quá trình chuẩn bị lực lượng cách mạng và khởi nghĩa vũ trang giành chính quyền ở huyện hiệp hòa tỉnh bắc giang (1939-1945) - Pdf 23


Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

i
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM NGUYỄN THỊ THU HIỀN

QUÁ TRÌNH CHUẨN BỊ LỰC LƢỢNG CÁCH MẠNG VÀ
KHỞI NGHĨA VŨ TRANG GIÀNH CHÍNH QUYỀN Ở
HUYỆN HIỆP HOÀ TỈNH BẮC GIANH (1939 - 1945)

Chuyên ngành: Lịch sử Việt Nam
Mã số: 60.22.54 LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC LỊCH SỬ

Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: TS. Hoàng Ngọc La Thái Nguyên - 2011


KẾT LUẬN 87
TÀI LIỆU THAM KHẢO 91
PHỤ LỤC 96

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

1
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Cách mạng tháng Tám là một sự kiện vĩ đại trong lịch sử dân tộc Việt
Nam. Với thắng lợi của Cách mạng tháng Tám, xiềng xích nô lệ của thực dân
Pháp hơn 80 năm đã bị đập tan, chế độ quân chủ chuyên chế từng ngự trị
nghìn năm đã bị lật nhào. Nƣớc ta từ một nƣớc thuộc địa nửa phong kiến đã
trở thành một quốc gia độc lập với chính thể dân chủ cộng hoà, dân ta từ thân
phận nô lệ đã vƣơn dậy, trở thành ngƣời tự do, ngƣời chủ đất nƣớc mình.
Với thắng lợi của Cách mạng tháng Tám, lịch sử dân tộc Việt Nam ta đã
mở ra kỷ nguyên mới – kỷ nguyên độc lập, tự do và chủ nghĩa xã hội.
Thắng lợi của Cách mạng tháng Tám là kết quả của sự vận dụng sáng tạo
chủ nghĩa Mác – Lênin về khởi nghĩa vũ trang giành chính quyền vào thực tiễn
cách mạng Việt Nam. Thành tựu đó không những là bài học kinh nghiệm lịch
sử quý báu của chúng ta mà còn đóng góp vào kho tàng lí luận cách mạng giải
phóng dân tộc trên thế giới. Thắng lợi của Cách mạng tháng Tám còn là kết
quả của quá trình vận động cách mạng và khởi nghĩa vũ trang giành chính
quyền ở các địa phƣơng trong cả nƣớc trong đó có huyện Hiệp Hòa tỉnh Bắc
Giang.
Quá trình vận động cách mạng và khởi nghĩa vũ trang giành chính quyền
ở huyện Hiệp Hòa là một bộ phận khăng khít không thể tách rời quá trình vận
động Cách mạng tháng Tám trong cả nƣớc. Với thắng lợi của Cách mạng
tháng Tám ở huyện Hiệp Hòa đã góp phần vào thắng lợi trong Tổng khởi
nghĩa tháng Tám ở tỉnh Bắc Giang – một trong bốn tỉnh đầu tiên tiến hành

trình chuẩn bị lực lƣợng cách mạng và khởi nghĩa vũ trang giành chính quyền
ở huyện Hiệp Hòa 1939-1945 góp phần làm sáng tỏ truyền thống yêu nƣớc,
đấu tranh chống ngoại xâm của nhân dân trong toàn huyện, đồng thời thấy
đƣợc sự sáng tạo của Đảng bộ huyện trong quá trình lãnh đạo cách mạng
giành chính quyền về tay nhân dân.

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

3
Xuất phát từ những lý do trên chúng tôi quyết định chọn “ Quá trình
chuẩn bị lực lƣợng cách mạng và khởi nghĩa vũ trang giành chính quyền
ở huyện Hiệp Hòa tỉnh Bắc Giang (1939-1945)” làm đề tài Luận văn tốt
nghiệp Thạc sĩ Lịch sử.
2. Lịch sử nghiên cứu Vấn đề.
Định hƣớng cho việc nghiên cứu thực hiện đề tài có: Văn kiện Đảng
(1930-1945), các chủ trƣơng, chỉ đạo về cách mạng của Hồ Chí Minh, bài viết
của các đồng chí lãnh đạo của Đảng nhƣ Trƣờng Chinh, các Nghị quyết của
Đảng bộ huyện Hiệp Hòa từ 1930-1945.
Trong nhiều thập kỉ qua, đã có khá nhiều công trình nghiên cứu, nhiều
cuốn sách, bài viết, hồi kí đƣợc công bố liên quan tới cuộc vận động Cách
mạng tháng Tám ở huyện Hiệp Hòa nhƣ: Viện Sử học biên soạn “Cách mạng
tháng Tám: Tổng khởi nghĩa ở Hà Nội và các địa phương-quyển1” (Nxb Sử
học, 1960); Văn Tạo, Thành Thế Vỹ, Nguyễn Công Bình biên soạn “Lịch sử
Cách mạng tháng Tám” (Nxb Sử học, 1960); Ban nghiên cứu Lịch sử Đảng
Trung ƣơng biên soạn “Tìm hiểu tính chất và đặc điểm của Cách mạng tháng
Tám” (Nxb Sự Thật, 1963); Viện Lịch sử Đảng biên soạn cuốn “Tổng khởi
nghĩa tháng Tám 1945” (Nxb Sự Thật, 1985) và nhiều công trình nghiên
cứu khác có liên quan.
Viện nghiên cứu chủ nghĩa Mác-Lênin và tƣ tƣởng Hồ Chí Minh biên
soạn: “Lịch sử Cách mạng tháng Tám 1945” (Nxb Chính trị Quốc gia, 1995);

trình văn hoá lớn của Đảng bộ và nhân dân huyện Hiệp Hòa, là nguồn tài liệu
có giá trị về lịch sử văn hoá, truyền thống đấu tranh cách mạng của quê hƣơng
Hiệp Hòa. Ban nghiên cứu lịch sử Đảng Hà Bắc biên soạn “Đảng bộ Hà Bắc
một số tư liệu” (xuất bản 1986), cuốn sách giới thiệu sự ra đời, quá trình
trƣởng thành và phát triển của Đảng bộ Hà Bắc trong việc tổ chức và xây
dựng lực lƣợng vũ trang của cách mạng tại các cơ sở huyện thị để lãnh đạo
quân, dân vùng lên đấu tranh giành chính quyền. Tập sách còn giới thiệu

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

5
những chiến sĩ cách mạng tiền bối của quê hƣơng Hà Bắc, những gƣơng sáng
đảng viên, những cơ sở cách mạng kiên trung sắt son với Đảng.
Đặc biệt trong những năm gần đây có nhiều công trình nghiên cứu về
vấn đề vai trò của ATKII với sự đóng góp của Đảng bộ và nhân dân huyện
Hiệp Hòa. Tại hội thảo Khoa học – thực tiễn: “ATKII và Hội nghị quân sự Bắc
kỳ trong tiến trình Cách mạng tháng Tám” vào tháng 8-1995, Gs Trịnh Nhu
có báo cáo về ATKII trong Cách mạng tháng Tám. Tác giả đã phác thảo những
nét cơ bản về xây dựng và sự hoạt động của ATKII trong Cách mạng tháng
Tám.
Mới đây nhất Ban tuyên giáo Tỉnh uỷ Bắc Giang biên soạn “Lịch sử
ATK2 của Trung ương Đảng ở huyện Hiệp Hoà, tỉnh Bắc Giang” (xuất bản
2009). Tác phẩm đã trình bày sự thành lập không ngừng lớn mạnh của ATK2
với sự đóng góp to lớn của Đảng bộ và nhân dân Hiệp Hòa trong quá trình
vận động và phát triển góp phần đƣa tới thắng lợi của Cách mạng tháng Tám.
Những công trình nghiên cứu đã đƣợc công bố, dƣới nhiều góc độ khác
nhau đã nêu lên những nét khái quát nhất về mối quan hệ giữa Đảng bộ và
nhân dân huyện Hiệp Hòa với cách mạng trong nƣớc, truyền thống đấu tranh
bất khuất của nhân dân huyện Hiệp Hòa trong tiến trình lịch sử cách mạng,
góp phần tìm hiểu thêm tính phong phú của Cách mạng tháng Tám năm 1945;

đấu tranh giành chính quyền.
4. Nguồn tƣ liệu và phƣơng pháp nghiên cứu.
4.1 Nguồn tƣ liệu
Để hoàn thành đề tài này, chúng tôi đã tham khảo và sử dụng nhiều
nguồn tài liệu:
- Các tác phẩm của chủ nghĩa Mác – Lênin về khởi nghĩa vũ trang; các
văn kiện Đảng; các bài viết, bài nói của chủ tịch Hồ Chí Minh trong thời kì

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

7
Cách mạng tháng Tám; các chỉ thị nghị quyết của Đảng bộ Bắc Giang, của
huyện Hiệp Hoà trong thời kì 1939-1945.
- Các công trình nghiên cứu của các nhà khoa học đã đƣợc công bố, kỷ
yếu, báo cáo của hội thảo khoa học, hồi kí của các lãnh tụ và những ngƣời
trực tiếp lãnh đạo cách mạng ở huyện Hiệp Hoà.
- Ngoài những tài liệu thành văn nêu trên, trong quá trình thực hiện đề
tài, chúng tôi còn thu thập thêm nguồn tƣ liệu qua lời kể của những cán bộ lão
thành cách mạng.
4.2 Phƣơng pháp nghiên cứu
Để thực hiện yêu cầu của đề tài này chúng tôi sử dụng phƣơng pháp lịch
sử kết hợp với phƣơng pháp lôgíc là chủ yếu. Ngoài ra chúng tôi còn kết hợp
sử dụng các phƣơng pháp phân tích, tổng hợp, thống kê, so sánh, đối chiếu,
khảo sát điền dã để thu thập xử lý thông tin và đảm bảo tính chính xác.
5. Đóng góp của luận văn
Luận văn nghiên cứu về “Quá trình chuẩn bị lực lƣợng cách mạng và
khởi nghĩa vũ trang giành chính quyền ở huyện Hiệp Hoà tỉnh Bắc Giang
(1939-1945).
- Đây là công trình khoa học đầu tiên trình bày một cách có hệ thống và
toàn diện về quá trình chuẩn bị lực lƣợng cách mạng và khởi nghĩa vũ trang

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

10
CHƢƠNG 1
KHÁI QUÁT VỀ HUYỆN HIỆP HÒA TRƢỚC NĂM 1939
1.1 Vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên.
Hiệp Hòa là một huyện trung du ở phía tây tỉnh Bắc Giang, có diện tích tự
nhiên 201,12 km
2
. Hiệp Hòa nằm giữa 21
0
18’ - 21
0
16’ vĩ tuyến bắc, 105
0
52’ -
106
0
02’ kinh đông, phía đông giáp huyện Tân Yên và Việt Yên (Bắc Giang),
phía nam giáp huyện Yên Phong (Bắc Ninh), phía tây nam giáp huyện Sóc Sơn
(Hà Nội), phía tây bắc giáp huyện Phổ Yên và huyện Phú Bình (Thái Nguyên).
Thời kỳ các vua Hùng - Hiệp Hòa thuộc bộ Vũ Ninh. Trong tiến trình
phát triển của lịch sử tiếp theo, huyện Hiệp Hòa nằm trong huyện Long Biên
thuộc quận Giao Chỉ, thời Lý Hiệp Hòa có tên gọi là Phật Thệ nằm trong phủ
Bình Lỗ thuộc Lộ Bắc Giang, sang thời Trần có tên là Thiện Thệ, thời Lê,
mới có tên chính thức là Hiệp Hòa thuộc phủ Bắc Hà, đến năm 1831 Hiệp
Hòa nằm trong phủ Thiên Phúc.
Vào thời Lê, Hiệp Hòa là một huyện nhỏ, chỉ có 22 xã, dƣới triều
Nguyễn, Hiệp Hòa có 50 xã đặt trong 9 tổng : Đức Thắng, Hà Nhuyễn (hay
Hà Châu), Cẩm Bào, Mai Đình, Hoàng Vân, Gia Định, Quế Trạo (hay Quế

chủ yếu là đồi núi thấp, độ dốc bình quân từ 8 - 15
0
và độ cao trung bình so
với mặt biển từ 10m - 15m, phía Nam (hạ huyện) là đồng bằng, ô trũng, khá
bằng phẳng, độ dốc trung bình từ 0 - 8
0
. Trong tổng diện tích đất tự nhiên của
Hiệp Hòa có đất sản xuất nông nghiệp là 13.479ha chiếm 67%, đất lâm
nghiệp là 190,3ha chiếm 0,9% và đất chƣa sử dụng là 1.653,2ha chiếm 8,2%.
Đất Hiệp Hòa chủ yếu thuộc loại đất feralit và đất ruộng thích hợp cho
việc phát triển cây lƣơng thực, thực phẩm, cây công nghiệp và chăn nuôi gia
súc, gia cầm, nuôi trồng thuỷ sản. Nhờ hệ thống mƣơng máng ngƣời dân có
thể trồng hai vụ lúa và một vụ hoa màu trong 1 năm. Hiện tại Hiệp Hòa không
còn rừng tự nhiên, rừng trồng rải rác ở các xã phía bắc của huyện và đƣợc
giao cho các hộ, các tổ chức quản lý, tổng diện tích rừng toàn huyện là 167ha.

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

12
Hiệp Hòa không có những tài nguyên khoáng sản dồi dào nhƣ các nơi
khác nhƣng ở nơi đây, trong lòng đất của huyện có một lƣợng đất sét lớn,
dùng để phát triển các ngành thủ công nghiệp. Nhờ có tài nguyên này mà ở
Hiệp Hòa từ xa xƣa đã phát triển nghề làm gốm với những sản phẩm gốm có
kỹ thuật chế tác cao. Đất sét chịu lửa ở Đức Thắng có chất lƣợng tƣơng đối
tốt, trắng, mịn, có thể làm đồ sứ. Đất sét dùng làm sành ở Châu Minh, Lƣơng
Phong có trữ lƣợng lớn. Cát sỏi dùng cho xây dựng tích tụ dọc sông Cầu với
trữ lƣợng lên tới hàng triệu m
3
, điều kiện khai thác dễ dàng, nhất là ở Hà
Châu, Thái Sơn.

huyện dài 8km. Ngoài ra còn 2 tuyến ở trong nội huyện từ Thắng đi Lữ và bến
Gầm dài 16km và từ Thắng đi qua bến đò Quế Sơn dài 5km. Các tuyến đƣờng
trên đều đã rải nhựa. Nhƣợc điểm lớn nhất của hệ thống giao thông đƣờng bộ là
tại bến phà Đông Xuyên qua sông Cầu trên quốc lộ 295 chƣa xây dựng đƣợc
cầu. Tất cả những yếu tố trên tạo cho Hiệp Hòa có điều kiện phát triển kinh tế –
xã hội.
Bên cạnh sự phát triển và thuận lợi của hệ thống đƣờng bộ thì hệ thống
giao thông đƣờng thuỷ ở huyện Hiệp Hòa cũng phát triển và đóng một vai trò
thiết yếu trong cuộc sống của nhân dân. Dòng sông Cầu bắt nguồn từ huyện
Chợ Đồn ( Bắc Kạn) chảy vào Bắc Giang ở địa giới huyện Hiệp Hoà. Dòng
sông ôm lấy địa phận Hiệp Hoà tạo nên vị trí và ý nghĩa kinh tế to lớn, tạo
luồng chuyên chở khách và hàng hoá thuận tiện. Ngay từ ngàn xƣa, dòng sông
thơ mộng này đã bồi đắp những lớp phù sa màu mỡ cho soi bãi ven sông, tăng
thêm cảnh quan trù phú cho các làng quê quan họ. Nƣớc của dòng sông Cầu
qua hệ thống mƣơng máng đƣợc tƣới cho các cánh đồng trong huyện. Thuyền
bè có thể theo sông Cầu lên Thái Nguyên, về Đắp Cầu, Phả Lại và ra biển.
Ngoài ra sông Cầu còn có trữ lƣợng hàng triệu mét khối cát sỏi chuyên cung
cấp cho các công trình xây dựng.
Với vị trí địa lý, địa hình, đất đai đã tạo cho huyện Hiệp Hoà một nền
nông nghiệp đa canh, diện tích đất đai còn có thể khai thác sử dụng để phát
triển nông nghiệp hàng hóa. Bên cạnh đó huyện cũng có những khó khăn:
giao thông, thuỷ lợi phục vụ cho nông nghiệp chƣa đáp ứng đƣợc yêu cầu của

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

14
sản xuất, hàng năm thƣờng xảy ra lũ lụt vào mùa mƣa, thị trƣờng nông sản
chƣa ổn định, giá cả bấp bênh, ảnh hƣởng không nhỏ tới sản xuất và đời sống
nhân dân.
Với những điều kiện nhƣ trên, cùng với truyền thống cần cù, sáng tạo

Đông Lâm khoảng 1km trƣớc cũng thuộc đất Đông Lâm. Chiếc trống thứ hai
là chiếc trống Xuân Giang, phát hiện ngày 13- 11- 1998, thuộc Xuân Giang xã
Mai Trung, cách Đông Lâm khoảng 5km. Trống đƣợc tìm thấy ngay trong
lòng sông Cầu chảy trên địa phận xã. Cũng ở đây còn tìm thấy một số hiện vật
đồng nhƣ rìu có vai, đục đá, rìu đồng hình bàn chân, nhẫn đồng Ngoài
những hiện vật tìm đƣợc trong di chỉ Đông Lâm, còn lại cũng tìm đƣợc một
số đồ đồng Đông Sơn ở các xã Thái Sơn, Hoà Sơn, Hoàng Vân do phát hiện
ngẫu nhiên mà chƣa tìm thấy tầng văn hoá. Tại xã Hoàng Vân tìm thấy một
khu lò luyện kim cổ.
Hiệp Hòa là huyện có duy nhất một dân tộc là dân tộc Kinh và cƣ trú
trong các thôn xóm đƣợc hình thành từ lâu đời. Theo số liệu điều tra dân số
năm 1927 của chính quyền thực dân Pháp, huyện Hiệp Hoà có 9 tổng, 71 xã,
31.658 nhân khẩu. Dân cƣ của huyện phân bố đồng đều giữa khu vực nông
thôn và thành thị trong toàn huyện, ngày nay phân bố dân giữa hai khu vực có
sự chênh lệch khá lớn, phần đông dân cƣ tập trung sinh sống ở khu vực thành
thị . Dọc theo bờ sông Cầu, một hệ thống đê điều sừng sững mọc lên, vừa bảo
vệ mùa màng, vừa giữ gìn thôn xóm.
Bên cạnh nghề trồng lúa nƣớc, cƣ dân Hiệp Hoà còn làm nghề đánh cá,
nghề trồng vƣờn, kinh tế vƣờn cũng đƣợc chú trọng. Nhiều làng đồi đã tạo
nên những vƣờn cây trái xum xuê với đủ các loại nhƣ mít, chanh, bƣởi, vải,
nhãn, trám. Suốt một dải ven sông Cầu từ Quang Minh, Đại Thành, Hợp
Thịnh đến Xuân Cẩm, Mai Đình, Đông Lỗ là quê hƣơng của những làng cổ
truyền trồng dâu, nuôi tằm, ƣơm tơ, dệt lụa và cây trầu không nổi tiếng, đƣợc
khách hàng ƣa chuộng. Không phải không có lý do khi nói đến thế mạnh cổ
truyền của địa phƣơng đã đƣợc đúc kết từ lâu trong lịch sử: “rau cải Tiến nấu
nƣớc điếu cũng ngon, hành Nga Trại, cải Tiếu Mai”, “trầu không chợ Chã”, “

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

16

17
Theo lệ xƣa các làng có ngƣời đỗ tiến sỹ thì đƣợc gọi là làng tiến sỹ, ở
Hiệp Hoà có các làng tiến sỹ: làng Trâu Lỗ xã Mai Đình, làng Ngọ Xá xã
Châu Minh, làng Đoan Bái xã Đoan Bái, làng Đức Thắng xã Đức Thắng, làng
Hoàng Vân xã Hoàng Vân, làng Quế Sơn xã Thái Sơn, làng Ninh Định xã
Mai Trung, làng Thái Thọ xã Thái Sơn, làng Cẩm Xuyên xã Xuân Cẩm và
làng Vân Xuyên xã Hoàng Vân.
Không những nổi tiếng về khoa cử, Hiệp Hoà còn có nhiều danh lam
thắng cảnh và di tích kiến trúc, nghệ thuật và lịch sử nổi tiếng đối với cả nƣớc
nhƣ: Đình Lỗ Hạnh, đình Thắng Núi, lăng Họ Ngọ, lăng Dinh Hƣơng, lăng
Bầu, đình Xuân Biều, đình Thắng Núi, khu di tích Núi IA Hệ thống lăng
tẩm bề thế nằm rải rác khá nhiều trong địa phận Hiệp Hoà, các đình, chùa và
hệ thống lăng tẩm đã để lại cho đời sau nhiều di sản quý giá về kiến trúc, nghệ
thuật, điêu khắc và hội hoạ. Đặc biệt phải kể đến công trình kiến trúc nổi tiếng
của cha ông là đình Lỗ Hạnh, lăng Họ Ngọ, lăng Dinh Hƣơng.
Nếu nhƣ chủ nhân của đồ gốm ở di chỉ Đông Lâm, trống đồng Bắc Lý,
bằng đôi bàn tay tuyệt mỹ đã tạo nên những hiện vật có sắc thái nghệ thuật
văn hoá cao thì chủ nhân của đình Lỗ Hạnh, đình Xuân Biều, lăng Họ Ngọ,
lăng Dinh Hƣơng đã tiếp thu và phản ánh đầy đủ tinh hoa, phong cách kiến
trúc, hội hoạ , điêu khắc của nhiều thế kỷ.
Đình Lỗ Hạnh thuộc xã Đông Lỗ, là một kỳ công văn hoá của cƣ dân
Hiệp Hoà vào thế kỷ XVI, Đình Lỗ Hạnh đƣợc xây dựng từ thời Lê – Mạc,
năm Sùng Khang thứ 11 (1576) với diện tích 3.660m
2
, là ngôi đình đƣợc xây
dựng sớm nhất trên toàn quốc. Đây là nơi thờ phụng vị thần Cao Sơn Đại và
Phƣơng Dung công chúa – những ngƣời có công với dân, với nƣớc thời các
Vua Hùng. Với nghệ thuật kiến trúc, hội hoạ, chạm khắc độc đáo cùng giá trị
cao về văn hoá, lịch sử, năm 1990 đình Lỗ Hạnh đƣợc xếp hạng di tích lịch sử
văn hoá cấp quốc gia. Đặc biệt là bức chạm ngƣời chơi đàn đáy ở đình Lỗ

vào hai mùa là mùa xuân và mùa thu với các loại: hội đình, hội chùa, hội chợ,

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

19
hội hát và một số lễ hội mang tính chất kỷ niệm lịch sử, trong đó phong phú
nhất là hội đình và hội chùa. Hầu hết các thôn làng của Hiệp Hoà, cứ nơi nào
có đình, có chùa là nơi ấy có hội và ngoài những nét chung thì hội ở mỗi làng
có những nét đặc sắc riêng biệt. Phần lớn các hội làng đều gắn với lòng sùng
bái các anh hùng dân tộc, lòng biết ơn những ngƣời có công với dân, với
nƣớc, những danh nhân lịch sử văn hoá. Thông qua các tín ngƣỡng thờ cúng
mà các danh nhân lịch sử, văn hoá sống mãi với nhiều thế hệ, góp phần tạo nên
và phát triển không ngừng truyền thống anh hùng của nhân dân Hiệp Hoà. Sau
một năm làm việc vất vả, phải đối phó với nọi hoàn cảnh khắc nghiệt của thời
tiết, với những lo toan bộn bề, những vất vả của cuộc sống thƣờng nhật, ngƣời
dân Hiệp Hoà cũng có ƣớc muốn đƣợc gặp gỡ, trao đổi, đƣợc cùng sinh hoạt
cộng đồng, đƣợc nghỉ ngơi thƣ giãn vào những dịp hội làng.
Tất cả những lễ hội ở Hiệp Hoà dù diễn ra với quy mô nhỏ hay lớn cũng
đều gồm hai phần: phần lễ và phần hội.
Phần lễ bao gồm các nghi thức tín ngƣỡng thờ thần, thờ phật, thờ những
ngƣời có công với dân, với nƣớc, với làng xã. Đó là những nghi thức dâng
hƣơng, lễ bái thể hiện rõ sự tôn nghiêm và tấm lòng thành kính. Những đoàn
rƣớc tƣng bừng trong này lễ đƣợc coi là phần chính của lễ hội ở Hiệp Hòa.
Những cuộc rƣớc này có tới hàng ngàn ngƣời tham dự, thu hút mọi lứa tuổi,
mọi thành viên tham gia.
Phần hội là tổng thể những sinh hoạt văn hoá thể thao lành mạnh. Nó
phản ánh đầy đủ đời sống vật chất và đời sống tinh thần của cƣ dân nơi tổ
chức lễ hội. Từ những trò chơi dân gian và hiện đại, các môn thi đấu thể thao
truyền thống đến các hoạt động nghệ thuật dân gian đã tạo nên sức hấp dẫn
cho ngày hội và lễ hội ở Hiệp Hoà.

ngồi hai bên (bên trai, bên gái) hát trực tiếp với nhau theo lối hát đối đáp. Hát
ví cuộc là hình thức vui chơi giải trí, hình thức kết giao thăm hỏi giữa đám
con gái làng này với bọn con trai làng kia:

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

21
Tháng tám em đi chơi xuân
Thấy đây mở hội trống quân em vào
Tức thì ngƣời con trai có lời:
Trống quân đã có nhời rao
Không chồng thì vào, có chồng thì ra
Có con thì tránh cho xa
Kẻo anh mang tiếng giăng hoa chơi bời.
Và ngƣời con gái đáp lại rằng:
Không chồng em mới tới đây
Có chồng chiếu rải mùng quây ở nhà
Không chồng em mới chơi hoa
Có chồng em đã ở nhà chơi xuân.
Hát ví cuộc diễn ra thƣờng xuyên, khi đi hội chơi xuân cầu may, cầu phúc
cũng nhƣ khi làm lụng vất vả. Hát ví cuộc trong ngày hội làng thƣờng có khán
giả xung quanh để vừa xem hát, vừa nghe hát. Đám con trai, đám con gái dự thi
thƣờng là bọn cùng làng với nhau hoặc trai làng này hát thi với gái làng khác.
Nhƣ vậy qua hàng nghìn năm lịch sử, Hiệp Hoà đã đƣợc cả nƣớc biết đến
bởi truyền thống hiếu học, truyền thống yêu nƣớc. Các thế hệ tiền nhân đã để
lại cho đời sau nhiều công trình kiến trúc, điêu khắc và kho tàng văn hoá dân
gian có nhiều giá trị. Đó là niềm tự hào của nhân dân Hiệp Hoà nói riêng và
của nhân dân nƣớc Việt Nam ta nói chung.
1.3 Truyền thống yêu nƣớc và phong trào đấu tranh chống thực dân
Pháp trƣớc năm 1939

vạn quân, 2000 thuyền, xe theo đƣờng thuỷ bộ tiến vào xâm lƣợc nƣớc ta.
Mùa xuân năm 43 sau nhiều trận kịch chiến với quân thù xâm lƣợc, Diên
Hồng, Linh Giang, Linh Quang đã anh dũng hi sinh vì nền độc lập dân tộc.
Sau chiến thắng quân Nam Hán trên sông Bạch Đằng (cuối năm 938), đất
nƣớc ta bắt đầu tiến bƣớc vào xây dựng quốc gia tự chủ. Nhƣng sau khi Ngô

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

23
Quyền mất (năm 944) đất nƣớc lại trở lại loạn li. Mƣời hai sứ quân cát cứ làm
cho đất nƣớc bị phân li, đời sống nhân dân vô cùng cực khổ. Không đang tâm
nhìn cảnh đất nƣớc bị chia lìa, Bạch Tƣợng đã cùng em là Bạch Địa (Mai
Đình, huyện Hiệp Hoà) chiêu mộ đựơc hơn 500 trai tráng đứng lên tiêu diệt
bọn thân hào giàu có ở địa phƣơng, lấy của cải chia cho dân nghèo. Khi Đinh
Bộ Lĩnh mang quân tiêu diệt sứ quân Nguyễn Thủ Tiệp ở Tiên Du (huyện
Tiên Sơn, tỉnh Bắc Ninh), Bạch Tƣợng đem lực lƣợng của mình ra nhập với
đại quân, giữ chức thống lĩnh và thu đƣợc nhiều thắng lợi trong việc dẹp các
sứ quân cát cứ.[7, tr.36]
Đinh Bộ Lĩnh sau khi tiêu diệt các xứ quân cát cứ lên làm vua gọi là
Đinh Tiên Hoàng, năm 979 ông bị ám hại, con trai thứ của Đinh Tiên Hoàng
mới 6 tuổi đƣợc lập ngôi vua, lợi dụng vua Đinh nhỏ tuổi chƣa quản lý đƣợc
công việc quốc gia, nhà Tống đem quân xam lƣợc nƣớc ta.
Đầu năm 981 quân Tống cho Trần Khâm Tộ và Hầu Nhân Bảo theo
đƣờng thuỷ bộ đem quân xâm lƣợc nƣớc ta. Dƣới sự lãnh đạo của Lê Hoàn,
nhân dân các vùng Mai Đình, Ngọ Xá đã hăng hái xây đắp thành Bình Lỗ trên
sông Cầu, góp phần tiêu diệt cánh quân của Hầu Nhân Bảo, bắt sống tƣớng
giặc là Quách Quân Biện, Triệu Phụng Huân [7, tr.36]
Năm 1076, giặc Tống do Quách Quỳ và Triệu Tiết chỉ huy 10 vạn quân,
20 vạn phu, 1 vạn ngựa và một lực lƣợng thuỷ binh mạnh, hùng hổ tiến sang
xâm lƣợc nƣớc ta.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status