MỤC LỤC
BẢNG BIỂU
STT Tên bảng biểu Số trang
1 Các bước thự hiện hợp đồng xuất khẩu 20
2 Sơ đồ cơ cấu tổ chức công ty 44
3 Mặt hàng xuất khẩu chủ yếu 49
4 Tình hình xuất khẩu của TOCONTAP 2006 -2007 (theo thị
trường)
51-52
5 Kim ngạch xuất nhập qua các năm của Cty cổ phần XNK tạp
phẩm
53
6 Cơ cấu hàng xuất khẩu chính 54
7 Hình thức xuất khẩu của Công ty TOCONTAP năm 2006-
2007
55
8 Tình hình thực hiện kim ngạch từng phòng 56-57
9 Chỉ tiêu kim ngạch xuất nhập khẩu của TOCOTAP (năm
2006-2010)
66
1
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
TOCONTAP: Công ty Cổ phần xuất nhập khẩu tạp phẩm
XNK: xuất nhập khẩu
CP: cổ phần
XK: xuất khẩu
L/C: thư tín dụng
IMF: quỹ tiền tệ thế giới
WTO: tổ chức thương mại quốc tế
tập tại trường Đại học Kinh tế Quốc dân, được sự hướng dẫn tận tình của Giáo sư,
tiến si Đào Đức Bình cùng các cô chú trong công ty nên em đã chọn đề tài "Hoàn
thiện hoạt động xuất khẩu ở Công ty CP xuất nhập khẩu tạp phẩm
(TOCONTAP)" cho luận văn tốt nghiệp của em.
Nội dung chính của luận văn tốt nghiệp gồm 3 chương:
Chương 1: Một số vấn đề lí luận về xuất khẩu, sự cần thiết hoàn thiện về
xuất khẩu
Chương 2: Phân tích hoạt động xuất khẩu ở Công ty CP xuất nhập khẩu
tạp phẩm
Chương 3: Một số giải pháp và kiến nghị nhằm hoàn thiện hoạt động
xuất khẩu của công ty CP xuất nhập khẩu tạp phẩm trong thời gian tới
Mục đích nghiên cứu đề tài: Nghiên cứu lý luận về hoạt động xuất khẩu,
đánh giá hoạt động xuất khẩu hàng hoá tại công ty CP xuất nhập khẩu tạp phẩm...
Từ đó đề ra một số biện pháp nhằm đẩy mạnh hoạt động xuất khẩu các mặt hàng
thế mạnh nói riêng và hàng hoá mà công ty đang kinh doanh nói chung.
Đối tượng nghiên cứu: Chủ yếu là hoạt động xuất khẩu hàng hoá của công ty
trong thời gian gần đây và các giải pháp để đẩy mạnh hoạt động này.
Phạm vi nghiên cứu: Là các mặt hàng xuất khẩu của công ty trong thời gian
qua.
Đây là một đề tài có đối tượng và phạm vi nghiên cứu rộng, với trình độ và
kiến thức hạn chế nên đề tài của em không thể tránh khỏi những thiếu sót. Em rất
mong nhận được sự đóng góp, giúp đỡ, chỉ bảo của các thầy cô giáo và các bạn để
hoàn thiện tốt hơn đề tài nghiên cứu này.
Qua đây em cũng xin cảm ơn các cô chú trong công ty và thầy giáo Đào Đức
Bình đã giúp đỡ em trong thời gian thực tập cũng như thực hiện đề tài này.
4
Chương 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÍ LUẦN VỀ XUẤT KHẨU,
SỰ CẦN THIẾT HOÀN THIỆN VỀ XUẤT KHẨU
độ chính sách, luật pháp, kinh tế, văn hoá, đặc biệt là chịu ảnh hưởng của tỷ giá
hối đoái và tỷ suất ngoại tệ hàng xuất khẩu. Ngoài ra các yếu tố thuộc môi trường
vi mô như sự cạnh tranh của các đối thủ, tiềm năng tài chính, chiến lược kinh
doanh của công ty cũng ảnh hưởng đáng kể đến hoạt động xuất khẩu. Do chịu sự
chi phối của các nhân tố trên mà hoạt động hoạt động kinh doanh xuất khẩu mặc
dù lợi nhuận cao nhưng lại có tính rủi ro tương đối lớn.
- Hoạt động xuất khẩu xét về mặt bản chất chính là hợp đồng mua bán quốc
tế được ký kết trên cơ sở tự nguyện của các bên, do đó mà nó chịu sự điều chỉnh
bởi nhiều hệ thống luật như luật quốc gia, luật quốc tế. Khi hoạt động này diễn ra
đồng nghĩa với việc ký kết hoạt đồng mua bán quốc tế, khi đó người bán sẽ
chuyển giao chứng từ có liên quan đến hàng hoá và chuyển giao quyền sở hữu
hàng hoá ấy cho người mua, người mua phải có trách nhiệm thanh toán và nhận
hàng. Quá trình này diễn ra kèm theo với nó là các thủ tục hải quan và thủ tục
hành chính khác. Nhưng đồng tiền thanh toán phải là ngoại tệ đối với một trong
hai đối tác, thông thường đó là các ngoại tệ mạnh như USD, JPY, EURO...
- Hoạt động xuất khẩu là hoạt động mua bán hàng hoá vượt ra khỏi biên
giới quốc gia nên phải sử dụng các phương tiện vận tải chuyên dụng như: Vận tải
đường biển, đường sắt, máy bay hoặc đường bộ. Vận chuyển hàng hoá từ nơi
người bán đến tận tay người mua thường là phải qua quãng đường dài đó là hàng
6
hoá phải được đóng gói trong bao bì đảm bảo phù hợp với phương tiện vận tải,
điều kiện khí hậu, tránh hao mòn, mất mát và hư hỏng.
- Bản chất của xuất khẩu là hợp đồng mua bán quốc tế nên phải thống nhất
ngôn ngữ soạn thảo, phải là hình thức văn bản có chũ ký pháp lý, các điều kiện và
điều khoản phải rõ ràng, súc tích và phải thống nhất và chỉ rõ luật điều chỉnh.
1.2.Phương thức và các hình thức xuất khẩu
1.2.1.Các phương thức xuất khẩu
1.2.1.1.Xuất khẩu trực tiếp
Xuất khẩu trực tiếp là hoạt động bán hàng trực tiếp của một công ty chó
hàng hoạt động trên danh nghĩa của công ty xuất khẩu nên là nhà xuất khẩu gián
tiếp. Công ty quản lý xuất khẩu đơn thuần làm các thủ tục xuất khẩu và thu phí
dịch vụ xuất khẩu. Bản chất công ty quản lý xuất khẩu là làm các dịch vụ quản lý
và thu được khoản tiền thù lao nhất định từ các hoạt động đó.
Công ty kinh doanh xuất khẩu (Export trading company): là công ty hoạt
động như nhà phân phối độc lập có chức năng kết nối các khách hàng nước ngoài
với các công ty xuất khẩu trong nước để đưa các hàng hóa ra nước ngoài tiêu thụ.
Ngoài việc thực hiện các hoạt động liên quan trực tiếp đến xuất khẩu, các công ty
còn cung ứng các dịch vụ xuất nhập khẩu và thương mại đối lưu, thiết lập và mở
rộng các kênh phân phối, tài trợ cho các dự án thương mại và đầu tư, thậm chí
trực tiếp thực hiện sản xuất để bổ trợ một công đoạn nào đó cho sản phẩm, ví dụ
như bao gói, in ấn … Bản chất của công ty kinh doanh xuất khẩu là thực hiện các
dịch vụ xuất khẩu nhằm kết nối các khách hàng nước ngoài với công ty xuất khẩu.
Tuy nhiên, các công ty kinh doanh dịch vụ xuất khẩu này có nhiều vốn, mối quan
hệ và cơ sở vật chất tốt nên có thể làm các dịch vụ bổ trợ cho hoạt động xuất khẩu
của công ty xuất khẩu. Công ty kinh doanh dịch vụ bổ trợ cho hoạt động xuất
khẩu của công ty xuất khẩu. Công ty kinh doanh xuất khẩu có kinh nghiệm,
chuyên sâu về thị trường nước ngoài và có các chuyên gia chuyên làm dịch vụ
xuất khẩu. Các công ty kinh doanh xuất khẩu có nguồn thu cố định từ các dịch vụ
xuất khẩu và tự bỏ chi phí cho hoạt động của mình. Các công ty này có thể cung
cấp các chuyên gia xuất khẩu cho các công ty xuất khẩu.
8
Đại lý vận tải là các công ty thực hiện các dịch vụ thuê vân chuyển và
những hoạt động có liên quan đến xuất nhập khẩu hàng hóa như khai báo hải
quan, áp biểu thuế quan, thực hiện giao nhận chuyên chở và bảo hiểm. Các đại lý
vân tải này cũng thực hiện các nghiệp vụ xuất khẩu và phát triển nhieuf loại hình
dịch vụ giao nhận hàng hóa đến tận tay người nhận. Khi các công ty xuất khẩu
thông qua các đại lý vẫn taiir hay các công ty xuất nhập khẩu liên quan tới hàng
hóa đó. Bản chất của các đại lý vận tải hoạt động như các công ty kinh doanh dịch
hợp đồng vì doanh nghiệp phải tự bỏ vốn của mình ra, chịu mọi chi phí và rủi ro
có thể xảy ra.
1.2.2.3. Xuất khẩu liên doanh.
Đây là hoạt động xuất khẩu hàng hoá trên cơ sở liên kết kinh tế tự nguyện
giữa các doanh nghiệp nhằm phối hợp khả năng để cùng nhau giao dịch và đề ra
các chủ trương, biện pháp có liên quan đến hoạt động XK, thúc đẩy hoạt động này
phát triển theo hướng có lợi nhất cho tất cả các bên, cùng chia lãi hoặc cùng chịu
lỗ.
So với hình thức xuất khẩu tự doanh thì trong hình thức này, từng doanh
nghiệp được chia sẻ rủi ro, vì mỗi doanh nghiệp liên doanh XK chỉ góp một phần
vốn nhất định, quyền hạn và trách nhiệm của mỗi bên cũng phân theo số vốn góp.
1.2.2.4. Xuất khẩu đổi hàng
Xuất khẩu đổi hàng cùng với trao đổi bù trừ là hai loại nghiệp vụ chủ yếu
của buôn bán đối lưu, nó là hình thức xuất khẩu gắn liền với nhập khẩu, thanh
toán theo hình thức này không phải dùng tiền mà bằng hàng hoá.
Để có thể thực hiện được hình thức xuất khẩu này thì hàng hoá nhập và
hàng hoá xuất phải tương đương nhau về giá trị, bạn hàng bán và mua là một.
1.2.2.5. Gia công quốc tế
Là hoạt động kinh doanh thương mại, trong đó một bên (bên nhận gia
công) nhận nguyên liệu hoặc bán thành phẩm của một bên khác ( bên đặt gia
công) để chế biến thành phẩm, giao lại cho bên đặt gia công và được nhận phí gia
công. Ngành dệt may Việt Nam sử dụng hình thức này là chủ yếu.
10
1.2.2.6. Tạm nhập, tái xuất
Là hình thức xuất khẩu trở lại ra nước ngoài những hàng hoá đã được nhập
khẩu nhưng chưa qua chế biến ở nước tái xuất.
* Trên đây là khái quát một số hình thức XK nói chung và cũng đang được áp
dụng phổ biến ở nước ta hiện nay.
1.3.Những nội dung chủ yếu về hoạt động xuất khẩu
liệu thống kê của liên hợp quốc...
Khi nghiên cứu thị trường xuất khẩu thì doanh nghiệp phải tiến hành các
công việc sau:
- Nghiên cứu tình hình cung cầu của hàng hoá trên thị trường: Doanh nghiệp
phải xác định được tổng cung, tổng cầu dự báo của thế giới, của khu vực hay
quốc gia, xác định được quy mô, dung lượng của thị trường thị hiếu tiêu dùng sản
phẩm, chu kỳ sống của sản phẩm, vấn đề nguyên vật liệu sản xuất sản phẩm ...
Ngoài ra cần phải xác định xem nhân tố nào có ý nghĩa quan trọng quyết định đến
triển vọng bán hàng tại thời điểm nghiên cứu và trong tương lai.
- Nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng: Xem xét các yếu tố thuộc môi trường
vĩ mô (kinh tế, chính trị, văn hoá...) các yếu tố thuộc môi trường vĩ mô (cạnh
tranh, giá cả cung cầu, khả năng tài chính ....). Lợi ích thu được từ nghiên cứu các
nhân tố ảnh hưởng là giúp cho doanh nghiệp tránh được rủi ro và thua lỗ khi thâm
nhập thị trường. Vấn đề giá cả có thể được nghiên cứu kỹ lưỡng hơn vì nó quyết
định đến lợi nhuận của doanh nghiệp. ảnh hưởng đến sức tiêu thụ của sản phẩm,
đây là vấn đề chiến lược vì nó là điều kiện để đảm bảo hiệu quả kinh tế trong kinh
doanh xuất khẩu.
- Xác định đối tác kinh doanh: Mục tiêu của công việc này để tìm cho doanh
nghiệp người cộng tác tin cậy, an toàn và kinh doanh có lãi. Khi đó cần xem xét
xem đối tác kinh doanh trong lĩnh vực gì, quan điểm kinh doanh, khả năng tài
chính, mức độ uy tín của họ trên thị trường và phạm vi trách nhiệm của họ để
công tác. Nên chọn những đối tác trực tiếp, tránh đối tác trung gian.
12
- Nghiên cứu chính sách ngoại thương của các quốc gia, xem xét chính sách
thị trường, chính sách ưu đãi, chính sách mặt hàng... Các chính sách này quyết
định đến việc doanh nghiệp lựa chọn mặt hàng và phương thức thâm nhập thị
trường đó.
1.3.1.2.Lựa chọn mặt hàng xuất khẩu
- Lựa chọn mặt hàng xuất khẩu phụ thuộc rất nhiều vào chính sách thị trường,
1.3.2. Lập phương án kinh doanh và tạo nguồn hàng xuất khẩu
1.3.2.1.Lập phương án kinh doanh: Trên cơ sở những kết quả thu lượm được
trong quá trình nghiên cứu tiếp cận thị trường đơn vị kinh doanh lập phương án
xuất khẩu. Việc xây dựng phương án xuất khẩu bao gồm các bước sau:
-Đánh giá tình hình thị trường và thương nhân nhằm rút ra những nét tổng
quát về tình hình, phân tích khó khăn và thuận lợi trong xuất khẩu.
-Lựa chọn mặt hàng, thời cơ, điều kiện và phương thức xuất khẩu. Sự lựa
chọn này phải có tính thuyết phục trên cơ sở phân tích những tình hình có liên
quan.
-Đề ra mục tiêu cụ thể. Những mục tiêu đề ra trông phương án xuất khẩu
bao giờ cũng là nhưng mục tiêu cụ thể như: sẽ bán được bao nhiêu hàng, với giá
bao nhiêu, sẽ thâm nhập vào thị trường nào…
-Đề ra biện pháp thực hiện. Những biên pháp này là công cụ để đạt tới mục
tiêu đề ra
-Sơ bộ đánh giá hiệu quả kinh tể của việc xuất khẩu. Hiệu quả kinh tế của
việc xuất khẩu được đánh giá thông qua nhiều chỉ tiêu khác nhau, trong đó chủ
yếu là:
+Chỉ tiêu tỉ suất ngoại tệ
+Chỉ tiêu thời gian hoàn vốn.
+Chỉ tiêu tỉ suất doanh lợi
+Chỉ tiêu điểm hòa vốn.
1.3.2.2.Công tác tạo nguồn hàng xuất khẩu.
14
Nguồn hàng là toàn bộ khối lượng và cơ cấu hàng hoá thích hợp với nhu
cầu khách hàng có khả năng huy động trong kỳ kế hoạch. Muốn khai thác nguồn
hàng thì doanh nghiệp phải nghiên cứu nguồn hàng. Công việc này có ý nghĩa
chiến lược đối với uy tín, ổn định tính linh động và chi phí sản xuất của doanh
nghiệp.
Có 2 phương pháp nghiên cứu nguồn hàng là:
tịch. Các bên có thể lựa chọn công ước quốc tế, pháp luật nước ngoài, các tập
quán thương mại quốc tế để điều chỉnh hợp đồng ngoại thương. Việc lựa chọn
nguồn luật điều chỉnh do 2 bên tự thoả thuận, các hợp đồng được sử dụng thường
căn cứ vào mẫu để xây dựng, đối với những trường hợp phức tạp, nhiều mặt hàng,
thì kèm theo hợp đồng phải có các bên phụ kiện, có thể bổ sung, lược bỏ đi những
điều kiện không cần thiết cho phù hợp với thực tiễn.
Trong kinh doanh quốc tế, tuỳ thuộc vào hình thức kinh doanh mà có các
loại hợp đồng cụ thể: hợp đồng xuất nhập khẩu hàng hoá, hợp đồng gia công, hợp
đồng uỷ thác xuất khẩu, hợp đồng chuyển giao công nghệ... Các hợp đồng này
bên cạnh các điều khoản thông thường còn có các điều khoản riêng biệt cho từng
loại.Một hợp đồng mua bán quốc tế thương gồm các điều khoản chủ yếu sau:
-Tên hàng: Đây là điều khoản quan trọng nhất, nó nói lên chính xác đối
tượng mua bán, trao đổi. Tên hàng phải được diễn đạt chính xác vì nó liên quan
đến quyền lợi và nghĩa vụ của cả hai bên cùng như liên quan đến các quy định của
Nhà Nước.
-Phẩm chất: Điều khoản này nói lên tính năng, quy cách, kích thước, tác
dụng, công suất, hiệu suất … của hàng hóa mua bán.
-Số lượng: Điều khoản này bao gồm các vấn đề về đơn vị tính số lượng
(hoặc trọng lược) của hàng hóa, phương pháp quy định số lượng và xác định
trọng lượng.
-Bao bì: Trong điều khoản này các bên phải thỏa thuận với nhau những vấn
đề về yêu cầu chất lượng của bao bì và giá cả của bao bì.
-Giá cả: Trong điều khoản này cần quy định rõ về đồng tiền tính giá, mức
giá, phương pháp tính quy định giá, phương pháp xác định mức giá, cơ sở của giá
cả và việc giảm giá.
16
-Giao hàng: Nội dung cơ bản của điều khoản này là xác định địa điểm và
thời hạn giao hàng, xác định phương thức giao hàng và việc thông báo giao hàng.
-Thanh toán: Trong điều khoản này các bên xác đinh những vấn đề về đồng
tục thông
quan
Chuẩn
bị hàng
hóa
Kiểm tra
hàng hóa
Thuê
phương
tiện
v/tải
Mua bảo
hiểm
hàng hóa
Xin giấy
phép
xuất
khẩu
Mở và
kiểm tra
L/C
mại hoặc Bộ chuyên ngành. Khi đối tượng hợp đòng thuộc phạm vi phải xin giấy
phép xuất khẩu đơn vị kinh doanh phải xuất trình hồ sơ xin phép gồm: hợp đồng,
phiếu hạn ngạch (nếu hàng thuộc diện quản lý bằng hạn ngạch), hợp đồng ủy thác
xuất khẩu (nếu đó là trường hợp xuất khẩu ủy thác)…
Mở L/C và kiểm tra L/C
Nếu hợp đồng xuất khẩu quy định việc thanh toán bằng thư tín dụng, đơn vị
kinh doanh xuất khẩu phải đôn đốc người mua ở nước ngoài mở thư tín dụng
(L/C) đúng hạn và sau khi nhận được L/C phải kiểm tra L/C và khả năng thuận
Gia công hoặc bán nguyên liệu thu mua hàng xuất khẩu.
Liên doanh, liên kết tạo nguồn hàng xuất khẩu.
Xuất khẩu uỷ thác.
* Tổ chức hệ thống tập trung hàng xuất khẩu bao gồm hệ thống các chi
nhánh, đại lý, kho bãi, vận tải, thông tin quản lý, kỹ thuật, công nghệ và nguồn
lực thích hợp. Doanh nghiệp phải dựa trên đặc điểm mặt hàng, đặc điểm nguồn
hàng và hình thức giao dịch để tổ chức hệ thống tập trung hàng có hiệu quả.
Bao gói hàng xuất khẩu
Dựa trên căn cứ vào số lượng hàng hoá, tính chất hàng hoá và chất lượng
bao bì mà hợp đồng đã ký kết, doanh nghiệp cần xác định được nhu cầu bao bì để
có kế hoạch cung ứng bao bì cho đầy đủ và đúng thời điểm.
Khi đóng gói có thể đóng gói hở và đóng gói kín. Khi đóng gói hàng hoá
phải đảm bảo đúng kỹ thuật. Kể cả vật liệu dùng để chèn lót và việc chèn lót cũng
phải đảm bảo đúng kỹ thuật, để đảm bảo thuận tiện và tối ưu trong bốc xếp hàng
hoá.
Kẻ kỹ mã hiệu hàng xuất khẩu
Ký mã hiệu là những kỹ hiệu bằng chữ, bằng số hoặc bằng hình vẽ được
ghi trên bao bì bên ngoài nhằm cung cấp thông tin cần thiết cho quá trình giao
nhận, bốc xếp, vận chuyển và bảo quản hàng hoá. Nội dung của ký mã hiệu bao
gồm thông tin cần thiết về người nhận hàng, thông tin cần thiết cho việc vận
19
chuyển hang hoá, cũng như thông tin về hướng dẫn cách xếp đặt, bốc dỡ, bảo
quản hàng hoá.
1.3.4.2.Nhóm bước kiểm tra, mua bảo hiểm hàng hoá và thuê phương tiên vận
tải
Kiểm tra hàng hoá
Trước khi giao hàng xuất khẩu cho người mua thi nhà xuất khẩu phải có
nghĩa vụ kiểm tra hàng hoá về số lượng, chất lượng, trọng lượng bao bì. Nếu đó là
động vật, thực vật thì phải kiểm dịch, nếu là hàng thực phẩm thì phải kiểm tra vệ
của doanh nghiệp mà có thể áp dụng các hình thức thuê phương tiện vận tải sau:
Vận tải bằng đường biển: đây là hình thức vận tải chủ yếu trong xuất khẩu
hàng hoá. Có các phương thức sau:
Phương thức thuê tàu chợ
Phương thức thuê tàu chuyến
Ngoài ra còn có các hình thức vận tải khác như: vận tải bằng đường sắt,
bằng đường hàng không, bằng ô tô, bằng container hay vận tải đa phương thức:
kết hợp ít nhất hai trong số các hình thức vận tải trên.
Lựa chọn phương thức vận tải nào thì đều liên quan đến các chứng từ liên
quan đến hợp đồng thuê phương tiện vận tải, đến vận đơn hay các thủ tục hải
quan… khi tiến hành thuê các phương tiện vận tải, cũng cần chú ý đến trình tự
các công việc phải làm, đến quyền lợi và trách nhiệm của doanh nghiệp và đơn vị
cho thuê phương tiện vận tải.
Mua bảo hiểm hàng hoá
Trong kinh doanh thương mại quốc tế hàng hoá thường phải vận chuyển đi
xa, trong những điều kiện vận tải phức tạp, do đó hàng dễ bị hư hỏng, mất mát,
tổn thất trong quá trình vận chuyển. Chính vì vậy, những người kinh doanh
thương mại quốc tế thường mua bảo hiểm cho hàng hoá để giảm bớt các rủi ro có
thể xảy ra.
* Căn cứ mua bảo hiểm cho hàng hoá:
21
Căn cứ vào điều kiện cơ sở giao hàng trong hợp đồng đã ký kết. Nếu rủi ro
về hàng hoá thuộc về trách nhiệm của người xuất khẩu thì doanh nghiệp xuất
khẩu cần tiến hành mua bảo hiểm cho hàng hóa.
Căn cứ vào hàng hoá vận chuyển: đó là khối lượng, giá trị và đặc điểm của
hàng hoá vận chuyển.
Căn cứ vào điều kiện vận chuyển như loại phương tiện vận chuyển, chất
lượng của phương tiện, loại bao bì bốc dỡ và hành trình vận chuyển.
* Nghiệp vụ mua bảo hiểm cho hang hoá xuất khẩu.Khi tiến hành mua bảo
Thông quan - Cho hàng qua biên giới -
Cho hàng hoá qua biên giới có điệu kiện như phải sửa chữa khắc phục lại,
phải nộp thuế xuất khẩu.
Không được phép xuất khẩu.
Giao hàng cho người vận tải
Trong kinh doanh thương mại quốc tế, có nhiều phương thức vận tải. Mỗi
phương thức vận tải có quy trình nhận hàng hoá khác nhau.
* Giao hàng với tầu biển
Hàng xuất khẩu chủ yếu được giao bằng đường biển và được tiến hành theo
các bước sau:
- Căn cứ vào các chi tiết hàng xuất khẩu, lập bảng kê hàng hoá chuyên chở
cho người vận tải để đổi lấy cơ sở xếp hàng.
-Trao đổi với cơ quan điều độ cảng để nắm vững kế hoạch giao hàng
-Bốc dỡ lên tầu
-Sau khi giao nhận hàng xong lấy biên lai thuyền phó để xác nhận hàng đã
giao nhận xong, trong đó xác nhận: số lượng hàng hoá, tình trạng hàng hoá, cảng
đến…
23
-Trên cơ sở biên lai thuyền phó đổi lấy vận đơn đường biển, điều quan
trọng là phải lấy được vận đơn hoàn hảo hay vận đơn sạch.
* Vận tải bằng đường sắt
Giao hàng cho vận tải đường sắt có hai hình thức:
+Giao hàng chiếm đủ một toa xe, người xuất khẩu tiến hành các bước sau:
Đăng ký với cơ quan đường sắt để cung cấp toa xe phù hợp với khối lượng,
tính chất hàng hoá.
Khi được cấp toa xe, tổ chức vận chuyển hàng đến địa điểm quy định
Làm thủ tục hải quan, mời cơ quan hải quan kiểm tra hàng hoá, đồng thời
lên toa tầu niêm phong kẹp chì.
Giao toa tầu đã được niêm phong kẹp chì cho cơ quan đường sắt để lấy vận
Thủ tục thanh toán
Hiện nay có rất nhiều phương thức thanh toán như tín dụng chứng từ, nhờ
thu, giao chứng từ chuyển tiền và chuyển tiền(điện T/T hay thư M/T). Tuy nhiên
có hai loại chủ yếu được dùng trong các doanh nghiệp kinh doanh xuất nhập khẩu
đó là phương thức thanh toán thư tín dụng chứng từ và phương thức thanh toán
chuyển tiền (điện chuyển tiền).
* Thanh toán bằng phương thức tín dụng chứng từ
Trước khi đến thời hạn đã thoả thuận, doanh nghiệp xuất khẩu nhắc nhở,
đôn đốc người mua mở tín dụng (L/C) đúng thời hạn.
Khi được thông báo chính thức về việc mở L/C cần kiểm tra kỹ lưỡng L/C
trên các nội dung sau: kiểm tra tính chân thực L/C và kiểm tra nội dung của L/C.
Cơ sở để kiểm tra là hợp đồng thương mại quốc tế đã ký kết. Trong đó việc kiểm
tra nội dung là khâu cực kỳ quan trọng trong việc thực hiện phương thức tín dụng
chứng từ. Nội dung của L/C phải phù hợp với nội dung của hợp đồng.
25