CHƯƠNG III
KẾ HOẠCH HÓA QUÁ TRÌNH XÂY DỰNG KẾT CẤU HẠ TẦNG TRÊN
VÙNG LÃNH THỔ.
I. Vai trò của kết cấu hạ tầng trong đời sống kinh tế - xã hội và quốc phòng:
1. Kết cấu hạ tầng : là một tổ hợp các cơ sở của các ngành được tổ chức, bố
trí trên một vùng lãnh thổ để phục vụ cho quá trình tái sản xuất mở rộng, phục vụ
cho đời sống của dân cư, phục vụ cho an ninh quốc phòng.
Cũng có thể kết cấu hạ tầng là tổng thể các ngành và các loại hình hoạt
động phục vụ quá trình sản xuất xã hội nhằm đảm bảo tính liên tục của các chu
chuyển kinh tế trong nền kinh tế quốc dân, là cơ sở để cho sản xuất và sức lao động
hoạt động được bình thường
Nếu hiểu một cách khái quát nhất thì kết cấu hạ tầng là những điều kiện vật
chất của lãnh thổ nhằm phục vụ cho sản xuất đời sống và quốc phòng.
Ví dụ về kết cấu hạ tầng:
- Kết cấu hạ tầng ngành giao thông vận tải: hệ thống đường bộ (xây dựng
đường cao tốc Đà Nẵng – Quảng Ngãi,..), đường sắt (nâng cấp đường sắt Bắc –
Nam,…) , cảng biển (hệ thống các cảng biển nước sâu ở miền Trung ,…) ,…..
- Kết cấu hạ tầng ngành năng lượng: Nhà máy thủy điện Hòa Bình, tập đoàn
điện lực EVN, nhà máy điện hạt nhân( Ninh Thuận),….
- Kết cấu hạ tầng ngành bưu chính viễn thông: Mạng bưu chính, mạng vận
chuyển, Đầu tư các thiết bị như máy ATM, máy bán ấn phẩm tự động, máy bán tem
tự động, máy bán đồ uống, xây dựng mạng vô tuyến băng rộng công nghệ Wimax,
mạng Internet: triển khai thiết bị truy nhập DSLAM đến trung tâm các huyện, các xã
có kinh tế phát triển trong tỉnh, …..
- Kết cấu hạ tầng cấp nước và vệ sinh môi trường: xây dựng hệ thống cấp
thoát nước ở các tỉnh - thành phố, hệ thống xử lý chất thải ở các tỉnh, thành phố,
doanh nghiệp,….
- Kết cấu hạ tầng của an ninh quốc phòng: tập trung xây dựng cơ sở nghiên
cứu, sản xuất, sửa chữa lớn, cải tiến, hiện đại hoá vũ khí, trang bị kỹ thuật quân sự,
kéo các vùng liền kề phát triển.
- Phát triển kết cấu hạ tầng góp phần vào việc giữ gìn môi trường.
Tóm lại, kết cấu hạ tầng đóng vai trò đặc biệt quan trọng đối với sự phát
triển kinh tế - xã hội của một quốc gia, tạo động lực cho sự phát triển. Hệ thống kết
cấu hạ tầng phát triển đồng bộ, hiện đại sẽ thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, nâng cao
năng suất, hiệu quả của nền kinh tế và góp phần giải quyết các vấn đề xã hội. Ngược
lại, một hệ thống kết cấu hạ tầng kém phát triển là một trở lực lớn đối với sự phát
triển. Ở nhiều nước đang phát triển hiện nay, kết cấu hạ tầng thiếu và yếu đã gây ứ
đọng trong luân chuyển các nguồn lực, khó hấp thụ vốn đầu tư, gây ra những “nút cổ
chai kết cấu hạ tầng” ảnh hưởng trực tiếp đến tăng trưởng kinh tế.
Thực tế trên thế giới hiện nay, những quốc gia phát triển cũng là những
nước có hệ thống kết cấu hạ tầng phát triển đồng bộ và hiện đại. Trong khi đó, hầu
hết các quốc gia đang phát triển đang có hệ thống kết cấu hạ tầng kém phát triển.
Chính vì vậy, việc đầu tư phát triển hạ tầng đang là ưu tiên của nhiều quốc gia đang
phát triển. Ở Việt Nam, với quan điểm “kết cấu hạ tầng đi trước một bước”, trong
những năm qua Chính phủ đã dành một mức đầu tư cao cho phát triển kết cấu hạ
tầng. Khoảng 9-10% GDP hàng năm đã được đầu tư vào ngành giao thông, năng
lượng, viễn thông, nước và vệ sinh, một tỷ lệ đầu tư kết cấu hạ tầng cao so với chuẩn
quốc tế.
Dưới đây là những thành tựu rất đáng ghi nhận của kết cấu hạ tầng ở
Việt Nam trong thời gian qua:
Trong kết cấu hạ tầng giao thông, về cơ bản đã hoàn thành việc cải tạo,
nâng cấp hệ thống quốc lộ chính, gồm Trục dọc Bắc Nam với quốc lộ I, đường Hồ
Chí Minh – giai đoạn I; hệ thống quốc lộ hướng tâm là quốc lộ 2, 3, 5, 6, 32, 13, 51,
22, Xuyên Á; hệ thống đường vành đai biên giới phía Bắc, Tây Nguyên và Tây Nam
Bộ là các quốc lộ 279, 4A, 4B, 14, 14C – giai đoạn I, N2 – Đức Hòa – Thạch Hóa,
nước có 96% hộ gia đình được cấp điện lưới quốc gia. Hầu hết các dự án quy mô
lớn, đa mục tiêu đều do các doanh nghiệp nhà nước lớn đầu tư xây dựng theo quy
hoạch phát triển điện lực quốc gia. Đã đưa vào vận hành khai thác khoảng 6.500
MW thủy điện, chiếm 34,2% tổng công suất lắp đặt toàn hệ thống (19.400 MW). Đã
có một số dự án đầu tư theo hình thức BOT như điện Phú Mỹ 2.2, Phú Mỹ 3, thủy
điện Cần Đơn…
Kết cấu hạ tầng viễn thông và công nghệ thông tin được khẩn trương
xây dựng và củng cố với hệ thống đường truyền dẫn hữu tuyến, vô tuyến, cột trạm
phát sóng (BTS), hệ thống bể ngầm, cống ngầm dẫn cáp…vận hành, khai thác, thực
hiện chiến lược tăng tốc, mạng thông tin mở rộng nhanh, đi vào kỹ thuật hiện đại hòa
nhập quốc tế. Các dịch vụ bưu chính viễn thông đang có nhiều cải thiện, đáp ứng yêu
cầu sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội và thu hút các nguồn vốn đầu tư phát triển.
Sự phát triển nhanh chóng hệ thống đô thị, trong đó có các công trình hạ
tầng kỹ thuật được quan tâm đầu tư xây dựng, từng bước nâng cao chất lượng đô thị,
cải thiện đời sống nhân dân, góp phần xóa đói giảm nghèo, bước đầu tạo lập nền tảng
phát triển đô thị bền vững. Đến thàng 10/2010, cả nước có 754 đô thị, trong đó 2 đô
thị loại đặc biệt, 10 đô thị loại I, 12 đô thị loại II… với dân số khoảng 26,8 triệu
người, mức tăng bình quân 3,4%/năm, tỷ lệ đô thị hóa năm 2010 đạt khoảng 30%.
Hệ thống nước sạch đã cung cấp đến hầu hết người dân thuộc khu vực
dựng, công nghiệp, dịch vụ…
3. Phân loại kết cấu hạ tầng :
Dựa vào chức năng của mỗi loại kết cấu hạ tầng người ta chia kết cấu
hạ tầng thành 2 loại :
- Kết cấu hạ tầng sản xuất ( kỹ thuật ) là hệ thống những ngành trực tiếp phục
vụ quá trình sản xuất như : giao thông vận tải, thông tin liên lạc, cung ứng vật tư kỹ
thuật, các trạm và hệ thống truyền tải điện năng, nhiên liệu
- Kết cấu hạ tầng xã hội bao gồm các ngành đảm bảo điều kiện chung cho việc
phát triển giáo dục, y tế, văn hóa, nhà ở, dịch vụ đời sống, các công trình công cộng
Sự phân chia kết cấu hạ tầng như trên chỉ là tương đối vì trong thực tế
mỗi ngành của kết cấu hạ tầng đều thực hiện chức năng phục vụ sản xuất và phục vụ
các yêu cầu khác của xã hội.
Ngoài cách phân loại trên, toàn bộ kết cấu hạ tầng có thể được phân chia thành
nhiều loại khác nhau dựa trên tiêu chí khác nhau. Cụ thể như:
- Nếu căn cứ theo lĩnh vực kinh tế - xã hội, thì kết cấu hạ tầng có thể được
phân chia thành: kết cấu hạ tầng phục vụ kinh tế, kết cấu hạ tầng phục vụ hoạt động
xã hội, và kết cấu hạ tầng phục vụ an ninh quốc phòng. Tuy nhiên trên thực tế, ít có
loại kết cấu hạ tầng nào hoàn toàn chỉ phục vụ kinh tế mà không phục vụ hoạt động
xã hội và ngựơc lại.
- Nếu căn cứ theo sự phân ngành của nền kinh tế quốc dân, thì kết cấu hạ tầng
có thể được phân chia thành: kết cấu hạ tầng trong công nghiệp, nông nghiệp, giao
thông vận tải, bưu chính viễn thông, xây dựng, hoạt động tài chính, ngân hàng, y tế,
giáo dục, văn hóa xã hội,...
- Nếu căn cứ theo khu vực dân cư, vùng lãnh thổ thì kết cấu hạ tầng có thể
được phân chia thành: kết cấu hạ tầng đô thị, kết cấu hạ tầng nông thôn, kết cấu hạ
tầng kinh tế biển (ở những nước có kinh tế biển, và nhất là khi kinh tế biển lớn như ở
nước ta), kết cấu hạ tầng đồng bằng, trung du, miền núi, vùng trọng điểm phát triển,
các thành phố lớn...
2. Kế hoạch hóa xây dựng một số mạng lưới kết cấu hạ tầng kỹ thuật chủ
yếu
Trong những năm tới mức vốn đầu tư vào kết cấu hạ tầng đòi hỏi phải tăng lên 1112% GDP thay vì ở mức 9-10% như hiện nay.
a. Kế hoạch hóa xây dựng mạng lưới cung cấp năng lượng trên vùng lãnh
thổ
- Vai trò của năng lượng trong sản xuất đời sống và quốc phòng. Năng lượng
là một nhu cầu không thể thiếu, nhiều khi mang tính quyết định đối với quá trình
phát triển sản xuất, nâng cao đời sống và trong quốc phòng.
Nhu cầu năng lượng trên thế giới ngày càng tăng. Trong thời kỳ 1876-1950
nhu cầu năng lượng tăng bình quân hàng năm là 1,4%. Thời kỳ 1950-1972 là 5,3%.
Thời kỳ 1972-1992 là 10%. Báo cáo Triển vọng Năng lượng Thế giới 2005, Cơ quan
Năng lượng Quốc tế (IEA) cho biết nhu cầu dầu mỏ trên toàn cầu sẽ tăng 50% vào
năm 2030, cao hơn 5,5 tỷ tấn so với mức tiêu thụ hiện nay.
Theo chiến lược năng lượng của chính phủ cho giai đoạn 2006-2015, mỗi
năm Việt Nam phải tăng công suất điện từ 17-20%. Nhu cầu năng lượng điện ở
Việt Nam dự báo đến năm 2020 cần 175-208 tỷ kwh, cần tổng công suất tương ứng
là 30 ngàn đến 36 ngàn Mw. Trong khi đó khả năng các dạng năng lượng ở Việt
Nam đến năm 2020 là : Than 15 triệu tấn/năm, dầu mỏ : 30-35 triệu tấn/năm, thủy
điện : 50-60 tỷ kwh, nhiệt điện : 200Mw và phải tính đến phương án xây dựng nhà
máy điện nguyên tử. Về hệ thống cấp điện hiện nay đã được thống nhất chung
trong cả nước, đặc biệt là hệ thống đường dây 500 KV từ Bắc vào Nam là một
bước tiến mới của mạng phân phối điện hiệu quả ở các vùng.
Hiện nay, 100% số huyện đã có điện lưới quốc gia. Điện năng có thời điểm
chưa đáp ứng đủ nhu cầu sản xuất trong các trung tâm công nghiệp. Chi phí cho
điện năng và viễn thông còn cao... Ở các nước công nghiệp phát triển thì mức tiêu
dùng năng lượng bình quân đầu người rất cao. Một người Mỹ tiêu dùng năng lượng
nhiều hơn người dân Nam Á 17 lần.. Nước Pháp một năm tiêu dùng khoảng 200
triệu tấn xăng dầu. Nhiều cuộc chiến tranh đều bắt nguồn từ tham vọng giải quyết
- Quan hệ quốc tế : tức là sử dụng hoạt động ngoại thương để tăng khả năng
năng lượng. Chẳng hạn như Nhật Bản nhập khẩu 100% than đá, dầu thô. Ở Pháp
60% nhu cầu năng lượng dựa vào nhập khẩu
Vấn đề xây dựng bảng cân đối năng lượng trên mỗi vùng lãnh thổ : Để
cân đối nguồn năng lượng trên mỗi vùng lãnh thổ cần tiến hành qua các bước sau :
- Bước 1 : Tiến hành điều tra cơ bản để nám : trữ lượng, chủng loại, chất
lượng mỗi dạng năng lượng
- Bước 2 : Xác định khả năng sản xuất năng lượng tại mỗi vùng và phần yêu
cầu trung ương cung cấp
- Bước 3 : Hình thành nội dung bảng cân đối năng lượng trên mỗi vùng lãnh
thổ :
Cần xác định sẽ sử dụng loại năng lượng nào là thích hợp
Bố trí địa điểm các cơ sở sản xuất các dạng năng lượng
Cân đối nguồn và phương tiên chuyển tải
Xác định khả năng tham gia vào mạng lưới năng lượng quốc gia.
Với những chủ trương, chính sách ưu tiên đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng,
trong những năm qua Việt Nam đã dành lượng vốn hàng năm chiếm khoảng 910% GDP đầu tư cho phát triển kết cấu hạ tầng.
Bảng các cơ chế cấp vốn đầu tư kết cấu hạ tầng (% GDP)
Nguồn vốn
Giao thông
Người sử dụng
Điện
Viễn thông
0,8
0,1
Trái phiếu CP
1,2
NHTMNN
0,1
Tư nhân
0,2
1,2
1,2
0,2
0,3
0,6
2,0
Cộng đồng
Tổng
chất lượng nước trên bề mặt : sông, ao, hồ....Điều tra thăm dò khả năng nước ngầm
của vùng. Nắm quy luật, tình trạng phân bố nước theo thời gian và không gian. Hệ
thống cung cấp nước sạch được chú ý, tỷ lệ dân nông thôn được dùng nước sạch
tăng lên.
Dựa trên cơ sở những thông tin đó mới có cơ sở để bố trí các công trình
cung cấp nước và thoát nước đạt hiệu quả cao.
- Xác định nhu cầu nước cho sản xuất và đời sống. Để xác định nhu cầu nước
cho sản xuất cần nắm quy mô, tốc độ phát triển của mỗi ngành, định mức tiêu dùng
nước để sản xuất ra một đơn vị sản phẩm của mỗi ngành trong công nghiệp.
Trong sản xuất nông nghiệp cần nắm diện tích các loại cây trồng và thời vụ để
xác định nhu cầu nước cho sản xuất nông nhiệp, lâm nghiệp. Để xác định nhu cầu
nước cho tiêu dùng phải nắm quy mô dân cư, nghề nghiệp và định mức tiêu dùng
nước bình quân trên đầu người
- Nắm thực trạng về cơ sở vật chất hiện có của hệ thống cung cấp nước và
thoát nước trên mỗi vùng lãnh thổ
Sau đó cân đối giữa thực trạng và nhu cầu để xác định cần xây dựng
thêm những công trình cấp thoát nước, trung ương hay địa phương xây dựng, nguồn
vốn xây dựng ....
Hiện nay chính phủ Việt Nam đã tính toán, dự báo nhu cầu vốn đầu tư
để tăng cơ sở vật chất kỹ thuật cho việc cung cấp nước sạch từ năm 2000-2020 là
29.065 tỷ đồng và 1052 triệu USD .
- Rà soát lại, hoàn chỉnh quy hoạch hệ thống cung cấp nước và thoát nước trên
mỗi vùng lãnh thổ. Quy hoạch này phải được xây dựng theo từng khu vực sản xuất,
từng điểm dân cư.
- Xây dựng bảng cân đối nước và thoát nước cho toàn vùng, cho mỗi ngành và
từng điểm dân cư bao gồm :
Cân đối nước cho sản xuất công nghiệp: cân đối theo từng cụm xí
nghiệp, từng ngành
Khả năng phát triển giao thông vận tải địa phương rất đa dạng và rất
khác nhau : Vùng có sông có biển mới phát triển được giao thông vận tải đường sông
đường biển. Có vùng thuận lợi cho phát triển đường sắt đường bộ, trái lại có vùng rất
khó khăn. Từ đó mỗi vùng lãnh thổ phải tận dụng thế mạnh của mình để khai thác,
phát triển giao thông vận tải cho phù hợp. Ở đồng bằng sông Cửu Long dự báo cơ
cấu vận chuyển theo đường thủy, đường bộ như sau :
Năm
1. Hàng hóa (triệu tấn)
2000
45,8
2005
77,2
2010
118,7
- Đường thủy
26,6
46,3
73,6
- Đường bộ
Thành phố cần chú trọng tăng khả năng phục vụ cho giao thông công cộng. Vào năm
2010 ở Việt Nam giao thông công cộng phải đảm nhận 50% nhu cầu đi lại của nhân
dân thành phố.
- Thực trạng về hệ thống giao thông vận tải địa phương :
Hệ thống đường bộ do địa phương quản lý : Tỉnh quản lý khoảng 15.000km
trong đó đường loại vừa và tốt chỉ chiếm 25%. Đường bộ huyện quản lý khoảng
47.000km mà chủ yếu là đường đất.
- Đường bộ: xét trên bình diện cả nước và cụ thể trên các vùng, đã hình
thành hệ thống đường bộ toàn quốc với các trục Bắc- Nam, Đông- Tây nối liền các
vùng kinh tế với các nước láng giềng. Về mật độ giao thông, theo đánh giá của
OECF OECF thì mật độ đường của Việt Nam cao hơn một số nước ASEAN, đạt
2
2
0,64 km/km , trong khi đó Thái Lan đạt 0,2 km/km , Philippin đạt 0,45
2
2
km/km , Malaysia đạt 0,25 km/km .
- Đường biển: đến nay, cả nước có hơn 100 cảng biển với năng lực thông
qua hơn 50 triệu tấn/năm, được phân bố thành 8 nhóm cảng. Đó là: (1) Nhóm cảng
phía Bắc (bao gồm các cảng từ bờ biển Quảng Ninh đến Ninh Bình); (2) Nhóm
cảng Bắc Trung Bộ (bao gồm các cảng từ bờ biển Thanh Hoá đến Hà Tĩnh); (3)
Nhóm cảng Trung Trung Bộ (bao gồm các cảng từ bờ biển Quảng Bình đến Quãng
Ngãi); (4) Nhóm cảng Nam Trung Bộ (bao gồm các cảng từ bờ biển Bình Định đến
Bình Thuận); (5) Nhóm cảng Thành phố Hồ Chí Minh- Vũng Tàu- Thị Vải; (6)
Nhóm cảng Đồng bằng Sông Cửu Long; (7) Nhóm cảng các đảo Tây Nam; và (8)
Nhóm cảng Côn Đảo. Các hệ thống cảng biển này được gắn kết với mạng lưới
giao thông đường sắt, đường bộ tạo mối liên kết bền vững trên lãnh thổ cả nước.
Thị phần vận tải biển đạt 12% hàng xuất khẩu và 16,5% hàng nhập khẩu. Đã hiện
phù hợp với cơ cấu kinh tế và đặc điểm của từng địa phương. Chẳng hạn như các
tỉnh duyên hải miền Trung đòi hỏi phải phát triển hệ thống giao thông vận tải khá
toàn diện : phải có hệ thống giao thông vận tải để khai thác vùng ven biển, phải phát
triển giao thông vận tải đô thị, phải có hệ thống giao thông vận tải để khai thác vùng
núi phía Tây
Bảo đảm phát triển cân đối các loại phương tiện vận tải trên mỗi vùng
lãnh thổ ( cân đối giữa các loại phương tiện giao thông vận tải, giữa vận tải cơ giới
và vận tải thô sơ ), tổ chức tốt các đầu mối giao thông, tổ chức các liên hiệp vận tải
giữa các phương tiện vận tải nhằm tạo điều kiện thuận lợi nhất cho khách hàng
Trong phát triển giao thông vận tải địa phương thì việc xây dựng, phát triển
giao thông vận tải nông thôn có vị trí hết sức quan trọng vì vùng nông thôn Việt Nam
chiếm 76,5% dân số và 68% lao động xã hội (1999)
- Nội dung của kế hoạch xây dựng giao thông vận tải trên mỗi vùng lãnh
thổ :
Kế hoạch phát triển giao thông địa phương :
Mỗi địa phương phải lập kế hoạch phát triển giao thông của địa phương
cho thời kỳ từ 10 đến 20 năm. Chẳng hạn như thành phố Hồ Chí Minh đã có quy
hoạch phát triển giao thông thành phố : phát triển mạnh giao thông công cộng để đến
năm 2010 có thể bảo đảm 50% nhu cầu đi lại của nhân dân trong thành phố, sẽ xây
dựng 1 tuyến tàu điện ngầm, xây dựng hệ thống xe điện nổi bánh lốp. Đến năm 2010
giao thông thành phố Hồ Chí Minh có thể đáp ứng yêu cầu đi lại cho 2,1 tỷ lượt
người đi lại ở khu vực đô thị mới của thành phố.
Có dự án xây dựng đường, cầu, cống thoát nước : nhu cầu này sẽ rất lớn vì
Việt Nam sẽ đẩy mạnh công nghiệp hóa hiện đại hóa trong thời gian đến. Xây dựng
kế hoạch bảo dưỡng, sửa chữa nâng cấp đường. Nhiệm vụ này rất nặng đối với địa
phương nhất là khu vực miền Trung, vì đây là nơi thường xảy ra lũ lụt.
Kế hoạch phát triển vận tải địa phương
Xác định nhu cầu vận chuyển hàng hóa : có thể xác định theo tốc độ
phát triển kinh tế- xã hội từng vùng và cả nước, vì vậy, phát triển mạnh mạng bưu
chính viễn thông là góp phần lớn vào thực hiện công nghiệp hoá, hiện đại hoá
nhanh ở các vùng và cả nước. Phát triển đi đôi với quản lý và khai thác có hiệu
quả, nhằm tạo điều kiện ứng dụng và thúc đẩy phát triển công nghệ thông tin trong
mọi lĩnh vực của toàn xã hội, góp phần phát triển kinh tế- xã hội trong từng vùng
và nâng cao dân trí.
Trong nền kinh tế thị trường, thông tin có vai trò vô cùng quan trọng.
Muốn có thông tin thì phải thu thập xử lý, bảo quản và truyền thông tin.
Trong đó hệ thông thông tin liên lạc đóng vai trò quan trọng về chuyển tải thông tin.
Từ đó thông tin liên lạc góp phần trực tiếp và gián tiếp phát triển sản xuất.
Hệ thống thông tin liên lạc góp phần giảm chi phí giao dịch, đi lại, chi
phí quản lý kinh tế, quản lý nhà nước
Hệ thống thông tin liên lạc hiện đại tạo điều kiện cho các vùng lãnh thổ tiếp
cận với bên ngoài, thúc đẩy chính sách mở cửa
Hệ thống thông tin liên lạc là điều kiện quan trọng trong hoạt động của
an ninh, quốc phòng. Trong những năm gần đây hệ thống thông tin liên lạc Việt Nam
phát triển nhanh. Song so với yêu cầu phục vụ sản xuất và đời sống vẫn còn hạn chế.
Cụ thể là tốc độ truyền thông tin còn chậm, chưa đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế xã hội, giá cước thông tin liên lạc còn cao hơn so với các nước trong khu vực. Mức
độ phối hợp giữa các loại thông tin liên lạc như vô tuyến, phát thanh, truyền hình,
giữa hiện đại và thô sơ chưa tốt.
Nội dung kế hoạch xây dựng mạng lưới thông tin liên lạc trên mỗi vùng
lãnh thổ
Mỗi vùng lãnh thổ cần xác định lại thực trạng về mạng lưới thông tin
liên lạc về số lượng, chất lượng, mức độ đáp ứng yêu cầu của sản xuất và đời sống
Xây dựng quy hoạch, kế hoạch phát triển mạng lưới thông tin liên lạc thời kỳ
2001-2010 phải nhằm đảm bảo tính đồng bộ giữa các loại phương tiện thông tin liên
lạc và chú ý đến những yêu cầu cơ bản về thông tin liên lạc. Chẳng hạn như phải
đảm bảo 100% số xã phải liên lạc được với huyện, với các xã bạn
Đồng Văn, Mèo Vạc (Hà Giang).
- Đối với vùng Tây Nguyên, hệ thống giao thông còn kém phát triển, đặc biệt
là hệ thống các trục cắt ngang các quốc lộ nối với hệ thống cảng ở miền Trung và
giao lưu với Lào và Campuchia. Hệ thống thuỷ lợi chưa thể cung cấp đủ nước cho
sản xuất nông, lâm nghiệp, nhất là vào mùa khô.
- Đối với vùng đồng bằng sông Cửu Long, tồn tại cơ bản là hệ thống đường bộ
kém phát triển, mùa mưa lũ thường bị tắc nghẽn, ngập lụt, đi lại rất khó khăn. Khả
năng cung cấp nước sạch còn rất thấp so với nhu cầu của nhân dân.
- Đối với các vùng kinh tế đã tương đối phát triển so với cả nước (đồng bằng
sông Hồng và vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ, duyên hải miền Trung và vùng kinh
tế trọng điểm miền Trung, và Đông Nam Bộ và vùng kinh tế trọng điểm phía Nam),
hệ thống kết cấu hạ tầng đô thị chắp vá, không đáp ứng nhu cầu đô thị hoá. Còn thiếu
nhiều đường cao tốc quan trọng nối các trung tâm, các đô thị lớn, các khu công
nghiệp ra cảng. Giao thông nông thôn vẫn còn thiếu và chất lượng chưa tốt.
III. Kế hoạch hóa quá trình xây dựng kết cấu hạ tầng xã hội :
1. Vai trò kết cấu hạ tầng xã hội :
- Phục vụ trực tiếp cho quá trình tái sản xuất dân số. Từ đó nâng cao chất
lượng dân số và nâng cao chất lượng lao động xã hội.
- Kết cấu hạ tầng xã hội là một điều kiện đủ để ổn định, nâng cao mức sống,
nâng cao tính chất văn minh trong tổ chức đời sống xã hội
- Từ đó kết cấu hạ tầng xã hội tác động gián tiếp đến quá trình sản xuất
Kết cấu hạ tầng xã hội: xếp vào loại này gồm nhà ở, các cơ sở khoa học,
trường học, các công trình văn hóa, thể thao... và các trang thiết bị đồng bộ với
chúng. Đây là điều kiện thiết yếu để phục vu, nâng cao mức sống của cộng đồng dân
cư. Bồi dưỡng, phát triển tạo ra nguồn nhân lực mới phát triển hài hòa cả về thể lực
cũng như trí lực, phù hợp với tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.
Phát triển kết cấu hạ tầng xã hội tác động rất tích cực đến giảm nghèo, trực
tiếp tác động đến các vùng nghèo, hộ nghèo thông qua việc cải thiện hạ tầng mà nâng
- Xây dựng và mở rộng mạng lưới thương nghiệp bán lẻ, nâng cao chất lượng
phục vụ.
Hệ thống bán lẻ của các siêu thị đã bao phủ khắp cả nước. Đặc biệt là hệ thống
bán lẻ của siêu thị coopmart metro bigc…
- Hệ thống thương nghiệp bán lẻ ở Việt Nam hiện nay có : thương nghiệp quốc
doanh, thương nghiệp hợp tác xã, thương nghiệp tư nhân, hệ thống chợ ở thành thị và
nông thôn.
Thị trường bán lẻ liên tục phát triển với tốc độ cao từ 20% đến 25% qui
mô, tổng mức bán lẻ hàng hoá dịch vụ đạt từ 750.000-800.000 tỷ đồng
những năm 2006-2008, lên trên 1 triệu ngàn tỷ đồng năm 2010. Năm 2011
mặc dù kinh tế khó khăn, giá cả tiêu dùng cao, sức mua giảm nhưng vẫn
có thể đạt 1,3 triệu ngàn tỷ đồng. Theo số liệu thống kê, lĩnh vực bán lẻ
hàng hoá-dịch vụ đã đóng góp khoảng 15% GDP, doanh số bán lẻ bằng
60-70% GDP, góp phần tăng trưởng kinh tế trong những năm qua.
Thương nghiệp quốc doanh chỉ còn chiếm 25-30% thị trường bán lẻ, và có xu
hướng tiếp tục giảm. Ở mỗi địa phương thương nghiệp quốc doanh bán lẻ chủ yếu
kinh doanh những mặt hàng thiết yếu, nhất là bảo đảm nguồn hàng cho các hợp tác
xã mua bán, dự trữ những mặt hàng thiết yếu để góp phần ổn định giá cả thị trường.
ở đây thương nghiệp quốc doanh là kinh tế do nhà nước giữ vai trò chủ đạo,
nên nguồn lực (vốn đầu tư, vốn kinh doanh, tài nguyên, đặc quyền kinh doanh,...) đã
được phân bổ quá ưu đãi cho khu vực này, khiến ràng buộc ngân sách của chúng
mềm, không buộc chúng phải cạnh tranh khốc liệt, thiếu những khuyến khích đúng
nên hiệu quả hoạt động kém.
Hợp tác xã mua bán : Nhà nước đang có chủ trương khôi phục, phát
triển loại hình kinh doanh này, nhất là ở nông thôn. Vì ở nông thôn, hộ nông dân là
đơn vị kinh tế tự chủ, từ đó sẽ diễn ra quá trình phân công lại lao động giữa các hộ :
một số hộ làm nông nghiệp giỏi tiếp tục phát triển sản xuất nông nghiệp, một bộ
thu nhập của người dân nông thôn còn thấp nên nhu cầu tiêu dùng các sản phẩm chất
lượng cao còn hạn chế, chưa thể thay thế bởi các cửa hàng bán hàng theo phương
thức hiện đại.
Ở Việt Nam hệ thống chợ ở đô thị mang tính chất thương mại cao.
Hệ thống chợ ở nông thôn có những đặc trưng sau :
- Người mua và người bán trao đổi trực tiếp với nhau
- Khối lượng ít, cơ cấu hàng hóa không ổn định
- Chịu ảnh hưởng của quan hệ cung cầu
Theo quy hoạch phát triển chợ ở nước ta thì : Cứ 10.000 đến 20.000 dân
có 1 chợ. Mỗi xã cần xây dựng 1 chợ. Cứ 4 đến 6 xã xây dựng một chợ thị tứ. Mỗi
huyện xây dựng một chợ kiên cố và lớn.
Từ 1996-2010 phải cải tạo, nâng cấp, xây dựng mới 5.000 chợ nông
thôn ( bình quân chi cho xây dựng mới và cải tạo 1 chợ khoảng 0,2 triệu USD )
Với hơn 70% dân số sống ở nông thôn, chợ nông thôn đóng vai trò quan trọng
trong phát triển kinh tế đất nước. Cả nước hiện có khoảng trên 9.000 chợ, trong đó
chợ ở nông thôn chiếm 76%; có khoảng 2 triệu hộ kinh doanh thường xuyên tại chợ
chiếm 40% số người hoạt động thương mại dịch vụ trong cả nước, trong đó người
buôn bán cố định tại chợ chiếm khoảng 51%; doanh số bán lẻ của chợ ước đạt
khoảng 40% tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ xã hội; số người thường
xuyên trao đổi tại chợ chiếm 80% người tiêu dùng. Tuy nhiên chỉ có 11% chợ kiên
cố (chủ yếu tập trung ở đô thị, thị trấn), 31% chợ bán kiên cố, hơn 33% chợ lều lán,
gần 255 chợ họp ngoài trời.
Thương nghiệp tư nhân : có xu hướng phát triển rất nhanh trong những năm
gần đây. Thương nghiệp tư nhân có mặt tốt là phục vụ kịp thời mọi nhu cầu tiêu
dùng của dân cư. Song phải tăng cường quản lý vĩ mô để ngăn chặn tính chất tự phát,
gây rối loạn thị trường, chống buôn lậu, làm hàng giả, buôn bán hàng quốc cấm. Nhu
cầu của nông dân để tiêu thụ hàng hóa rất lớn nhưng do khả năng tài chính, khả năng
thanh toán không đồng đều, nhất là miền núi, vùng sâu vùng xa còn khó khăn nên