Quá trình xây dựng lực lượng cách mạng do Đảng lãnh đạo (1930-1945) - Pdf 20

MỤC LỤC
A. MỞ ĐẦU.…………………………………………………………………….3
1. Lý do chọn đề tài………………………………………………………….3
2. Mục đích nghiên cứu đề tài……………………………………………….4
3. Nhiêm vụ và phạm vi nghiên cứu đề tài…………………………………..4
4. Phương pháp nghiên cứu………………………………………………….4
5. Kết cấu đề tài……………………………………………………………...5
B. NỘI DUNG…………………………………………………………………..6
Chương I: Đảng lãnh đạo xây dựng lực lượng cách mạng…………………..6
I. Đảng lãnh đạo xây dựng lực lượng chính trị 1930-1935……………….7
1. Hoàn cảnh lịch sử…………………………………………………..7
a. Tình hình thế giới….………………………………………..7
b. Tình hình trong nước………………………………………..7
2. Đảng cộng sản Việt Nam ra đời và lãnh đạo xây dựng lực lượng
chính trị trong thời kỳ cao trào cách mạng 1930-1931…………….8
3. Thời kỳ vừa đấu tranh khôi phục các tổ chức Đảng và phong trào
cách mạng, vừa lãnh đạo xây dựng lực lượng chính trị 1932-
1935……………………………………………………………….13
II. Đảng lãnh đạo xây dựng lực lượng trong cao trào cách mạng 1936-
1939…………………………………………………………….………..16
1. Hoàn cảnh lịch sử…………………………………………………16
a. Tình hình thế giới….………………………………………16
b. Tình hình trong nước………………………………………17
2. Chủ trương của Đảng về xây dựng lực lượng trong thời kỳ vận
động dân chủ 1936-1939………………………………………….18
Chương II: Đảng lãnh đạo xây dựng lực lượng cách mạng tiến tới vũ trang
khởi nghĩa giành chính quyền 1939-1945……………………………………21
1
I. Hoàn cảnh lịch sử………………………….…………………………..21
1. Tình hình thế giới…………………………………………………21
2. Tình hình trong nước……………………………………………..21

cuộc khởi nghĩa Bà Triệu (248)… chống quân xâm lược phương bắc. Nên để
đánh thắng được kẻ thù xâm lược thì ngoài sức mạnh tinh thần cần có sức mạnh
lực lượng quần chúng nhân dân. Nếu kết hợp được sức mạnh của hai yếu tố đó,
thì chúng ta có thể đánh bại được bất kỳ kẻ thù xâm lược hung mạnh nào, điều
đó được chứng minh bằng sự thắng lợi của quân và dân nhà Trần trong ba lần
kháng chiến chống Mông - Nguyên thế kỷ XIII, khởi nghĩa Lam Sơn đánh thắng
quân Minh thế kỷ XV và cuộc đánh đuổi quân xâm lược nhà Thanh và Xiêm của
Quang Trung (Nguyễn Huệ) thế kỷ XVIII.
Vào cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, khi mà hầu hết các dân tộc ở Châu Á,
Phi, Mỹ la tinh đều nằm dưới sự thống trị và bóc lột của các nước đế quốc chủ
nghĩa. Trong đó Việt Nam nằm dưới sự thống trị và bóc lột của thực dân Pháp.
Kể từ khi Pháp tiến hành xâm lược nước ta từ 1858, đã có rất nhiều phong trào
yêu nước theo khuynh hướng phong kiến và dân chủ tư sản nổ ra nhưng đều thất
bại. Bởi vì các phong trào yêu nước đó đều không có đường lối cách mạng đúng
đắn và phát huy được sức mạnh của quần chúng nhân dân. Từ bài học kinh
nghiệm ấy và nhận ra được tầm quan trọng sức mạnh của quần chúng nhân dân
tức là sức mạnh của lực lượng cách mạnh đối với công cuộc đấu tranh giải
phóng dân tộc Việt Nam, thì ngay khi mới ra đời năm 1930, Đảng Cộng sản Việt
Nam (Đảng Cộng sản Đông Dương) đã chú trọng đến công tác xây dựng và phát
triển lực lượng cách mạng. Chính điều này là một trong những sự chuẩn bị và là
3
nhân tố quan trọng cho thắng lợi của Cách mạng tháng Tám 1945, mở ra một kỷ
nguyên mới cho dân tộc Việt Nam, kỷ nguyên của độc lập, tự do. Vì vậy để hiểu
rõ hơn và làm sáng tỏ hơn quá trình xây dựng lực lượng cách mạng do Đảng
lãnh đạo (1930-1945), là điều rất cần thiết đối với mỗi chúng ta, đặc biệt là đối
với những nhà nghiên cứu lịch sử Đảng . để từ đó thấy rõ hơn tầm quan trọng
của việc xây dựng lực lượng cách mạng đối với thắng lợi của cuộc cách mạng
Tháng Tám 1945. Đồng thời rút ra những kinh nghiệm về xây dựng lực lượng
cách mạng trong giai đoạn về sau. Chính vì điều đó mà em tập trung nghiên cứu
đề tài này.

Vận dụng học thuyết Mác- Lênin về chiến tranh và lực lượng vũ trang vào
điều kiện cụ thể nước ta, đồng thời kế thừa tư tưởng quân sự trong truyền thống
đánh giặc cứu nước của nhân dân ta, chủ tịch Hồ Chí Minh đã giải quyết đúng
đắn vấn đề xây dựng lực lượng chính trị và lực lượng vũ trang trong nhân dân
cách mạng. Người cho rằng: bạo lực cách mạng ở Việt Nam là bạo lực cách
mạng của quần chúng dưới sự lãnh đạo của Đảng, bao gồm hai lực lượng cơ
bản: lực lượng chính trị quần chúng và lực lượng vũ trang; với hai hình thức đấu
tranh cơ bản: đấu tranh chính trị và đấu tranh vũ trang. Lực lượng chính trị theo
người là lực lượng là lực lượng đông đảo của nhân dân lao động dưới sự lãnh
đạo của Đảng, là lực lượng cơ bản, là nền tảng của cách mạng và là cơ sở để xây
dựng, phát triển lực lượng vũ trang nhân dân, là nguồn tiếp sức vô tận cho phát
triển quân đội nhân dân. Do đó, muốn xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân
cách mạng, phải xây dựng lực lượng chính trị vững mạnh. Người khẳng định:
muốn có quân đội vũ trang, trước hết phải có quân đội tuyên truyền vân động,
đội quân chình trị, nên phải làm ngay, sao cho đội quân chính trị ngày càng
đông, ngày càng mạnh. Phải có quần chúng giác ngộ chính trị, tự nguyện vác
sung thì mới thắng lợi được. Trên đây là đôi nét của tư tưởng Hồ Chí Minh về
xây dựng lực lượng cách mạng và đây cũng chính là tư tưởng xuyên suốt trong
đường lối xây dựng lực lượng cách mạng của Đảng.
Kể từ khi thức dân Pháp nổ súng tiến hành xâm lược nước ta từ giữa thế
kỷ XIX, biến nước ta từ một nước phong kiến độc lập thành một nước thuộc địa
nửa phong kiến với hai mâu thuẫn cơ bản: mâu thuẫn giữa toàn thể dân tộc Việt
Nam với đế quốc Pháp và bè lũ tay sai; mâu thuẫn giữa nhân dân lao động (chủ
6
yếu là nông dân) với địa chủ phong kiến. Kể từ đó đã có rất nhiều phong trào
yêu nước nổ ra nhằm đánh đuổi thực dân Pháp để giành lại độc lập, tự do cho
dân tộc nhưng đều thất bại. Vì các phong trào yêu nước đó đều không có đường
lối cách mạng đúng đắn và phát huy được sức mạnh của toàn dân tộc.
Để giải quyết được hai mâu thuẫn cơ bản của xã hội Việt Nam lúc này cần
có một tổ chức cách mạng có khả năng đề ra đường lối đúng đắn phù hợp với

phong trào quần chúng phát triển thành cao trào cả nước.
2. Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời và lãnh đạo xây dựng lực lượng
chính trị trong cao trào cách mạng 1930-1931
Mùa xuân năm 1930, từ ngày 6/1 đến 7/2 Hội nghị hợp nhất các tổ chức
cộng sản họp ở Cửu Long (Hương Cảng- Trung Quốc) dưới sự chủ trì của
Nguyễn Ái Quốc, với sự tham gia của hai đại biểu Đông Dương cộng sản Đảng
và hai đại biểu của An Nam cộng sản Đảng và hai đại biểu nước ngoài. Hội nghị
đã nhất trí thành lập một Đảng lấy tên là Đảng Cộng sản Việt Nam (ngày
3/2/1930)
1
.
Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời và cao trào cách mạng 1930-1931 đã hình
thành trên thực tế khối liên minh công nông, tạo nên nền tảng vững chắc cho sự
phát triển của cách mạng Việt Nam.
Ngay sau khi Đảng ra đời, thì công tác xây dựng lực lượng cách mạng đã
được chú trong xây dựng từng bước. Trong Cương lĩnh chính trị đầu tiên của
Đảng 1930, Đảng đã chỉ ra sự phát triển của cách mạng Việt Nam là độc lập dân
tộc và chủ nghĩa xã hội, phù hợp với xu thế chung của thời đại và nguyện vọng
của đông đảo quần chúng trong nhân dân, mở ra khả năng lớn để tập hợp và và
thống nhất các lực lượng yêu nước trong nhân dân.
Cương lĩnh đã chỉ rõ nhiệm vụ của cách mạng là đánh đổ đế quốc và phong
kiến, mở đường cho đất nước tiến lên xã hội cộng sản, “chủ trương làm tư sản
1
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ III của Đảng (9/1960) đã quyết định lấy ngày 3/2/1930 là ngày kỷ niệm
thành lập Đảng.
8
dân quyền cách mạng và thổ địa cách mạng để đi tới xã hội cộng sản”
2
. Trong
đó nổi lên hàng đầu là nhiệm vụ chống đế quốc, giải phóng dân tộc tự do cho

3
Văn kiện Đảng toàn tập, tập 2, Nxb CTQG, HN, 2002, trang 4.
9
chính trị đông đảo hung mạnh thì Đảng cần thắt chặt được mối quan hệ giữa giai
cấp công nhân và giai cấp nông dân, để thực hiện được các nhiệm vụ và mục
tiêu của cách mạng.
Trong việc giải quyết mối quan hệ dân tộc giai cấp, Đảng có nhận định đúng
đắn nhằm củng cố và mở rộng hơn nữa khối đại đoàn kết toàn dân trong sự
nghiệp cách mạng của cả dân tộc. Cương lĩnh chính trị đầu tiên xác định giải
quyết vấn đề ruộng đất ở Việt Nam chỉ là: “Thâu hết ruộng đất của đế quốc chủ
nghĩa làm của công chia cho dân cày nghèo”
4
; “quốc hữu hoá toàn bộ đồn điền
và đất đai của bọn đế quốc và địa chủ phản cách mạng An Nam chia cho dân
nghèo”
5
. đảng chỉ rõ, bọn địa chủ phản cách mạng là bọ địa chủ giàu ôm chân đế
quốc, có quyền lợi gắn liền với quyền lợi của đế quốc. Đó là đối tượng cách
mạng cần đánh đổ. “Còn đối với bọn phú nông, trung tiểu địa chủ và tư bản An
Nam mà chưa rõ mặt phản cách mạng thì phải lợi dụng ít lâu mới làm cho học
đứng trung lập. Bộ phận nào đã ra mặt phản cách mạng (Đảng lập hiến…) thì
phải đánh đổ”
6
.
Còn đối với giai cấp tiểu tư sản, trí thức, học sinh phải kéo họ vào phe vô
sản giai cấp, vì họ có tinh thần yêu nước, rất hăng hái cách mạng và nhạy cảm
với thời cuộc.
Còn giai cấp tư sản thì ngay từ khi mới ra đời đã phân hoá làm hai bộ phận:
tư sản mại bản có quyền lợi gắn chặt với với đế quốc Pháp, là kẻ thù của dân
tộc. Còn tư sản dân tộc do bị đế quốc và tư sản mại bản chèn ép nên họ có tinh

tầm quan trọng và tính cấp thiết của cuộc vận động, tập hợp lực lượng quần
chúng. Án nghị quyết và vấn đề phản đế được hội nghị thông qua nhận định: Ở
Đông Dương có nhiều lực lượng phản đế mà hiện nay cần phải liên hiệp lại
thành một phong trào cách mạng thống nhất để đánh đổ đế quốc chủ nghĩa mưu
giải phóng cho xứ Đông Dương. Phê phán những nhận thức sai, xem nhẹ các
“đoàn thể phản đế”. Từ nhận định đó, nghị quyết chỉ rõ: “Việc tổ chức phản đế
là một nhiệm vụ cần kíp của Đảng, thế mà từ trước đến giờ, không có một cái kế
hoạch cho xác đáng để tổ chức hội ấy”.
7
Văn kiện Đảng toàn tập, tập 2, Nxb CTQG, HN, 2002, trang 4.
11
Mục đích của Hội phản đế là đoàn kết các lực lượng phản đế để đánh đổ
đế quốc chủ nghĩa, mưu việc hoàn toàn độc lập cho các xứ Đông Dương và bênh
vực phong trào giải phóng thuộc địa và bán thuộc địa. Làm cho Hội ấy có tính
chất quần chúng, hoạt động công khai, tích cực tham gia vào cuộc đấu tranh
hang ngày của công nông.
Nghị quyết về vấn đề phản đế của Đảng tại Hội gnhị trung ương tháng
10/1930, những phác hoạ cụ thể đầu tiên về xây dựng mặt trận dân tộc thống
nhất nhằm tập hợp lực lượng toàn dân trong sự nghiệp giải phóng dân tộc cho
nên không tránh khỏi những sai lầm thiếu sót. “Luận cương chính trị” đánh giá
các giai cấp, tầng lớp có một số quan điểm khác với Cương lĩnh chính trị đầu
tiên của Đảng. Luận cương chính trị khẳng định vai trò cách mạng của công
nông, coi công nông là động lực chính của cách mạng và phong trào giải phóng
dân tộc phải diễn ra với sức mạnh của chính khối liên minh công nông. Còn các
giai cấp, tầng lớp khác, Đảng có nhận thức, đánh giá khác với Cương lĩnh chính
trị đầu tiên.
Còn đối với tư bản thương mại, tư bản công nghiệp, khi phong trào quần
chúng nổi lên cao thì bọn này sẽ theo đế quốc. Còn tiểu tư sản có nhiều hạng:
thủ công nghiệp đối với phong trào cách mạng vô sản, hang này cũng có ác
cảm… rất do dự. Bọn thương gia không tán thành cách mạng. Trí thức, tiểu tư

bức dân chúng đi đấu tranh trong khi họ chưa được giác ngộ. Hội nghị đã đề ra
nhiệm vụ tiếp tục phát triển các tổ chức nông hội, công hội đỏ… để thu hút quần
chúng nhưng lại không đề cập phải rtanh thủ các tầng lớp khác như địa chủ, phú
nông… có tinh thần dân tộc chống đế quốc, phong kiến.
Cao trào cách mạng 1930-1931 đã góp phần hình thành trên thực tế khối
liên minh công nông, phong trào của các tầng lớp nhân dân. Đó chính là nền
tảng cho sự ra đời của mặt trận dân tộc thống nhất Đông Dương.
3. Thời kỳ vừa đấu tranh khôi phục các tổ chức Đảng và phong trào
cách mạng, vừa lãnh đạo xây dựng lực lượng chính trị (1932-1935)
13
Giữa lúc phong trào cách mạng của quần chúng đang dâng cao. Sauk hi Xô
viết Nghệ Tĩnh ra đời, đế quốc Pháp và tay sai thẳng tay đàn áp hòng dập tắt
phong trào cáchmạng Việt Nam và tiêu diệt Đảng Cộng sản Đông Dương.
Hàng chục vạn chiến sĩ cộng sản và quần chúng yêu nước đã bị bắt và giết
hại. Các cơ quan lãnh đạo của Đảng ở trung ương và địa phương lần lượt bị phá
vỡ. Toà án của thực dân Pháp mở các phiên toà đặc biệt để xét xử những người
cách mạng.
Đi đôi với khủng bố, tàn sát, thực dân Pháp tìm cách lừa bịp, mị dân: tăng số
đại biểu người Việt ở các viện dân biểu ở Bắc Kỳ và Trung Kỳ, ở Hội đông
quản hạt Nam Kỳ và các hội đồng thành phố, đề ra cải cách giáo dục, cho địa
chủ lớn và tư sản mại bản một số quyền lợi.
Sự khủng bố và lừa bịp của thực dân Pháp không làm cho những chiến sĩ
cách mạng và quần chúng yêu nước từ bỏ con đường cách mạng, rất nhiều cuộc
đấu tranh của công nhân, nông dân vẫn nổ ra.
Các đảng viên cộng sản trong nhà tù Hoả Lò (Hà Nội), Kham Lớn (Sài
Gòn), Hải Phòng, Côn Đảo, Kon Tum… đã thành lập các chi bộ Đảng để lãnh
đạo đấu tranh chống chế độ nhà tù hà khắc, đòi cải thiện đời sống và tổ chức học
tập, biến nhà tù đế quốc thành trường học cách mạng.
“Biến được cái rủi thành cái may, các đồng chí đã lợi dụng được những ngày
tháng ở tù để hội họp và học tập lý luận. Một lần nữa, việc đó lại chứng tỏ rằng

Tháng 3/1935, đại hội lần thứ nhất của Đảng họp ở Macao (Trung Quốc) đã
nhận định sức mạnh của Đảng là dựa trên uy tín và ảnh hưởng của Đảng trong
quần chúng. Đại hội nhấn mạnh công tác tranh thủ rộng rãi quần chúng là nhiệm
vụ quan trọng nhất. Đại hội đã thông qua nghị quyết về vận động công nhân,
nông dân, binh lính, thanh niên, phụ nữ… Điều đó chứng tỏ đảng tiếp tục chú ý
xây dựng lực lượng cách mạng, lấy đó làm cơ sở để đảng khôi phục và phát
triển,chuẩn bị phát động phong trào đấu tranh mới.
Đại hội đã ra quyết định thành lập tổ chức phản đế liên minh. Đay là tổ chức
tập hợp tất cả các lực lượng phản đế ở Đông Dương, bao gồm tất cà những đảng
phái, đoàn thẻ, tổ chức, lớp, nhóm có tính chất cách mạng kể cả những phần tử
lẻ tẻ, với những hình thức và biện pháp đấu tranh phong phú.
15
Đối với các đảng pháỉ cải lương, phản động thì tổ chức mặt tận phản đế bên
dưới với các đoàn thể của tiểu tư sản có thể thống nhất bên dưới, vừa thống nhất
bên trên.
Trong khi thành lập được Mặt trận thống nhất phản đế, Đảng phải đưa ra
khẩu hiệu tối thiểu, đề ra những sang kiến lãnh đạo mặt trận,với những chủ
trương trên cho thấy đường lối của Đảng về thành lâpk phản đế liên minh đã có
sự linh hoạt, mềm dẻo hơn.
Đảng đã chủ trương liên minh với tất cả các Đảng cải lương, những phần tử
phản cách mạng lẻ tẻ để tăng cường lực lượng phản đế. Điều đó cho thấy Đảng
đã có bước tiến mới trong việc xây dựng lực lượng cách mạng.
Từ Hội phản đế đồng minh (1930) đến tổ chức phản đế liên minh (1935)
được hình thành cả hai tổ chức đó đều đã góp phần quan trọng trong việc xây
dựng và tập hợp lực lượng quần chúng đấu tranh trong cả nước và là sự chuẩn bị
lực lượng cách mạng cần thiết cho cách mạng tháng tám sau này.
II. Đảng lãnh đạo xây dựng lực lượng trong cao trào cách mạng 1936-1939
1. Hoàn cảnh lịch sử
a. Tình hình thế giới
Hậu quả của cuộc khủng hoảng kinh tế 1929-1933 và nguy cơ của một

nhân dân lúc này là đòi quyền sống, quyền tự do, dân chủ, cơm áo, hoà bình.
Trong khi đó bọn cầm quyền ở Đông Dương đã phát xít hoá bộ máy chính
quyền, chúng ra sức bóp nghẹt mọi quyền tự do dân chủ, kéo dài chính sách
khủng bố, đàn áp phong trào đấu tranh của nhân dân ta.
Tình hình trên đây làm cho nhân dân ta bao gồm nhiều giai cấp, tuy có
quyền lợi khác nhau, càng thêm căm thù bè lũ thực dân, tư bản độc quyền Pháp
và đều có nguyện vọng chung trước mắt về quyền lợi dân sinh dân chủ, trừ một
nhòm tư sản mại bản chỉ cam tâm làm tôi tớ cho bọn cướp nước. Vì thế, yêu cầu
cải cách và cải thiện đời sống nhân dân là một đòi hỏi bức thiết đối với mọi giai
cấp và tầng lớp xã hội, kể cả bộ phận lớp trên.
17

Trích đoạn Kết quả trong Cách mạng tháng Tám 1945
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status