MỤC LỤC TRANG
PHẦN MỞ ĐẦU…………………………………………………………………….4
1. Đặt vấn đề…………………………………………………………………………4
2. Mục đích nghiên cứu…………………………………………………………… 4
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu……………………………………………… 4
4. Phương pháp nghiên cứu………………………………………………………….4
5. Cấu trúc của tiểu luận……………………………………………………… 5
CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN VỀ TRƯỜNG THPT YÊN LẠC VÀ TRƯỜNG
THPT NGÔ GIA TỰ……………………………………………………………….6
1.1. Tổng quan về trường THPT Yên Lạc …………………………………………… 6
1.1.1. Tổng quan về tình hình địa phương……………………………………6
1.1.2. Tổng quan về trường THPT Yên Lạc …………………………………7
1.2. Tổng quan về trường THPT Ngô Gia Tự…………………………………… 8
1.2.1. Tổng quan về tình hình địa phương………………………………… 8
1.2.2. Tổng quan về trường THPT Ngô Gia Tự…………………………….10
CHƯƠNG 2. SO SÁNH KẾT QUẢ THI CHỌN HỌC SINH GIỎI KHỐI 10,
11 CỦA TRƯỜNG THPT YÊN LẠC VÀ TRƯỜNG THPT NGÔ GIA TỰ
GIAI ĐOẠN 2012 – 2014……………………………………………………… 12
2.1. Tỷ lệ đạt giải trong kỳ thi chọn học sinh giỏi khối 10, 11 của 2 trường từ năm
2012 – 2014……………………………………………………………………… 12
2.2. Kết quả thi chọn học sinh giỏi khối 10, 11 cấp tỉnh năm học 2012-2013………… 13
2.2.1. Kết quả thi chọn học sinh giỏi khối 10 cấp tỉnh năm 2012-
2013……… 13
2.2.2. Kết quả thi chọn học sinh giỏi khối 11 cấp tỉnh năm 2012-
2013……… 14
2.3. Kết quả thi chọn học sinh giỏi khối 10, 11 cấp tỉnh năm 2013-2014…………… 15
2.3.1. Kết quả thi chọn học sinh giỏi khối 10 cấp tỉnh năm 2013-2014… 15
2.3.2. Kết quả thi chọn học sinh giỏi khối 11 cấp tỉnh năm 2013-2014 …16
2.4. Nhận xét………………………………………………………………………17
CHƯƠNG 3. NGUYÊN NHÂN VÀ GIẢI PHÁP…………… ………… 20
3.1. Nguyên nhân……………………………………………………………….…20
14
Bảng 2.4. Kết quả thi chọn học sinh giỏi khối 10 cấp tỉnh năm
học 2013-2014
15
Bảng 2.5. Kết quả thi chọn học sinh giỏi khối 11 cấp tỉnh năm
học 2013-2014
16
Biểu đồ 2.1. So sánh kết quả thi chọn học sinh giỏi khối 10 cấp tỉnh
năm học 2012 – 2013
13
Biểu đồ 2.2. So sánh kết quả thi chọn học sinh giỏi khối 11 cấp tỉnh
năm học 2012-2013
14
Biểu đồ 2.3. So sánh kết quả thi chọn học sinh giỏi khối 10 cấp tỉnh
năm học 2013-2014
15
Biểu đồ 2.4. Kết quả thi chọn học sinh giỏi khối 11 cấp tỉnh năm
học 2013-2014
16
PHẦN MỞ ĐẦU
3
1. Đặt vấn đề
Trường THPT Yên Lạc và trường THPT Ngô Gia Tự là hai trường phổ
thông đóng tại hai huyện khác nhau của tỉnh Vĩnh Phúc. Tuy nhiên hai ngôi
trường này có lịch sử thành lập trường trong cùng một khoảng thời gian từ
những năm 60 của thế kỷ XX. Trải qua bao nhiêu năm trưởng thành và phát
triển cho đến ngày nay cả hai trường đều đã đạt được những thành tựu riêng.
Để tạo nên thương hiệu cho nhà trường thì chất lượng đội ngũ giáo viên
và chất lượng học sinh đầu vào là vô cùng quan trọng. Một trong những yếu tố
tạo nên thương hiệu của nhà trường đó là kết quả đạt được trong các kỳ thi chọn
TỔNG QUAN VỀ TRƯỜNG THPT YÊN LẠC VÀ
TRƯỜNG THPT NGÔ GIA TỰ
1.1. Tổng quan về trường THPT Yên Lạc
1.1.1. Tổng quan về tình hình địa phương
Trường THPT Yên Lạc đóng trên địa bàn huyện Yên Lạc, là một trong
số các huyện đồng bằng phía Nam của tỉnh Vĩnh Phúc. Diện tích tự nhiên của
huyện là 106,72 km
2
, Yên Lạc có số dân là 148.600 người, mật độ dân số là
1380 người/km
2
(năm 2010). Yên Lạc có vị trí địa lý như sau:
- Phía Bắc giáp huyện Vĩnh Yên và huyện Tam Dương
- Phía Tây giáp huyện Vĩnh Tường
- Phía Đông giáp huyện Bình Xuyên và Mê Linh
- Phía Nam là Sông Hồng tiếp giáp với tỉnh Hà Tây
Huyện Yên Lạc có 17 đơn vị hành chính gồm 1 thị trấn và 16 xã.
Vị trí địa chính trị và địa kinh tế của huyện có nhiều thuận lợi như giáp
liền kề với các huyện là những địa bàn có tốc độ tăng trưởng nhanh, là động
lực phát triển của tỉnh Vĩnh Phúc (Huyện Vĩnh Yên, Phúc Yên, các huyện Mê
Linh, Bình Xuyên). Đồng thời, khoảng cách từ huyện đến Hà Nội cũng không
lớn (50-60 Km). Từ huyện dễ dàng kết nối thông thương với bên ngoài bằng
hệ thống đường bộ và đường thuỷ.
Hầu hết diện tích của huyện là đồng bằng, tương đối bằng phẳng thuận
tiện cho sản xuất nông nghiệp và thuỷ sản. Đất của Yên Lạc chủ yếu là đất
phù sa Sông Hồng, có độ phì cao, thích hợp và rất tốt cho nhiều loại cây trồng,
đặc biệt là cây lương thực, rau, đậu thực phẩm và cây ăn quả.
Có đủ loại tài nguyên đất, nước, tài nguyên du lịch và nhân văn phục
6 giải nhất, tăng 20 giải nhì, tăng 20 giải ba, tăng 18 giải KK. Kết quả thi
tuyển sinh đại học tăng 35 bậc trên bảng xếp hạng, đứng ở vị trí thứ 71 trên
tổng số 2772 trường có học sinh dự thi đại học năm 2011. Xét trong tỉnh,
trường THPT Yên Lạc xếp thứ 2 sau trường THPT chuyên Vĩnh Phúc.
0123*45
7
Nhà trường hiện có 5 dãy nhà 2 tầng và 1 dãy nhà 3 tầng. Có 36 phòng học,
diện tích mỗi phòng 54m
2
, có 15 phòng trang bị máy chiếu Projecter: 7 phòng bộ
môn diện tích mỗi phòng 72m
2
trong đó 4 phòng tin với 153 máy kết nối Internet.
Các phòng Lý, Hóa, Sinh có các thiết bị đáp ứng yêu cầu học tập. Thư viện có
diện tích phòng đọc 72m
2
, kho sách 36m
2
với 1500 đầu sách các loại. Có đủ các
phòng chức năng phục vụ lãnh đạo và các bộ phận văn phòng làm việc. Tất cả các
phòng được xây dựng kiên cố, đáp ứng tốt yêu cầu làm việc và học tập.
1.2. Tổng quan về trường THPT Ngô Gia Tự
1.2.1. Tổng quan về tình hình địa phương
- Lập Thạch là huyện miền núi nằm ở phía Tây Bắc của tỉnh Vĩnh Phúc,
cách tỉnh lỵ Vĩnh Yên 20km, nằm ở vị trí từ 105°30′ đến 105°45′ kinh độ
Đông và 21°10′ đến 21°30′ vĩ độ Bắc. Lập Thạch có vị trí địa lý như sau:
- Phía Bắc giáp huyện Sơn Dương tỉnh Tuyên Quang và dãy núi Tam Đảo.
- Phía Đông giáp huyện Tam Đảo và huyện Tam Dương.
- Phía Tây giáp huyện Sông Lô và thành phố Việt Trì tỉnh Phú Thọ.
- Phía Nam giáp huyện Vĩnh Tường và một phần tỉnh Phú Thọ.
Lập Thạch có đủ loại tài nguyên đất đai, tài nguyên nước, sông ngòi
đảm bảo cho sản xuất và sinh hoạt, tài nguyên khoáng sản, tài nguyên rừng và
cảnh quan thiên nhiên, tài nguyên du lịch Sơn Đông - Đình Chu – Văn Quán
– Xuân Lôi, cụm du lịch Bản Giản – Triệu Đề – Vân Trục.
Ngoài ra trên địa bàn huyện còn có những cảnh quan thiên nhiên tươi
đẹp, thơ mộng hấp dẫn khách du lịch như khu hồ Vân Trục với những cánh
rừng nguyên sinh.
!#4$%&'
()()*+',$%&'()-)
1.2.2. Tổng quan về trường THPT Ngô Gia Tự
Trường THPT Ngô Gia Tự đóng trên địa bàn huyện miền núi Lập
Thạch - Vĩnh Phúc, trường được thành lập vào năm 1962. Kể từ đó đến nay
9
sau 53 năm xây dựng và trưởng thành dưới mái trường THPT Ngô Gia Tự đã
có hàng vạn học sinh tốt nghiệp từ mái trường này và tiếp tục học tập để trở
thành những Giáo sư, Tiến sĩ, những nhà Khoa học, những nhà quản lý,
những tướng, tá, cử nhân khoa học, công nhân kỹ thuật lành nghề. Trong
quân đội, những Anh hùng lực lượng vũ trang… Như Giáo sư - Tiến sĩ khoa
học Nguyễn Kế Hào, GS.TS Nguyễn Văn Học, TS Nguyễn Văn Hữu… trung
tướng - Anh hùng lực lượng vũ trang Lê Xuân Tấu, Triệu Xuân Hoà…
'/
- Số cán bộ giáo viên: 70 người (4 CBQL; 62 GV; 4 CNV)
- Số lớp: 29 lớp
- Số học sinh: 1184
- Số học sinh đã tốt nghiệp THPT: Hàng năm số học sinh đậu tốt nghiệp
từ 98% đến 99%
- Chất lượng đội ngũ cán bộ, giáo viên, học sinh
+ Đội ngũ: 100% CB GV của trường có trình độ đại học và trên đại học,
trong đó có 25 GV có trình độ thạc sỹ đạt 35,7%. 100% cán bộ giáo viên có
mát hợp lý, sân trường luôn sạch sẽ, có sân chơi bãi tập cho học sinh. Xung
quanh trường đều có tường rào bảo vệ, cổng tường chắc chắn.
CHƯƠNG 2.
SO SÁNH KẾT QUẢ THI CHỌN HỌC SINH GIỎI KHỐI 10, 11 CỦA
TRƯỜNG THPT YÊN LẠC VÀ TRƯỜNG THPT NGÔ GIA TỰ
11
GIAI ĐOẠN 2012 – 2014
2.1. Tỷ lệ đạt giải trong kỳ thi chọn học sinh giỏi khối 10, 11 của 2 trường
từ năm 2012 - 2014
Năm học
THPT Yên Lạc THPT Ngô Gia Tự
HSG Khối 10 HSG Khối 11 HSG Khối 10 HSGKhối 11
SL % SL % SL % SL %
2012-2013 91/111 82.0 96/112 85.7 82/105 78.1 88/108 81.5
2013- 2014 112/122 91.8 105/118 89.0 81/97 83.5 74/100 74.0
Bảng 2.1. Số lượng và tỉ lệ đạt giải trong kỳ thi chọn học sinh giỏi
khối 10, 11 của 2 trường từ năm 2012 - 2014
2.2. Kết quả thi chọn học sinh giỏi khối 10, 11 cấp tỉnh năm học 2012-2013
2.2.1. Kết quả thi chọn học sinh giỏi khối 10 cấp tỉnh năm học 2012-2013
Môn thi Trường THPT Yên Lạc Trường THPT Ngô Gia Tự
Nhất Nhì Ba KK Nhất Nhì Ba KK
12
Toán 4 6 8 4 5
Lý 1 6 4 4 2 5 3
Hóa 1 7 5 5 1 4 5 3
Sinh 1 4 3 1 8 2 1
Tin 2 2 1 1 1
Văn 1 3 3 6 6
Sử 1 1 2 5 1
Địa 2 2 6
Toán 5 3 4 4 1 2 4 3
Lý 3 5 8 1 3 7
Hóa 3 6 2 3 3 3 2 6
Sinh 3 1 2 5 1 1 5 5
Tin 2 1
Văn 6 7 4 1 8
Sử 3 5 1 2 2
Địa 2 3 2 4 2 1 6
Anh 1 4 12 2 4 1
Cộng 14 22 31 45 8 15 18 40
Tổng 112 81
14
Bảng 2.4. Kết quả thi chọn học sinh giỏi khối 10 cấp tỉnh
năm học 2013-2014
Biểu đồ 2.3. So sánh kết quả thi chọn học sinh giỏi khối 10 cấp tỉnh
năm học 2013-2014
2.3.2. Kết quả thi chọn học sinh giỏi khối 11 cấp tỉnh năm học 2013-2014
Môn thi Trường THPT Yên Lạc Trường THPT Ngô Gia Tự
Nhất Nhì Ba KK Nhất Nhì Ba KK
Toán 3 7 5 2 2 3
Lý 1 5 7 5 3 1 7
Hóa 2 6 9 2 3 4 4
Sinh 2 4 6 3 8 3
Tin 3 1 1 1 1
Văn 1 2 1 4 2 1 5
Sử 2 3 3 6 1
Địa 3 2 1 1 6 4
Anh 3 6 4 4 1 3 7
Cộng 7 30 37 31 3 15 25 31
Tổng 105 74
giải thì vẫn cao hơn.
- Từ biểu đồ 2.1 So sánh kết quả thi chọn học sinh giỏi khối 10 cấp
tỉnh năm học 2012 – 2013 cho thấy: cả hai trường đều đạt được hai giải nhất;
trường THPT Yên Lạc đạt được 28 giải nhì, nhiều hơn trường THPT Ngô
Gia Tự 10 giải nhì; giải ba trường THPT Yên Lạc đạt được 34 giải, trường
THPT Ngô Gia đạt được 32 giải; cong giải khuyến khích trường THPT Ngô
Gia Tự lại đạt được 30 giải nhiều hơn trường THPT Yên Lạc 03 giải. Điều
này có nghĩa là trường THPT Ngô Gia Tự đạt được ít giải nhất, nhì thì giải
ba, khuyến khích sẽ nhiều
- Từ bảng 2.3 Kết quả thi chọn học sinh giỏi khối 11 cấp tỉnh năm học
2012-2013 dễ dàng nhận thấy rằng số lượng học sinh được chọn dự thi và đạt
giải của trường THPT Yên Lạc cũng cao hơn trường THPT Ngô Gia Tự
không chỉ về số lượng mà cả chất lượng giải cũng cao hơn hẳn.
- Nhìn vào biểu đồ 2.2 So sánh kết quả thi chọn học sinh giỏi khối 11
cấp tỉnh năm học 2012-2013 có thể thấy chất lượng giải của trường THPT
Yên Lạc cao hơn hẳn trường THPT Ngô Gia Tự, cụ thể: trường THPT Yên
Lạc đạt được 3 giải nhất và 27 giải nhì nhiều hơn trường THPT Ngô Gia Tự
02 giải nhất và 19 giải nhì, trong khi trường THPT Ngô Gia Tự chỉ đạt được
01 giải nhất và 08 giải nhì; trường THPT Ngô Gia Tự lai đạt 36 giải ba và 43
giải khuyến khích nhiều hơn trường THPT Yên Lạc 08 giải nhì và 05 giải
khuyến khích. Điều này chứng tỏ chất lượng giải cao của trường THPT Ngô
Gia Tự thấp hơn trường THPT Yên Lạc rất nhiều.
17
- Từ bảng 2.4 Kết quả thi chọn học sinh giỏi khối 10 cấp tỉnh năm học
2013-2014 nhận thấy: số lượng học sinh được chọn dự thi của trường THPT
Yên Lạc tăng lên rõ rệt so với năm học trước; chất lượng giải cũng cao hơn
hẳn, năm học trước chỉ đạt 2 giải nhất thì năm nay đã đạt tới 14 giải nhất.
Điều này chứng tỏ rằng trường THPT Yên Lạc đã có những chiến lược trong
công tác bồi dưỡng học sinh giỏi nhằm tăng vị trí thứ hạng đối với các
trường phổ thông trong tỉnh. Trường THPT Ngô Gia Tự có số lượng học sinh
3.1. Nguyên nhân
Trường THPT Ngô Gia Tự có kết quả thi chọn học sinh giỏi thấp và
năm sau lại giảm hơn năm trước so với trường THPT Yên Lạc do một số
nguyên nhân sau:
6.6.789:
Cơ sở vật chất, thiết bị dạy học thiếu thốn, chưa đồng bộ. Tài liệu cho GV
nghiên cứu, HS tự học, tự bồi dưỡng quá ít.
6.(.78;9:
- Một bộ phận giáo viên (GV) chưa tiếp cận được chương trình chuyên
sâu bồi dưỡng HSG giỏi cấp khu vực, cấp quốc gia; một bộ phận khác chưa
thật sự nắm chắc các chuyên đề chuyên sâu;
- Một số HS chưa tin vào khả năng đoạt giải nên không an tâm tham gia
lớp bồi dưỡng;
19
- Kế hoạch giáo dục của nhà trường quá căng thẳng đối với đội tuyển
HSG, đặc biệt HS lớp 11.
- Đa số giáo viên dạy bồi dưỡng vừa phải bảo đảm chất lượng đại trà,
vừa phải hoàn thành chỉ tiêu chất lượng mũi nhọn và công tác kiêm nhiệm do
đó cường độ làm việc quá tải và việc đầu tư cho công tác bồi dưỡng HSG
cũng có phần bị hạn chế.
- Học sinh học chương trình chính khóa phải học quá nhiều môn, lại
phải học thêm những môn khác, cộng thêm chương trình bồi dưỡng HSG nên
rất hạn chế về thời gian tự học nên các em đầu tư ít thời gian cho việc học bồi
dưỡng HSG, do đó kết quả không cao là điều tất yếu.
- Một số học sinh tham gia học bồi dưỡng chưa cố gắng nhiều nên kết
quả thi học sinh giỏi ở một số môn chưa cao.
- Giáo viên dạy bồi dưỡng đều phải tự soạn chương trình dạy, theo kinh
nghiệm của bản thân, theo chủ quan, tự nghiên cứu, tự sưu tầm tài liệu.
3.2. Giải pháp
Giải pháp 1. Xây dựng kế hoạch bồi dưỡng học sinh giỏi chi tiết, cụ
năm học thông qua việc trao đổi với GV giảng dạy trước đó để lựa chọn
những em có khả năng, tư chất, trí tuệ, lòng đam mê vào đội tuyển, làm nguồn
cho năm học kế tiếp.
- Nắm vững phương châm: dạy chắc cơ bản rồi mới nâng cao - thông
qua những bài luyện cụ thể để dạy phương pháp tư duy - dạy kiểu dạng bài có
quy luật trước, loại bài có tính đơn lẻ, đặc biệt sau.
Giải pháp 4. Về chương trình bồi dưỡng:
- Giáo viên cần biên soạn chương trình, nội dung bồi dưỡng rõ ràng, cụ
thể, chi tiết cho từng khối, lớp, về từng mảng kiến thức rèn luyện các kỹ năng
ngôn ngữ theo số tiết quy định nhất định và nhất thiết phải bồi dưỡng theo
quy trình từ thấp đến cao, từ dễ đến khó để các em HS bắt nhịp dần.
- Xác định rõ trọng tâm kiến thức giảng dạy cho từng khối lớp để tránh
trùng lập. Chương trình bồi dưỡng cần có sự liên thông trong suốt 3 năm liền
(từ lớp 10 đến lớp 12 )
21
Giải pháp 5. Tài liệu bồi dưỡng:
- Giáo viên sưu tầm các bộ đề thi các cấp trong tỉnh nhà và các tỉnh
khác thông qua công nghệ thông tin nhằm giúp các em tiếp xúc làm quen với
các dạng đề, luôn tìm đọc, tham khảo các tài liệu hay để hướng cho học sinh.
- Giáo viên hướng dẫn học sinh các tài liệu, sách vở, băng đĩa phù hợp
với trình độ của các em để tự rèn luyện thêm ở nhà. Đồng thời cung cấp hoặc
giới thiệu các địa chỉ trên mạng để học sinh có thể tự học, tự nghiên cứu, bổ
sung kiến thức.
Giải pháp 6. Về thời gian bồi dưỡng:
- Để chương trình bồi dưỡng học sinh giỏi có hiệu quả thì nhà trường
cần có kế hoạch bồi dưỡng học sinh giỏi liên tục và đều đặn, không dồn ép ở
tháng cuối trước khi thi vừa quá tải đối với học sinh vừa ảnh hưởng đến quá
trình tiếp thu kiến thức ở môn học khác của học sinh.
Giải pháp 7. Đối với học sinh:
- Bồi dưỡng học sinh giỏi là một quá trình lâu dài. Cần phải bồi dưỡng
Kết quả học tập nói chung và kết quả thi học sinh giỏi nói riêng luôn là
sự quan tâm hàng đầu của mọi nhà trường phổ thông. Các kết quả đó nói lên
chất lượng giảng dạy của nhà trường, tạo nên thương hiệu của nhà trường đó,
đặc biệt là chất lượng học sinh giỏi đạt được thông qua các kỳ thi tuyển chọn
học sinh giỏi các cấp. Vì vậy, để nâng cao chất lượng học sinh giỏi nhà
trường cần chú trọng công tác bồi dưỡng học sinh giỏi, đặc biệt thực hiện
đồng bộ các giải pháp nêu trên.
23