Phân tích những ảnh hưởng gây ra sự đi xuống của thị trường chứng khoán Việt Nam đầu năm 2008 dựa trên phân tích nền kinh tế - Pdf 23

Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
LỜI MỞ ĐẦU
Tính cấp thiết của đề tài
Thị trường chứng khoán là một hệ thống huy động vốn nhanh, mạnh phục vụ cực
tốt cho tái đầu tư sản xuất, cũng là một trong những nền tảng quan trọng để đưa VN hội
nhập sâu, rộng với thế giới. Sự phát triển của TTCK một cách ổn định là tác nhân quan
trọng không chỉ cho sự phát triển của thị trường tài chính nói riêng mà đối với cả nền
kinh tế nói chung.
Thị trường chứng khoán ngày càng phát huy vai trò trọng yếu trong nền kinh tế,
ngày càng thu hút sự quan tâm của nhiều người. Tuy nhiên, thời gian vừa qua (cuối năm
2006 và đầu năm 2007) đã có lúc ồn ào sôi động thông tin từ thị trường chứng khoán,
nhưng từ giữa năm 2007 đến nay TTCK Việt Nam đã trải qua một đợt suy giảm rất
mạnh. Trong khi đó Việt Nam đã trở thành thành viên tổ chức Thương mại Thế giới
(WTO), điều này đặt TTCK Việt Nam trước những khó khăn và thách thức lớn đòi hỏi
một thị trường lớn mạnh để có thể đứng vững trước những biến động của thế giới.
3 tháng đầu năm 2008 này là đợt giảm sút kéo dài nhất trong 2 năm 2006 và 2007,
do vậy tháng 3 vừa rồi Chính phủ đã họp bàn với UBCKNN đề ra mục tiêu ổn định tình
hình TTCK trong thời gian trước mắt. Để có thể tìm ra phương hướng vực thị trường
dậy trong bối cảnh hiện nay, theo em, trước hết phải thấy được những nguyên nhân gây
ảnh hưởng đến TTCK Việt Nam từ đó xây dựng biện pháp chính sách “giải cứu” thị
trường. Song do kiến thức còn hạn hẹp nên phạm vi nghiên cứu của em chỉ bó hẹp trong
việc phân tích các nhân tố tác động của nền kinh tế tới TTCK. Do vậy em chọn đề tài “
Phân tích những ảnh hưởng gây ra sự đi xuống của thị trường chứng khoán Việt
Nam đầu năm 2008 dựa trên phân tích nền kinh tế ”
Em xin gửi lời cảm ơn chân thành tới cô giáo Nguyễn Phương Luyến cùng các anh
chị hướng dẫn của công ty chứng khoán VNDirect đã nhiệt tình giúp đỡ em hoàn thành
bài báo cáo này.
Tuy nhiên, do thời gian nghiên cứu còn hạn hẹp, nhận thức còn hạn chế, vì thế bài
chuyên đề không tránh khỏi những thiếu sót, khiếm khuyết. Em rất mong nhận được sự
giúp đỡ, hướng dẫn của các thầy, cô để em có thể hoàn thiện hơn nữa chuyên đề này.
Lê Mỹ Hạnh Lớp: CKB - K7

1.1.1. Khái niệm
Thị trường chứng khoán trong điều kiện của nền kinh tế hiện đại, được quan niệm
là nơi diễn ra các hoạt động giao dịch mua bán chứng khoán trung và dài hạn. Việc mua
bán này được tiến hành ở thị trường sơ cấp khi người mua mua được chứng khoán lần
đầu từ những người phát hành, và ở những thị trường thứ cấp khi có sự mua đi bán lại
các chứng khoán đã được phát hành ở thị trường sơ cấp.
Như vậy, xét về mặt hình thức, thị trường chứng khoán chỉ là nơi diễn ra các hoạt
động trao đổi, mua bán, chuyển nhượng các loại chứng khoán, qua đó thay đổi chủ thể
nắm giữ chứng khoán.
1.1.2. Chức năng cơ bản của TTCK
Thị trường chứng khoán có những chức năng cơ bản sau:
- Huy động vốn đầu tư cho nền kinh tế
- Cung cấp môi trường đầu tư cho công chúng
- Tạo tính thanh khoản cho các chứng khoán
- Đánh giá hoạt động của doanh nghiệp
- Tạo môi trường giúp Chính phủ thực hiện các chính sách vĩ mô
1.1.3. Các chủ thể tham gia TTCK
• Nhà phát hành
Nhà phát hành là các tổ chức thực hiện huy động vốn thông qua TTCK. Nhà phát hành là
người cung cấp các chứng khoán - hàng hoá của thị trường chứng khoán.
- Chính phủ và chính quyền địa phương là nhà phát hành các trái phiếu Chính
phủ và trái phiếu địa phương.
- Công ty là nhà phát hành các cổ phiếu và trái phiếu công ty.
- Các tổ chức tài chính là nhà phát hành các công cụ tài chính như các trái phiếu,
chứng chỉ thụ hưởng... phục vụ cho hoạt động của họ.
• Nhà đầu tư
Nhà đầu tư là những người thực sự mua và bán chứng khoán trên TTCK
Lê Mỹ Hạnh Lớp: CKB - K7
3
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp

- Thị trường cổ phiếu: thị trường cổ phiếu là thị trường giao dịch và mua bán các
loại cổ phiếu, bao gồm cổ phiếu thường, cổ phiếu ưu đãi.
- Thị trường trái phiếu: thị trường trái phiếu là thị trường giao dịch và mua bán
các trái phiếu đã được phát hành, các trái phiếu này bao gồm các trái phiếu công ty, trái
phiếu đô thị và trái phiếu chính phủ.
Lê Mỹ Hạnh Lớp: CKB - K7
4
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
- Thị trường các công cụ chứng khoán phái sinh: Thị trường các chứng khoán
phái sinh là thị trường phát hành và mua đi bán lại các chứng từ tài chính khác như:
quyền mua cổ phiếu, chứng quyền, hợp đồng quyền chọn...
1.2. Phân tích thị trường
Việc phân tích kinh tế hay phân tích thị trường cho phép dự đoán xu hướng biến
động của các dòng tiền, lãi suất, và tính toán mức bù rủi ro trong tương lai. Thực tế cho
thấy diễn biến tình hình kinh tế ( tình hình thị trường) là nhân tố có tác động lớn nhất tới
thu nhập các chứng khoán riêng lẻ cũng như của các danh mục đầu tư. Việc phân tích
nền kinh tế bao gồm phân tích tình hình kinh tế thế giới và trong nước.
1.2.1. Phân tích tình hình kinh tế trên thế giới
Trước xu thế toàn cầu hoá và hội nhập kinh tế, diễn biến hoạt động kinh tế chính
trị, xã hội trên thế giới có tác động mạnh mẽ tới hoạt động kinh tế trong nước, qua đó
ảnh hưởng tới TTCK. Để đánh giá sự tác động của các yếu tố của nền kinh tế thế giới tới
TTCK nhà phân tích thường căn cứ vào một số chỉ tiêu sau :
- Môi trường kinh tế: Đầu tư vào nền kinh tế mở rộng có khả năng thu lợi nhuận cao
hơn so với đầu tư vào nền kinh tế đang thi hẹp.
- Điều kiện chính trị, pháp lý: Những biến động về chính trị, sự thay đổi về thể chế
chính sách cũng có tác động tới khả năng sinh lời khi đầu tư vào các quốc gia.
- Tỷ giá hối đoái: Sự thay đổi về tỷ giá có thể tác động tới thu nhập tính theo đồng
nội tệ của các khoản đầu tư quốc tế.
- Tỷ lệ lạm phát: được phản ánh bởi sự tăng lên của mức giá chung (bình quân).
Những biến động của tỷ lệ lạm phát sẽ ảnh hưởng tới thu nhập thực tế của nhà đầu tư.

Chính sách tiền tệ: NHTƯ thông qua các công cụ của mình như nghiệp vụ thị
trường mở, lãi suất chiết khấu, dự trữ bắt buộc để thực hiện việc kiểm soát và điều tiết
khối lượng tiền cung ứng nhằm đạt được các mục tiêu về giá cả, sản lượng và công ăn
việc làm. Nó tác động trực tiếp tới nền kinh tế một cách nhanh chóng, dễ dàng.
+ Các chính sách tác động tới cung, các chính sách này giải quyết vấn đề nhằm
nâng cao năng lực sản xuất của nền kinh tế:
Nghiên cứu ứng dụng, đổi mới công nghệ, máy móc thiết bị kỹ thuật nhằm tăng
năng lực sản xuất.
Chính sách đối với người lao động, đào tạo đội ngũ người lao động.
Chính sách thuế: áp dụng các biểu thuế suất khác nhau nhằm khuyến khích đầu
tư, khuyến khích người lao động.
Phát triển cơ sở hạ tầng. ......
Nói tóm lại việc phân tích tình hình thị trường chứng khoán dựa trên phân tích
nền kinh tế cần sự tổng hợp mối tương quan giữa các yếu tố tác động của nền kinh tế
trong, ngoài nước và cả các yếu tố nội tại của chính TTCK.
CHƯƠNG II
Lê Mỹ Hạnh Lớp: CKB - K7
6
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Phân tích các nhân tố vĩ mô ảnh hưởng tới
thị trường chứng khoán Việt Nam hiện nay
2.1. Thực trạng TTCK Việt Nam
2.1.1. Tổng hợp thị trường niêm yết
Bảng 1 : Tổng quan thị trường chứng khoán
2006 2007
HaSTC HOSE Tổng số HaSTC HOSE Tổng số
Số lượng CP
87 106 193 96 125 221
Tổng giá trị thị trường (tỷ USD)
4.6 9.2 13.7 7.4 21.3 28.7

SSI 79.9 0.0 28.1 1.3 1.3 19.6
PPC 326.2 67.8 13.0 1.2 3.0 20.6
PVD 110.1 36.5 22.1 1.1 4.5 34.6
HPG 132 0.0 10.8 1.0 N/A N/A
VIC 80 0.0 3.8 0.8 8.1 19.2
ITA 79.9 0.0 34.1 0.7 4.9 27.5
Một điều cần ghi nhận là tổng giá trị TTCK bị chi phối bởi một số công ty blue-
chip.Chỉ mười công ty lớn nhất nắm giữu chiếm gần ¼ tổng giá trị thị trường của HOSE.
Ngân hàng Thương mại cổ phần Á Châu (ACB) là công ty có số vốn thị trường lớn nhất
trong các công ty niêm yết hiện nay ở VN. Với số vốn gần 2,6 tỷ đôla, ACB nắm giữ
22% tổng số cổ phiếu đang lưu hành và 36% tổng giá trị thị trường của HaSTC. Biến
động về khối lượng giao dịch và giá cổ phiếu của các công ty blue-chip này thường gây
ảnh hưởng đáng kể đến chỉ số thị trường nói chung.
Sau một giai đoạn phát triển sôi động, từ tháng 3 năm 2007 thị trường bình lặng
hơn, mặc dù vẫn có những lúc lên xuống thất thường.
Lê Mỹ Hạnh Lớp: CKB - K7
8
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Hình 1: Chỉ số VNIndex từ đầu năm 2007 đến nay
Đến quý IV năm 2007, TTCK Việt Nam bắt đầu quá trình đi xuống. Thời điểm này
được cho là giai đoạn cuối cùng để các NHTM đáp ứng yêu cầu của Chỉ Thị 03 nên xuất
hiện tâm lý lo ngại việc cung hàng nhằm giảm tỷ lệ dư nợ xuống. Hơn nữa, 6 tháng trước
đó là thời điểm thị trường “nóng”, các hợp đồng cầm cố chứng khoán cũng “nóng” theo
và QIV/2007 là thời hạn phải thanh toán . Cùng với sự nóng lên của thị trường bất động
sản và thị trường vàng, VNINDEX đã giảm từ 1.106,6 ngày 3/10/2007 xuống chỉ còn
927,02 vào ngày giao dịch cuối cùng của năm 2007.
Nếu như giai đoạn Quý IV/2007, VNINDEX dao động ở mức 900 - 1100 điểm thì
bước sang QI/2008 VNINDEX lần lượt hình thành những mức đáy mới sâu hơn, khoảng
thời gian hình thành mức đáy mới ngày càng nhanh. Chỉ trong một quý, các mức đáy
808,8 điểm (15/1); 764,5 điểm (24/1); 643,8 điểm (5/3); 496,6 điểm (25/ 3) đã được xác

KL (CK) Giá trị (ngđ) KL (CK) KL (CK)
CP
538.753.325 38.130.711.895 655.422.325
- 18 %
472.807.325
14 %
CCQ
36.551.970 531.141.412 37.056.970 -1 % 83.999.970 -56 %
TP
164.612.224 16.964.823.149 81.791.224 101 % 115.081.224 43 %
Bảng 4: Cung - Cầu chứng khoán
KLGD (CK) Quý I/2008 Quý IV/2007 +/- % Quý I/2007 +/- %
KL đặt mua 1.070.385.260 1.213.446.840 -12% 910.772.010 18%
Số lệnh đặt mua 750.285 1.006.801 -25% 567.430 32%
KL đặt mua/1lệnh 1.427 1.205 18% 1.605 -11%
KL đặt bán 1.062.961.130 1.154.659.370 -8% 799.402.480 33%
Số lệnh đặt bán 628.351 848.277 -26% 403.238 56%
KL đặt bán/1 lệnh 1.692 1.361 24% 1.982 -15%
Bảng 5: Giao dịch chứng khoán của NĐTNN
KLGD (CK) Quý I/2008 Quý IV/2007 +/-% Quý I/2007 +/-%
Mua 158.816.906 156.556.906 17% 165.016.906 -3.8%
Bán 96.959.658 88.259.658 10% 118.359.658 -18%
2.1.2. Tổng hợp thị trường OTC
Lê Mỹ Hạnh Lớp: CKB - K7
11
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
TTCK niêm yết xuống mạnh khiến cho các CP trên OTC lao dốc không biên độ,
60% các mã CP OTC đóng băng hoàn toàn. Các mã CP còn lại giao dịch với khối lượng
và giá trị nhỏ. Một cuộc tháo chạy CP OTC đã xảy ra, tuy nhiên không thành công vì
lượng bán lớn hơn nhiều lần lượng mua. Thêm vào đó là những cuộc IPO của các công

12
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
2.2.1. Kinh tế thế giới và sự ảnh hưởng đến TTCK Việt Nam
2.2.1.1. Kinh tế thế giới
Nền kinh tế thế giới hiện đang gặp phải những thách thức rất lớn từ sự chậm lại của
tốc độ tăng trưởng kinh tế, lạm hát cao, tỷ lệ thất nghiệp ngày càng tăng, sự mất cân đối
tài khoản vãng lai ngày càng lớn và đặc biệt là nguy cơ khủng hoảng tài chính toàn cầu.
• Tốc độ tăng trưởng kinh tế toàn cầu chậm lại
Theo báo cáo của Liên hợp quốc, tốc độ tăng trưởng kinh tế thế giới giảm nhẹ từ
mức 3,9% năm 2006 xuống 3,7% năm 2007. Liên hợp quốc dự báo nền kinh tế toàn cầu
sẽ tiếp tục phát triển chậm lại trong năm 2008 với tốc độ tăng trưởng dự báo là 3,4%,
nhưng những rủi ro đe dọa nền kinh tế thế giới ngày càng lớn hơn so với năm 2007.
Bảng 6: Tốc độ tăng trưởng GDP các nước
Nước Năm 2006 2007 Dự báo 2008
Các nước phát triển 2,8 % 2,5 % 2,2 %
Các nước Châu Âu 3,0 % 2,9 % 2,5 %
Các nền kinh tế chuyển đổi 6,3 % 6,0% 5,4 %
Các nước đang phát triển 7,0 % 7,0 % 6,5 %
Hiện tại, hầu hết các nước đang phát triển trong đó có Việt Nam đã cảm nhận được
sự ảnh hưởng của nguy cơ khủng hoảng tài chính toàn cầu, biểu hiện qua sự bất ổn lớn
của thị trường chứng khoán trong nước và biên độ chi phí lãi vay của các khoản nợ nước
ngoài ngày càng rộng. Tuy nhiên các tác động này sẽ không tồn tại lâu bởi điều kiện
kinh tế vĩ mô của các nền kinh tế này đã được cải thiện, lượng dự trữ ngoại tệ lớn, cùng
với sự tăng trưởng mạnh mẽ trong các năm qua, điển hình là 2 nền kinh tế mới nổi đông
dân nhất là Trung Quốc và Ấn Độ.
Nếu các rủi ro của hệ thống tài chính toàn cầu tiếp diễn, thị trường nhà đất và thế
chấp ở Mỹ tiếp tục khủng hoảng mạnh hơn cùng với sự giảm giá mạnh và nhanh của
đồng đôla thì tốc độ phát triển của kinh tế toàn cầu sẽ giảm mạnh. Trường hợp bi quan
xuất phát từ những rủi ro trên đó là sự suy thoái hoàn toàn của nền kinh tế Mỹ và sự
giảm tốc của nền kinh tế toàn cầu ở mức 1,6% năm 2008.

độ tăng trưởng kinh tế toàn cầu. Sự giảm giá mạnh của đồng đôla ngay lập tức làm giảm
mạnh cầu của Mỹ với hàng hóa của các quốc gia còn lại. Thêm nữa, các quốc gia đang
phát triển đang nắm giữ một lượng dự trữ ngoại tệ lớn là đồng đôla nên một sự giảm giá
mạnh của đồng đôla sẽ gây thâm hụt tài khoản vãng lai ngày một lớn.
Lê Mỹ Hạnh Lớp: CKB - K7
14
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
 Nguy cơ khủng hoảng tài chính toàn cầu
Sự sụt giảm thị trường nhà đất tại Mỹ đã tác động xấu lên thị trường tài chính từ
giữa năm 2007. Sự mất khả năng thanh toán các khoản vay thế chấp dưới chuẩn đã chính
thức gây nên cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu. Mặc dù thế chấp bất động sản dưới
chuẩn chỉ chiếm một phần trong thị trường thế chấp và thậm chí rất nhỏ trong thị trường
tín dụng toàn cầu, nhưng sự phức tạp đan xen của hệ thống tài chính, với đòn bẩy quá
lớn, thiếu sự minh bạch và giám sát hợp lý, đã làm lan toả và nhân rộng rủi ro ra các thị
trường khác ngoài thị trường thế chấp dưới chuẩn. Sự thắt chặt các điều khoản trong thị
trường thế chấp, đặc biệt các thị trường không đạt chuẩn, càng làm cho thị trường nhà
đất Mỹ lao dốc mạnh.
Sự mất khả năng thanh toán của các hợp đồng thế chấp sẽ tiếp tục tăng lên, làm
tăng áp lực lên thị trường tài chính toàn cầu. Sự thắt chặt tín dụng và sự giảm giá mạnh
hơn của thị trường nhà đất sẽ làm giảm mạnh nhu cầu tiêu dùng, có thể gây nên sự suy
thoái toàn diện nền kinh tế Mỹ và nền kinh tế thế giới như một hệ lụy. Sự xuống dốc của
thị trường nhà ở tại Mỹ ngày càng mạnh mẽ và vẫn tiếp tục trong năm 2008.
Tác động của cuộc khủng hoảng tài chính xuất phát từ thị trường cho vay thế chấp
dưới chuẩn của Mỹ đã lan tỏa và ảnh hưởng mạnh tới các nền kinh tế lớn của Châu Âu,
trong khi tác động tới Nhật Bản và các nước phát triển khác với mức độ nhẹ hơn. Triển
vọng tăng trưởng của các nền kinh tế này trong năm 2008 cũng bị giảm đi, và điều đó
khẳng định một điều là sự phát triển của các nền kinh tế lớn này vẫn chưa đủ mạnh để
thay thế Mỹ như là một động lực chính cho sự phát triển của nền kinh tế toàn cầu.
2.2.1.2. Thị trường chứng khoán thế giới
Từ khi cuộc khủng hoảng tín dụng cho vay cầm cố bất động sản dưới chuẩn

với hầu hết các đồng tiền mạnh khác dẫn tới sự thua thiệt khi Việt Nam phải thanh toán
bằng các đồng tiền này. Thậm chí khi thanh toán bằng đồng đôla Mỹ thì sức mua của
khoản dự trữ này đã bị giảm đáng kể, nếu tính từ năm 2002 thì đôla Mỹ giảm giá 35%,
tương ứng sức mua giảm 35% khi Việt Nam thanh toán bằng đồng đôla. Việc Ngân hàng
Nhà nước neo tỷ giá USD/VND đã làm cho đồng Việt Nam không tăng giá hợp lý so với
đôla Mỹ trong một thời gian dài (3 tháng gần đây mới có sự điều chỉnh biên độ rộng
hơn), dẫn tới chi phí nhập khẩu của Việt Nam tăng cao hơn so với việc nới rộng biên độ
tỷ giá. Thâm hụt cán cân thương mại của Việt Nam ngày càng lớn, năm 2006 là 8,5%
GDP, năm 2007 tăng gần gấp đôi ở mức 11 tỷ tương ứng 16,5% GDP. Theo chúng tôi,
năm 2008 Việt Nam có thể phải chứng kiến mức thâm hụt cán cân thương mại gần 20%
GDP (quý 1/2008 nhập siêu đã là 7 tỷ đô).
Lê Mỹ Hạnh Lớp: CKB - K7
16
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Sự tăng giá của các loại hàng hóa như lương thực, thực phẩm, năng lượng, các
nguyên liệu đầu vào, đặc biệt sự tăng giá mạnh của dầu mỏ và sắt thép, đã ảnh hưởng
trực tiếp tới các ngành sản xuất công nghiệp của nền kinh tế Việt Nam. Năm 2007, tổng
kim ngạch nhập khẩu tăng gần 40%, trong đó máy móc thiết bị tăng 56,5% do nhu cầu
đầu tư của các dự án lớn trong nước. Mức tăng nhập khẩu cũng rất cao đối với nguyên
vật liệu (40%) dùng trong sản xuất hàng may mặc và giày dép xuất khẩu, hoá chất, chất
dẻo và sản xuất thức ăn gia súc. Đây cũng là một trong những nguyên nhân gây nên tình
trạng lạm phát căng thẳng từ giữa năm 2007 tới nay. Hiện lạm phát quý 1/2008 của Việt
Nam đã là 9,19% (cả năm 2007 là 12,6%).
• Tác động gián tiếp tới Thị trường chứng khoán Việt Nam
Sự suy giảm của nền kinh tế thế giới tác động trực tiếp tới nền kinh tế trong nước,
qua đó ảnh hưởng tới thị trường chứng khoán.
Tốc độ tăng trưởng kinh tế của Việt Nam bị chậm lại, lạm phát tăng cao buộc
Chính phủ phải thắt chặt tiền tệ thông qua tăng dự trữ bắt buộc, tăng lãi suất cơ bản, phát
hành tín phiếu bắt buộc hút tiền về và một loạt các biện pháp quyết liệt khác đã làm cho
thị trường chứng khoán Việt Nam giảm mạnh.

phẩm trong nước quí I/2008 ước tính tăng 7,4% thấp hơn mức tăng trưởng 7,8% của quí
I/2007, lâm nghiệp và thuỷ sản tăng 2,9%, khu vực công nghiệp và xây dựng chỉ tăng
8,1% giảm so với mức tăng của cùng kỳ 2007. Việt Nam khó có thể duy trì được tốc độ
tăng trưởng cao (trên 8%) như 3 năm 2005, 2006 và 2007. Theo dự báo của EIU thì
trong giai đoạn 2011 - 2020 tốc độ tăng trưởng của Việt Nam chỉ có thể duy trì ở mức
5,1% mỗi năm thay vì mức trên 8% như hiện nay.
Báo cáo của Worldbank cũng dự đoán năm 2008 tốc độ tăng trưởng của Việt Nam
sẽ giảm 0,5% so với năm 2007.
Lê Mỹ Hạnh Lớp: CKB - K7
18

Trích đoạn Giao dịch của nhà đầu tư nước ngoài Một số khuyến nghị đối với nhà đầu tư
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status