát Triển Nông Thôn chi nhánh huyện Đầm Dơi.
Trang 3
∆y
=
y
1
- y
o
y
o
* 100
• Chương 3: Một số giải pháp nhằm phòng ngừa rủi ro tín dụng tại Ngân
Hàng Nông Nghiệp và Phát Triển Nông Thôn chi nhánh huyện Đầm
Dơi.
• Kết luận và kiến nghị
Trang 4
PHẦN NỘI DUNG
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG
- - - - - -
1.1. Tín dụng
1.1.1. Khái niệm
Tín dụng xuất phát từ chữ Latinh là Credo (có nghĩa là tin tưởng – tín
nhiệm). Sự tín nhiệm xuất phát từ cả hai phía người đi vay và người cho vay.
Để có quan hệ tín dụng tồn tại, đòi hỏi phải tạo lập được niềm tin và đây là cơ
sở quan trọng cho quan hệ tín dụng hình thành. Chúng ta có thể đưa ra khái
Ngân hàng cung cấp rất nhiều loại tín dụng cho nhiều loại đối tượng khách
hàng với những mục đích sử dụng khác nhau. Để tránh nhầm lẫn và có cách
nhìn tổng quát về các loại tín dụng, người ta phân loại tín dụng theo một số
tiêu chí sau:
Dựa vào mục đích tín dụng - theo tiêu thức này có thể phân chia thành
các loại sau:
– Cho vay phục vụ sản xuất kinh doanh công thương nghiệp.
– Cho vay tiêu dùng cá nhân.
– Cho vay kinh doanh bất động sản.
– Cho vay phục vụ sản xuất nông nghiệp.
– Cho vay kinh doanh xuất nhập khẩu.
Dựa vào thời hạn tín dụng có thể chia thành các loại:
– Cho vay ngắn hạn: là loại cho vay có thời hạn đến một năm (<=12 tháng).
Mục đích của loại cho vay này thường nhằm tài trợ cho việc bổ sung vào các
loại tài sản lưu động.
– Cho vay trung hạn: là loại cho vay có thời hạn từ trên 1 năm đến 5 năm.
Mục đích của loại cho vay này thường nhằm tài trợ cho việc đầu tư vào các
loại tài sản cố định.
– Cho vay dài hạn: là loại cho vay có thời hạn trên 5 năm. Mục đích của
loại cho vay này thường nhằm tài trợ đầu tư vào các dự án đầu tư.
Dựa vào mức độ tín nhiệm của khách hàng – tín dụng có thể được phân
chia thành các loại:
– Cho vay không có đảm bảo: là loại cho vay không có tài sản thế chấp
cầm cố hoặc bảo lãnh của bên thứ ba mà chỉ dựa vào uy tín của bản thân
khách hàng vay vốn để quyết định cho vay.
– Cho vay có đảm bảo: là loại cho vay dựa trên cơ sở các bảo đảm của tiền
vay như thế chấp, cầm cố, hoặc bảo lãnh của bên thứ ba.
Dựa vào phương thức cho vay – tín dụng có thể chia thành các loại:
– Cho vay từng lần.
– Cho vay theo hạn mức tín dụng.
– Tín dụng là công cụ tài trợ cho các ngành kinh tế kém phát triển và
ngành kinh tế mũi nhọn: Thông qua tín dụng, Nhà nước có thể tài trợ cho các
ngành kinh tế kém phát triển cũng như tập trung đầu tư cho các ngành kinh tế
mũi nhọn, chiến lược.
1.1.4.2. Chức năng tín dụng
– Tập trung và phân phối lại vốn tiền tệ tạm thời nhàn rỗi trên nguyên
tắc có hoàn trả: Thông qua hoạt động tín dụng các tổ chức tín dụng thực hiện
việc điều hòa vốn tiền tệ trong nền kinh tế từ nơi tạm thời thừa vốn đến nơi
thiếu vốn cần bổ sung.
– Giảm lượng tiền mặt trong lưu thông và tiết kiệm chi phí lưu thông
tiền mặt cho xã hội:
+ Hoạt động tín dụng trước hết tạo điều kiện cho sự ra đời của các công
cụ lưu thông tín dụng như: Thương phiếu, kỳ phiếu ngân hàng, các loại séc,
các phương tiện thanh toán như thẻ tín dụng, thẻ ATM,…cho phép thay thế
Trang 7
một số lượng lớn tiền mặt lưu hành. Nhờ đó, giảm bớt chi phí liên quan như:
in tiền, đúc tiền, vận chuyển, bảo quản tiền.
+ Nhờ hoạt động tín dụng mà có thể phát huy chức năng tiết kiệm tiền
mặt và chi phí lưu thông cho xã hội.
+ Nhờ hoạt động tín dụng mà các nguồn vốn đang nằm trong xã hội
được huy động để sử dụng cho các nhu cầu của sản xuất và lưu thông hàng
hóa, có tác dụng tăng tốc độ di chuyển vốn trong phạm vi toàn xã hội.
– Kiểm soát hoạt động kinh tế: Vốn của ngân hàng chủ yếu là tiền gửi
của các chủ sở hữu khác mà ngân hàng tạm thời sử dụng. Để tránh rủi ro trong
việc thu hồi vốn, ngân hàng chỉ cho vay trên cơ sở các khách hàng sử dụng
vốn vay đó vào mục đích nhất định để phát triển sản xuất lưu thông hàng hóa.
Đồng thời, yêu cầu khách hàng phải bảo đảm cho khoản vay đó và ngân hàng
thường xuyên kiểm tra việc sử dụng vốn vay của các khách hàng, tư vấn cho
doanh nghiệp kinh doanh đạt hiệu quả cao nhất. Như vậy, thông qua công tác
tín dụng mà ngân hàng đã thực hiện kiểm tra các hoạt động kinh tế xã hội.
doanh dựa trên mối quan hệ rủi ro – lợi ích nhằm tìm ra những cơ hội đạt được
những lợi ích xứng đáng với mức rủi ro có thể chấp nhận được. Ngân hàng sẽ
hoạt động tốt nếu mức rủi ro mà ngân hàng gánh chịu là hợp lý và kiểm soát
được. Đồng thời, nằm trong khả năng các nguồn lực tài chính và khả năng tín
dụng của ngân hàng.
1.2.2. Phân loại rủi ro tín dụng
Có nhiều cách để phân loại rủi ro tín dụng và dưới đây là một số loại rủi ro
cơ bản:
– Rủi ro sai hẹn: Là rủi ro khách hàng không hoàn trả nợ đúng hạn như đã
cam kết trong hợp đồng tín dụng. Khi các khoản vay đến hạn, khách hàng có
thiện chí trả nợ nhưng cũng có thể vì lí do nào đó mà tình hình tài chính của
khách hàng gặp khó khăn nên chưa có khả năng trả nợ được cho ngân hàng.
Do đó, ngân hàng không thu hồi nợ đúng hạn. Loại rủi ro này thường gặp ở
các món vay đã được ngân hàng gia hạn nợ và nó chính là dấu hiệu ban đầu
của rủi ro tín dụng.
– Rủi ro không thu được nợ: Đó là rủi ro của những khoản vay mà khả
năng ngân hàng thu hồi được nợ là rất thấp, có nguy cơ bị mất vốn. Không
phải ai đi vay nợ cũng đều có đạo đức tốt, đều có ý muốn trả nợ cho ngân
hàng, đi vay khi đến hạn trả lại không trả, họ cố tình chiếm dụng vốn của ngân
hàng hoặc do doanh nghiệp làm ăn thua lỗ hay bị phá sản, nên không thể hoàn
trả nợ cho ngân hàng mặc dù ngân hàng đã áp dụng các biện pháp thu hồi nợ
nhưng vẫn không thu được. Loại rủi ro này thường tập trung ở các món vay đã
chuyển sang nợ quá hạn tại ngân hàng và đây là loại rủi ro mà cả hệ thống
ngân hàng chịu thiệt hại nhiều nhất.
1.2.3. Nguyên nhân phát sinh rủi ro tín dụng
Nhằm ngăn chặn rủi ro trong hoạt động tín dụng, ngân hàng phải hiểu vì
sao những rủi ro này xảy ra? Khi xem xét, đánh giá rủi ro trong cho vay,
CBTD phải xem xét nguyên nhân phát sinh rủi ro, dưới góc độ cụ thể có thể
chia làm 3 nhóm nguyên nhân:
(1) Những nguyên nhân về phía Ngân hàng
rủi ro. Các yếu tố gây rủi ro cho người sản xuất rất đa dạng và phong phú bắt
nguồn từ nhiều nguồn gốc khác nhau và khi xảy ra rủi ro qua các kênh tín
dụng chúng chuyển rủi ro đó đến cho ngân hàng. Về cơ bản chúng xuất phát
từ:
– Ban quản lý hoặc chủ các doanh nghiệp thiếu kiến thức, thiếu khả năng
kinh doanh không hoạch định được chiến lược, không xác định được mục tiêu,
đưa ra quyết định sai lầm.
– Cơ cấu pháp lý và cơ cấu kinh doanh của doanh nghiệp gắn với những
mức độ rủi ro khác nhau. Ví dụ: doanh nghiệp tư nhân thường có rủi ro lớn
hơn so với doanh nghiệp nhà nước hoặc công ty cổ phần. Một ví dụ khác
Trang 10
doanh nghiệp sản xuất nông nghiệp thường gặp rủi ro cao hơn doanh nghiệp
thương mại hay doanh nghiệp sản xuất công nghiệp.
– Cấu trúc sản phẩm và cấu trúc thị trường cạnh tranh của doanh nghiệp
cũng là nguồn gốc tạo ra rủi ro thể hiện nhiều yếu tố như: Chu kỳ sản xuất sản
phẩm dài hay ngắn, cơ cấu giá thành sản phẩm nhiều chi phí hay ít chi phí, thị
trường nguyên liệu hay tiêu thụ sản phẩm của doanh nghiệp là cạnh tranh hay
độc quyền, tiềm năng phát triển của doanh nghiệp, hệ thống phân phối sản
phẩm…Và cuối cùng là tình hình tài chính của doanh nghiệp thể hiện ở quy
mô vốn, chất lượng vốn, cơ cấu vốn và khả năng sinh lời của vốn gắn liền với
các rủi ro cụ thể, ví dụ như: quy mô vốn của doanh nghiệp lớn thể hiện khả
năng đảm bảo khoản vay cao.
+ Đối với khách vay là người tiêu dùng
Đối tượng vay của ngân hàng thuở ban đầu chủ yếu là các nhà kinh doanh,
nhưng để mở rộng khách hàng và hạn chế rủi ro về đọng vốn, ngân hàng còn
cho các cá nhân và hộ gia đình vay để tiêu dùng. Các cá nhân và hộ gia đình
sinh hoạt trong môi trường đầy rẫy rủi ro, do vậy qua con đường tín dụng họ
có thể chuyển rủi ro đó cho ngân hàng, các rủi ro mà khách hàng cá nhân và
gia đình của ngân hàng thường gặp phải là các rủi ro gắn với vấn đề thu nhập
và công ăn việc làm, sức khỏe, tuổi tác, hoàn cảnh gia đình…ví dụ như: bị sa
Nội dung phân tích đánh giá khách hàng tập trung vào việc trả lời 4 câu hỏi
sau:
(1) Tại sao khách hàng cần vay?
(2) Mục đích sử dụng tiền vay?
(3) Khách hàng có tạo đủ nguồn tiền từ hoạt động kinh doanh để trả nợ
không?
(4) Các khoản thay thế trả nợ là những khoản nào?
Đánh giá và giám sát được nội dung trả lời 4 câu hỏi trên là nền tảng
của quy định cho vay đúng. Tuy nhiên, mức độ chính xác và hiệu quả của
quyết định tùy thuộc vào tính chính xác của dữ kiện CBTD thu nhận. Và sẽ
càng sai lầm hơn nếu trả lời 4 câu hỏi đó bằng sự lượng định chủ quan của
CBTD.
(2)Nắm bắt thông tin khách hàng
Thông qua báo cáo tài chính mà các doanh nghiệp phải thường xuyên
cung cấp cho các tổ chức tín dụng. Thông qua các tài liệu của các cơ quan liên
quan như báo cáo kiểm toán thông qua thị trường hoặc thông qua các thông tin
của các cơ quan trực thuộc…nhằm nắm bắt kịp thời, chính xác các thông tin
về khách hàng sẽ giúp cho các tổ chức tín dụng có các chiến lược kinh doanh
cho phù hợp và hạn chế rủi ro ở mức thấp nhất.
(3) Phân tán rủi ro
Ngân hàng không nên tập trung vốn vào một số ít khách hàng cho dù là
khách hàng đó có kinh doanh hiệu quả. Bởi vì, nếu khách hàng đó gặp khó
khăn trong kinh doanh thì ảnh hưởng rất lớn đến hoạt động của ngân hàng.
(4) Nâng cao chất lượng tín dụng
Nâng cao chất lượng công tác quản lý, năng lực của người quản lý
trong việc xử lý nhanh chóng các vấn đề có khả năng xảy ra trước khi nó gây
ra ảnh hưởng tiêu cực đến ngân hàng. Đa dạng hóa các nguồn vốn và sử dụng
Trang 12
vốn của ngân hàng để hạn chế rủi ro. Đa dạng hóa danh mục đầu tư có nghĩa
Chỉ tiêu này phản ánh hiệu quả thu nợ của ngân hàng hay khả năng trả nợ
vay của khách hàng, cho biết số tiền mà ngân hàng thu được trong một thời kỳ
kinh doanh nhất định từ một đồng doanh số cho vay. Hệ số thu nợ càng lớn thì
càng được đánh giá tốt, chứng tỏ CBTD quản lý vốn cho vay đạt hiệu quả, cho
Trang 13
H1 (%) =
Tổng vốn huy động
Dư nợ
* 100
thấy công tác thu hồi vốn của ngân hàng càng hiệu quả, khách hàng có khả
năng trả nợ cao và ngược lại.
1.3.3. Tỷ lệ nợ quá hạn (H3)
Chỉ tiêu này dùng để đo lường chất lượng tín dụng của ngân hàng, phản
ánh các kỳ nợ đã đến hạn trả nhưng chưa thu hồi được trên tổng dư nợ. Nếu tỷ
lệ này càng thấp chứng tỏ chất lượng tín dụng của ngân hàng càng cao, khả
năng thu hồi nợ càng lớn, và ngược lại.
Nhằm dần tiến tới các chuẩn mực quốc tế trong hoạt động ngân hàng của
các tổ chức tín dụng Việt Nam, Ngân hàng Nhà nước (NHNN) Việt Nam đã
xây dựng dự thảo phân loại nợ, trích lập và sử dụng dự phòng để xử lý rủi ro
trong hoạt động của tổ chức tín dụng. Quy định hiện nay của NHNN cho phép
tỷ lệ nợ quá hạn của các NHTM không được vượt quá 5%.
Để đảm bảo quản lý chặt chẽ, theo quyết định số 493/2005/QĐ-NHNN
ngày 22 tháng 04 năm 2005 của Thống Đốc NHNN, nợ quá hạn được phân
chia theo thời hạn sau:
+Nợ đủ tiêu chuẩn (nhóm 1): nợ trong hạn hoặc các khoản nợ quá hạn
dưới 10 ngày và tổ chức tín dụng đánh giá là có đủ khả năng thu hồi đầy đủ cả
gốc và lãi đúng thời hạn.
+Nợ cần chú ý (nhóm 2): các khoản nợ quá hạn từ 10 đến 90 ngày; các
Trong đó: Tổng tài sản có gồm tổng dư nợ cho vay và vốn tự có của ngân
hàng.
Tỷ lệ này cho thấy tỷ trọng của khoản mục tín dụng trong tài sản có,
khoản mục tín dụng trong tổng tài sản càng lớn thì lợi nhuận sẽ càng lớn,
nhưng đồng thời rủi ro tín dụng cũng rất cao và ngược lại.
1.3.5. Vòng quay vốn tín dụng (H5)
Vòng quay vốn tín dụng phản ánh tốc độ luân chuyển vốn tại ngân hàng
cao hay thấp. Tùy theo tốc độ luân chuyển mà có hiệu quả tín dụng khác nhau.
Vòng quay vốn tín dụng càng nhanh thì hiệu quả tín dụng càng cao và ngược
lại.
1.3.6. Nợ xấu trên tổng dư nợ (H6)
Chỉ tiêu này được sử dụng để đo lường, đánh giá chất lượng tín dụng của
ngân hàng. Những ngân hàng nào có chỉ số này thấp cũng có nghĩa là chất
lượng tín dụng của ngân hàng này cao.Theo quy định của NHNN thì chỉ số
này phải nhỏ hơn hoặc bằng 5% .Trang 15
H4 (%) =
Tổng tài sản có
Tổng dư nợ cho vay
* 100
H5 (%) =
Dư nợ
Doanh số thu nợ
* 100
H6 (%) =
Tổng dư nợ
Nợ xấu
vay: CBTD từ khi phát vay đến khi thu nợ phải thường xuyên theo dõi chặt
chẽ hoạt động kinh doanh của khách hàng, cùng với việc kiểm tra mục đích sử
dụng vốn. Không lơ là chủ quan đối với bất kỳ khách hàng nào, cho dù hoạt
động của họ đang tốt và có hiệu quả.
(8) Việc đầu tư hay không tùy thuộc vào kết quả thẩm định trực tiếp của
CBTD chứ không nên lệ thuộc vào các áp lực bên ngoài từ các ngành hữu
quan cũng như ban giám đốc,
(9) Một điều hết sức quan trọng và ảnh hưởng trực tiếp đến việc quyết định
cho vay có nhiều rủi ro hay không đó là đạo đức của CBTD trực tiếp thẩm
định cho vay và các cán bộ phê duyệt hồ sơ vay vốn – Thực tiễn cho thấy đa
số các vụ việc mất vốn vay là do khách hàng không muốn trả nợ, sử dụng vốn
sai mục đích ít nhiều đều có sự thông đồng từ phía cán bộ của ngân hàng.
Trang 16
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG RỦI RO TÍN DỤNG TẠI
NHNo&PTNT CHI NHÁNH HUYỆN ĐẦM DƠI
2.1. Tổng quan về ngân hàng NHNo&PTNT chi nhánh huyện Đầm Dơi
2.1.1. Quá trình hình thành và phát triển của NHNo&PTNT chi nhánh
huyện Đầm Dơi.
2.1.1.1. Sơ lược về huyện Đầm Dơi-tỉnh Cà Mau
Huyện Đầm Dơi thuộc Tỉnh Cà mau. Hiện nay Đầm Dơi là huyện đồng
bằng ven biển, có diện tích tự nhiên 82.606 ha, cách trung tâm thành phố Cà
Mau 30km về hướng Đông Nam, phía Bắc giáp huyện Đông Hải, tỉnh Bạc
Liêu và thành phố Cà Mau, phía Nam giáp huyện Năm Căn, phía Tây giáp
huyện Cái Nước, phía Đông giáp biển Đông. Có chiều dài bờ biển 25km, sông
ngòi chằng chịt, 4 cửa sông lớn thông ra biển, đó là: cửa Gành Hào, Giá Cao,
Áp Hạp và Hố Gùi, địa giới hành chính được chia thành 15 xã và 01 thị trấn;
Trang 17
có 139 ấp, khóm. Có 3 xã ven biển: Tân Thuận, Tân Tiến và Nguyễn Huân;
trong đó có 5 ấp ven biển. Dân số trong toàn huyện là 191.398 người, trong
đó: dân tộc kinh 179.858 người, chiếm 95,42%, dân tộc Khmer 6.952 người,
tháng 03 năm 1988 do Hội đồng Bộ trưởng (nay là Chính phủ) ban hành Nghị
định 53/HĐBT. Đến tháng 07 năm 1988 mới chính thức đi vào hoạt động.
NHNo&PTNT chi nhánh huyện Đầm Dơi là đơn vị trực thuộc
NHNo&PTNT tỉnh Cà Mau, có trụ sở đặt tại khóm 4 thị trấn Đầm Dơi, tỉnh
Cà Mau. Là một đại diện pháp nhân thuộc hệ thống NHTM quốc doanh có con
dấu riêng hạch toán kinh tế nội bộ, hoạt động kinh doanh tổng hợp trên lĩnh
vực kinh doanh tiền tệ, tín dụng thanh toán và dịch vụ về ngân hàng theo quy
chế tổ chức và hoạt động của NHNo&PTNT Việt Nam.
Những năm đầu đi vào hoạt động đã gặp nhiều khó khăn, ở vào thời
điểm đó nhiều người gọi ngân hàng là 8 nhất: Thiếu vốn nhất, đông người
nhất, chi phí cao nhất, dư nợ thấp nhất, nợ quá hạn nhiều nhất, kinh doanh
Trang 18
thua lỗ nhất, nghiệp vụ yếu nhất, tổn thất rủi ro cao nhất. Những khó khăn đó
đã không cản trở được quyết tâm vươn lên của NHNo&PTNT chi nhánh
huyện Đầm Dơi. Sau những năm đổi mới, ngân hàng đã có những chuyển biến
mang ý nghĩa quyết định trong quá trình hoạt động. NHNo&PTNT chi nhánh
huyện Đầm Dơi đã vận dụng tốt những điểm mạnh để phát huy lợi thế là
NHTM quốc doanh lớn và uy tín trong hệ thống NHTM trên địa bàn huyện về
kinh doanh tổng hợp trong lĩnh vực tài chính – tiền tệ rất có hiệu quả. Lợi
nhuận đạt tốc độ tăng trưởng khá đã tạo cho sự hình thành nên bộ mặt của
ngân hàng như ngày hôm nay.
Thực hiện thành công việc đổi mới hệ thống IPCAS, NHNo&PTNT chi
nhánh huyện Đầm Dơi không ngừng mở rộng hoạt động kinh doanh trên nhiều
lĩnh vực nhằm đáp ứng tốt nhất mọi nhu cầu của khách hàng, thông qua cải
tiến phong cách làm việc, quy trình, thủ tục đầu tư và áp dụng nhiều loại hình
dịch vụ với những tiện ích mới,…Từ đó, NHNo&PTNT chi nhánh huyện Đầm
Dơi đã tận dụng được mọi khả năng và năng lực để nâng cao chất lượng hoạt
động kinh doanh, đa dạng hóa các hình thức huy động vốn và cho vay nhằm
thực hiện các chương trình tài trợ phát triển nông thôn, đóng góp xứng đáng
vào sự phát triển kinh tế nông thôn và giữ vị trí chủ đạo, chủ lực trên thị
(1.1) Giám đốc:
– Điều hành mọi hoạt động của đơn vị, theo chức năng nhiệm vụ, phạm
vi hoạt động của đơn vị.
– Phụ trách công tác kế hoạch tổ chức cán bộ, phân công nhiệm vụ cụ
thể cho từng bộ phận, và nhận thông tin phản hồi từ phòng ban.
– Có quyền quyết định cho một khoản vay trong phạm vi ủy quyền của
NHNo&PTNT tỉnh Cà Mau.
– Quyết định những vấn đề liên quan đến tổ chức, khen thưởng và kỹ
luật của cán bộ công nhân viên trong đơn vị.
– Quản lý và quyết định những vấn đề về cán bộ thuộc bộ máy của chi
nhánh theo sự phân công, ủy quyền của bộ máy NHNo&PTNT tỉnh Cà Mau.
(1.2) Phó giám đốc:
Trách nhiệm gồm: Phó giám đốc có trách nhiệm hỗ trợ cùng Giám đốc
trong các mặt nghiệp vụ tại ngân hàng. Quản lý một số hoạt động của chi
nhánh do Giám đốc phân công, được ủy quyền thay mặt Giám đốc giải quyết
các công việc chung khi Giám đốc đi vắng, chịu trách nhiệm trước Giám đốc
về những công việc được giao và chịu trách nhiệm trước pháp luật về các
quyết định của mình.
Cụ thể công việc của các Phó giám đốc là:
– Phó giám đốc phụ trách về nghiệp vụ kinh doanh.
– Phó giám đốc phụ trách về kế toán – ngân quỹ.
(2) Phòng hành chính – nhân sự
– Tổ chức thực hiện việc quản lý nhân sự, chi trả lương lao động, đào
tạo nhân viên, thực hiện chính sách cán bộ và công tác thi đua khen thưởng.
– Lập kế hoạch đầu tư xây dựng cơ bản, quản lý và mua sắm trang thiết
bị, công cụ lao động, sửa chữa tài sản của đơn vị, lễ tân và tổ chức thực hiện
theo kế hoạch được duyệt.
Trang 20
– Thực hiện công tác văn thư, hành chính, quản trị, làm thư ký chung
cho các cuộc họp của cơ quan, đầu mối phát hành và tiếp nhận văn thư, tư liệu
Đây là phòng giữ vị trí quan trọng hàng đầu, là nơi quyết định đến thành
công trong hoạt động cho vay cũng như hoạt động kinh doanh của chi nhánh.
Phòng này có các nhiệm vụ sau:
– Nghiên cứu tình hình kinh tế xã hội trên địa bàn hoạt động để lập kế
hoạch kinh doanh: ngắn, trung và dài hạn, đề xuất chiến lược khách hàng, kế
hoạch khai thác nguồn vốn. Hướng dẫn khách hàng lập hồ sơ vay đúng quy
định, nghiệp vụ, tiếp nhận và giải quyết hồ sơ xin vay theo quy định của
NHNN.
Trang 21
– Xây dựng kế hoạch kinh doanh theo định hướng của NHNo&PTNT
cấp trên và của Ban giám đốc.
– Tổng hợp báo cáo thống kê, thông tin kinh tế, nghiên cứu và đề xuất
các biện pháp chỉ đạo điều hành theo chuyên đề.
– Cân đối nguồn vốn, sử dụng vốn đầu mối làm thủ tục xin vay vốn điều
hòa từ NHNo&PTNT cấp trên.
– Tổng hợp, phân tích hoạt động kinh doanh hàng quý, năm làm báo cáo
sơ kết, tổng kết theo chuyên đề.
– Thẩm định phân loại khách hàng, đề xuất cho vay hay không cho vay
các dự án theo phân cấp ủy quyền.
– Nghiên cứu xây dựng chiến lược khách hàng tín dụng, phân loại khách
hàng tốt hay là xấu. Phân loại dư nợ, phân tích nợ quá hạn, tìm nguyên nhân
và đề xuất biện pháp khắc phục.
2.1.3. Kết quả hoạt động kinh doanh của Ngân hàng qua 3 năm (2009-
2011)
Mục tiêu quản lý của NHTM là tối đa hóa lợi nhuận của ngân hàng trên cơ
sở đảm bảo an toàn. Trong đó, lợi nhuận là một trong những chỉ tiêu đánh giá
hiệu quả hoạt động kinh doanh của ngân hàng. Ngân hàng phải làm thế nào để
sử dụng vốn một cách có hiệu quả nhất nhằm mang lại lợi nhuận cao nhất với
mức rủi ro có thể chấp nhận được. Đó cũng là mục tiêu quan trọng hàng đầu
trong suốt quá trình hoạt động kinh doanh của NHNo&PTNT chi nhánh
38.000 39.500 41.600 1.500 3,95 2.100 5,32
3. Lợi
nhuận
7.800 8.030 8.440 230 2,95 410 5,11
( Nguồn: Phòng kinh doanh NHNo&PTNT chi nhánh huyện Đầm Dơi )
Trong nền kinh tế thị trường hiện nay, việc cạnh tranh giữa các loại hình
doanh nghiệp, các tổ chức kinh tế là khá gay go, căng thẳng và ngày càng
nóng bỏng hơn, gay gắt hơn. Nhiều chiến lược được tung ra trên thị trường
như khuyến mãi, tiếp thị, quảng cáo các thương hiệu, sản phẩm,…chỉ nhằm
một mục đích là để có thể đứng vững trên thương trường và tối đa hóa lợi
nhuận. Để đánh giá hiệu quả kinh doanh ta dựa vào tình hình doanh thu, chi
phí, lợi nhuận của từng loại hình doanh nghiệp, các tổ chức kinh tế và ngân
hàng cũng không ngoại lệ.
Qua bảng số liệu 2.1 cho thấy tình hình doanh thu, chi phí và lợi nhuận của
ngân hàng đều có xu hướng tăng mạnh. Đặc biệt là doanh thu và lợi nhuận đây
là một thuận lợi rất lớn trong hoạt động tín dụng ngân hàng. Tuy hoạt động
kinh doanh ngân hàng rất đa dạng và phong phú nhưng hiện nay doanh thu của
ngân hàng tập trung dựa vào các khoản thu chủ yếu sau: thu từ hoạt động tín
dụng và thu ngoài tín dụng. Ba năm qua tình hình tín dụng ngày càng hiệu quả
doanh số cho vay và thu hồi vốn đều ở mức cao nên các khoản thu từ hoạt
động tín dụng tăng mạnh, đặc biệt là nhờ lãi suất cho vay những năm gần đây
luôn phải điều chỉnh cho phù hợp với cơ chế thị trường nên có xu hướng tăng.
Trang 23
Cụ thể là năm 2009, tổng doanh thu đạt 45.800 triệu đồng, trong đó thu từ
hoạt động tín dụng là 38.930 triệu đồng, chiếm khoảng 85% trên tổng doanh
thu, thu ngoài tín dụng là 6.870 triệu đồng. Còn tổng chi phí hoạt động 38.000
triệu đồng. Từ đó, kết quả lợi nhuận đạt được 7.800 triệu đồng.
Đến năm 2010, tổng doanh thu đạt được 47.530 triệu đồng, tăng 1.730 triệu
đồng, tương ứng với mức tăng 3,78% so với năm 2009. Trong đó thu từ hoạt
động tín dụng là 39.450 triệu đồng, tăng 520 triệu đồng, tương ứng với mức
Ta cũng biết cho vay là hoạt động chủ chốt để tạo ra lợi nhuận trong kinh
doanh tiền tệ và thực tế cho thấy, tại NHNo&PTNT chi nhánh huyện Đầm Dơi
trong tổng thu nhập của ngân hàng thì thu từ hoạt động cho vay chiếm tỷ trọng
lớn nhất, hầu hết chiếm khoảng 85% thu nhập của ngân hàng, tuy có sự thay
đổi và chênh lệch giữa các năm nhưng không đáng kể.
Từ kết quả hoạt động kinh doanh trên, nguyên nhân làm cho lợi nhuận tăng
lên là do ngân hàng định hướng đúng đắn hoạt động tín dụng, tích cực tìm
kiếm khách hàng sản xuất, kinh doanh có hiệu quả, có uy tín trong quan hệ tín
dụng.
Có được kết quả hoạt động kinh doanh như trên là do sự nỗ lực của đội ngũ
cán bộ công nhân viên (CBCNV) NHNo&PTNT chi nhánh huyện Đầm Dơi
mà trên hết là sự điều hành, quản lý có hiệu quả của Ban giám đốc trong việc
mở rộng kinh doanh với nhiều giải pháp thích hợp và phát huy những thuận
lợi, khắc phục những khó khăn để ngân hàng ngày càng phát triển.
2.1.4. Những thuận lợi và khó khăn của NHNo&PTNT chi nhánh
huyện Đầm Dơi
2.1.4.1. Thuận lợi
– NHNo&PTNT chi nhánh huyện Đầm Dơi có trụ sở đặt tại trung tâm
huyện thuận tiện cả đường sông và đường bộ, tạo điều kiện thuận lợi cho
khách hàng đến giao dịch. Đồng thời, đây là điều kiện tốt để nắm bắt thông tin
về kinh tế, chính trị, xã hội.
– Ngân hàng hoạt động luôn được sự quan tâm chỉ đạo và hỗ trợ thường
xuyên của ngân hàng cấp trên, cũng như sự quan tâm và giúp đỡ của các cấp
chính quyền địa phương, các ban ngành, các cấp ủy sẵn sàng hợp tác và tạo
điều kiện thuận lợi cho hoạt động của ngân hàng.
– Về tình hình nợ xấu: Chi nhánh nhận được sự hỗ trợ từ Ban giám đốc
NHNo Tỉnh, thành lập đoàn xử lý nợ trực tiếp xử lý nợ xấu tại huyện Đầm
Trang 25