Ảnh hưởng các nhân tố vĩ mô lên Thị trường chứng khoán Việt Nam - Pdf 29

Mục lục
Giới thiệu đề tài
Chương 1: Tổng quan về thị trường chứng khoán (TTCK)
1. Các khái niệm . ........................................................................................ 4
1.1 Chứng khoán ................................................................................. 4
1.2 Thị trường chứng khoán .... ........................................................... 4
2. Chức năng và nguyên tắc hoạt động của thị trường chứng khoán.
2.1 Chức năng của TTCK .................................................................. 4
2.2 Nguyên tắc hoạt động .... ............................................................... 6
2.3 Các thành phần tham gia TTCK ..................................................... 7
Chương 2: Các nhân tố vĩ mô và thị trường chứng khoán Việt Nam
1. Hệ thống chính sách ................................................................................ 9
2. Pháp luật ..................................................................................................12
3. Lạm phát ..................................................................................................14
4. Lãi suất .................................................................................................... 21
5. Tỷ giá hối đoái ........................................................................................ 29
Chương 3: Nhìn lại thị trường chứng khoán Việt Nam năm 2008 dưới tác động
của các nhân tố vĩ mô............................................................................................ 36
Chương 4: Kiểm định sự phù hợp của mô hình tuyến tính giữa Vnindex và các
nhân tố vĩ mô......................................................................................................... 38
Kết luận
Tài liệu tham khảo
2
GIỚI THIỆU ĐỀ TÀI
Lý do chọn đề tài:
Thị trường chứng khoán (TTCK) của Việt Nam nhìn chung vẫn còn non trẻ
với 10 năm hoạt động. Tuy vậy, nó đã có những bước phát triển nhanh
chóng, góp phần vào sự phát triển nền kinh tế của đất nước, là kênh huy
động vốn hiệu quả cho các doanh nghiệp giúp đánh giá giá trị doanh nghiệp
và tình hình kinh tế, cung cấp môi trường đầu tư cho công chúng, trở thành
tâm điểm thu hút sự chú ý của rất nhiều nhà đầu tư. Tuy nhiên, trong những

Hướng phát triển của đề tài:
Tuy nhóm có chạy mô hình các nhân tố tác động lên thì trường chứng khoán
nhưng mô hình này còn tồn tại nhiều thiếu sót. Những thiếu sót này cũng
được làm rõ trong bài nghiên cứu và nếu được khắc phục trong những bài
nghiên cứu sau thì việc dự đoán sự thay đổi của thị trường chứng khoán sẽ
trở nên chính xác hơn.
4
Chương 1: Tổng quan về thị trường chứng khoán
1. Các khái niệm
1.1 Chứng khoán:
Chứng khoán là các loại giấy tờ có giá hay bút toán ghi sổ, nó cho phép chủ
sở hữu có quyền yêu cầu về thu nhập và tài sản của tổ chức phát hành hoặc
quyền sở hữu.
1.2. Thị trường chứng khoán:
Thị trường chứng khoán trong điều kiện của nền kinh tế hiện đại, được quan
niệm là nơi diễn ra các hoạt động giao dịch mua bán chứng khoán trung và
dài hạn. Việc mua bán này được tiến hành ở thị trường sơ cấp khi người mua
mua được chứng khoán lần đầu từ những người phát hành, và ở những thị
trường thứ cấp khi có sự mua đi bán lại các chứng khoán đã được phát hành
ở thị trường sơ cấp. Như vậy, xét về mặt hình thức, thị trường chứng khoán
chỉ là nơi diễn ra các hoạt động trao đổi, mua bán, chuyển nhượng các loại
chứng khoán, qua đó thay đổi chủ thể nắm giữ chứng khoán.
2. Chức năng và nguyên tắc hoạt động của TTCK
2.1. Chức năng của TTCK
2.1.1. Huy động vốn đầu tư cho nền kinh tế:
Khi các nhà đầu tư mua chứng khoán do các công ty phát hành, số tiền nhàn
rỗi của họ được đưa vào hoạt động sản xuất kinh doanh và qua đó góp phần
mở rộng sản xuất xã hội. Thông qua TTCK, Chính phủ và chính quyền ở các
địa phương cũng huy động được các nguồn vốn cho mục đích sử dụng và
đầu tư phát triển hạ tầng kinh tế, phục vụ các nhu cầu chung của xã hội.

sách, biện pháp tác động vào TTCK nhằm định hướng đầu tư đảm bảo cho
sự phát triển cân đối của nền kinh tế.
2.2. Các nguyên tắc hoạt động của TTCK:
2.2.1. Nguyên tắc cạnh tranh:
Theo nguyên tắc này, giá cả trên TTCK phản ánh quan hệ cung cầu về chứng
khoán và thể hiện tương quan cạnh tranh giữa các công ty. Trên thị trường sơ
cấp, các nhà phát hành cạnh tranh với nhau để bán chứng khoán của mình
cho các nhà đầu tư, các nhà đầu tư được tự do lựa chọn các chứng khoán
theo các mục tiêu của mình. Trên thị trường thứ cấp, các nhà đầu tư cũng
cạnh tranh tự do để tìm kiếm cho mình một lợi nhuận cao nhất, và giá cả
được hình thành theo phương thức đấu giá.
2.2.2. Nguyên tắc công bằng:
Công bằng có nghĩa là mọi người tham gia thị trường đều phải tuân thủ
những qui định chung, được bình đẳng trong việc chia sẻ thông tin và trong
việc gánh chịu các hình thức xử phạt nếu vi phạm vào những qui định đó.
2.2.3. Nguyên tắc công khai:
Chứng khoán là loại hàng hoá trừu tượng nên TTCK phải được xây dựng
trên cơ sở hệ thống công bố thông tin tốt. Theo luật định, các tổ chức phát
hành có nghĩa vụ phải cung cấp thông tin đầy đủ theo chế độ thường xuyên
và đột xuất thông qua các phương tiện thông tin đại chúng, Sở giao dịch, các
công ty chứng khoán và các tổ chức có liên quan.
2.2.4. Nguyên tắc trung gian:
Nguyên tắc này có nghĩa là các giao dịch chứng khoán được thực hiện thông
qua tổ chức trung gian là các công ty chứng khoán. Trên thị trường sơ cấp,
7
các nhà đầu tư không mua trực tiếp của nhà phát hành mà mua từ các nhà
bảo lãnh phát hành. Trên thị trường thứ cấp, thông qua các nghiệp vụ môi
giới, kinh doanh, các công ty chứng khoán mua, bán chứng khoán giúp các
khách hàng, hoặc kết nối các khách hàng với nhau qua việc thực hiện các
giao dịch mua bán chứng khoán trên tài khoản của mình.

hành cụ thể.
9
Chương 2: Sự ảnh hưởng của một vài nhân tố vĩ mô lên thị trường
chứng khoán Việt Nam
Trong nền kinh tế thị trường, có rất nhiều các nhân tố có ảnh hưởng đến thị
trường chứng khoán. Chúng có thể tác động riêng rẽ, có thể kết hợp với nhau
làm cho thị trường chúng khoán có những biến động hết sức phức tạp. Tuy
nhiên trong phạm vi bài nghiên cứu này, chúng tôi chỉ chọn ra một số những
nhân tố chính tác động mạnh mẽ nhất lên thị trường chứng khoán để phân
tích.
1. Hệ thống chính sách:
Đối với một quốc gia, trong nền kinh tế thị trường thì vai trò điều tiết của
Chính Phủ là rất to lớn. Với vai trò hành pháp, Chính Phủ ban hành các
chính sách để đảm bảo sự quản lý của mình sao cho phù hợp và góp phần
phát triển kinh tế theo các mục tiêu. Để thực hiện việc này, Chính phủ có các
công cụ quản lý vĩ mô của mình, đó là Chính sách tiền tệ, Chính sách tài
khóa, Chính sách kinh tế đối ngoại, chính sách thu nhập mà trong đó Chính
sách tiền tệ và tài khóa giữ vai trò quyết định.
Thị trường chứng khoán, kênh huy động vốn quan trọng của Chính phủ, chịu
ảnh hưởng rất mạnh mẽ của hệ thống chính sách, nó ảnh hưởng trực tiếp đến
hoạt động của các Doanh nghiệp cũng như các các tổ chức tín dụng. Mỗi sự
thay đổi của chính sách kéo theo đó là sự mất cân bằng trong nguồn vốn hay
nói cách khác, nó tác động lên nguồn vốn, ảnh hưởng sự hoạt động của thị
trường chứng khoán. Ở nước ta, mặc dù là nền kinh tế thị trường nhưng chịu
sự giám sát và quản lý rất chặt chẻ của Chính phủ mà TTCK cũng không
ngoại lệ, chịu sự ảnh hưởng mạnh mẽ của hệ thống chính sách từ Chính Phủ.
Một chính sách tác động trên nhiều khía cạnh nền kinh tế không chỉ riêng đối
với TTCK, tuy nhiên điều mà nó mang lại cho TTCK là không nhỏ chút nào.
10
Chúng ta biết rằng vai trò của TTCK đó là huy động vốn đầu tư cho nền kinh

tế, duy trì tốc độ tăng trưởng hợp lí, tuy nhiên thì dù trong trường hợp nào đi
chăng nữa thì chinh sách vẫn ảnh hưởng lên thị trường chứng khoán. Có thể
Chính sách mục đích là ngăn chặn sự suy giảm trì trệ của nền kinh tế, là để
kìm hãm lạm phát, nguy chặn khủng hoảng nhưng lại không mang những
dấu hiệu tích cực cho thị trường chứng khoán (như ví dụ trên).
Để giải thích cho điều trên, chúng ta có thể quay về khoảng đầu năm 2007,
sau khi kết thúc năm 2006, một năm được các nhà phân tích xem là năm
thăng hoa của TTCK nước ta. Chúng ta hãy xem xét chỉ thị số 03, được
Ngân hàng Nhà nước (NHNN) ban hành ngày 28/5/2007 và có hiệu lực thi
hành từ đầu tháng 7/2007, Chỉ thị 03 với nội dung chính là quy định giới hạn
các tổ chức tín dụng cho khách hàng vay vốn cầm cố bằng cổ phiếu để đầu
tư CK dưới 3%. Đặc biệt, khi NNHN có văn bản hướng dẫn và nói rõ tỷ lệ
đó phải được giảm xuống với thời hạn cuối cùng là 31/12/2007. Điều này
cũng đã có những tác động đáng kể đến TTCK. Với TTCK Việt Nam mới ở
giai đoạn đầu phát triển, các nhà đầu tư cá nhân chiếm tỷ trọng lớn. Vốn đầu
tư trên TTCK có sự lưu thông chặt chẽ với hệ thống ngân hàng. Đó là vốn
vay từ cầm cố cổ phiếu, từ các tài sản đảm bảo khác: nhà đất, sổ tiết kiệm, xe
ôtô, tín chấp bằng lương, tín chấp khác... Đó là nguồn tiền gửi tiết kiệm
tại NHTM rút ra để đầu tư Chứng khoán... nên quyết định hành chính của
Chỉ thị 03 đột ngột và mang nặng tính hành chính đã tác động không nhỏ đến
diễn biến TTCK. (theo báo Vietnamnet) và sau đó, chỉ thị này đã được sửa
đổi sao cho phù hợp với điều kiện cũng như tình hình thực tế của TTCK
(quyết định 03/2008 QĐ-NHNN) vào đầu tháng 2/2008.
12
TTCK có những đợt giảm điểm mạnh từ tháng 5 cho đến tháng 9/07, tức là
thời điểm chỉ thị 03/2007 được công bố (chưa có hiệu lực) cho thấy ảnh
hưởng của Chính sách mạnh mẽ như thế nào. Nhưng tại sao TTCK lại tăng
mạnh và đạt đến đỉnh vào tháng 10/2007 và sau khi chính sách được sửa đổi,
Vn-Index lại diễn biến là một chuỗi giảm giá liên tục. Vậy có liệu chăng ảnh
hưởng của chính sách lúc này là không đáng kể?

hiệu khả quan cho TTCK.
Có thể thấy rằng, TTCK nước ta chịu ảnh hưởng của khá nhiều Luật, từ Luật
Thương mại cho đến Luật đầu tư, Luật Doanh nghiệp.... mỗi bộ Luật đều ảnh
hưởng theo cách riêng của nó và chung quy lại đều tác động đến giao dịch
của các nhà đầu tư. Là một lĩnh vực còn khá mới mẻ ở nước ta so với thế
giới cũng như con yếu kém trong khâu quản lý và điều hành hoạt động, tính
ổn định của hệ thống pháp luật là điều rất quan trọng trong quá trình phát
triển của TTCK
Với sự xuất hiện của Luật chứng khoán, khung pháp lý cho hoạt động đầu tư
trên thị trường tài chính nước ta đã được cải thiện, tuy nhiên vẫn còn nhiều
điều bất cập đó là sự điều hành theo cơ chế mệnh lệnh hành chính, điều này
không đúng với tiêu chuẩn cũng như yêu cầu khi tham gia nền kinh tế thị
trường. Tuy nhiên điều này đã chứng tỏ cam kết mạnh mẽ của chính phủ
trong việc tạo môi trường kinh doanh thuận lợi và thông thoáng cho các nhà
đầu tư nước ngoài
14
Năm 2007, Luật thuế TNCN được thông qua và bắt đầu có hiệu lực từ ngày
1/1/2009 nhưng ảnh hưởng của nó đối với thị trường chứng khoán đã đậm
nét trong năm 2008, đặc biệt vào những tháng cuối năm. Đây là lần đầu tiên
thu nhập từ hoạt động đầu tư chứng khoán được đưa vào diện chịu thuế. Về
chính sách, đây là một trong những bộ luật thu hút sự chú ý của dư luận
nhiều nhất từ trước tới nay (trước đó là Luật thuế Giá trị gia tăng). Hàng
nghìn ý kiến bình luận, góp ý, đồng thuận, phản đối liên tục được phản ánh
trong nửa cuối năm 2008. Trong đó, nổi bật là sự lo ngại và phản ứng từ
nhiều nhà đầu tư chứng khoán, khi họ đặt chính sách này trong bối cảnh khó
khăn của nền kinh tế nói chung và của thị trường chứng khoán nói riêng.
Đối với các quốc gia phương Tây và một số nước phát triển khác, việc đánh
thuế Thu nhập được tiến hành rấtt thuận tiện. Ở nước ta thì khác, việc ban
hành sắc Thuế này gặp trở ngại rất lớn vì đây vừa là một sắc Thuế mới vừa
ảnh hưởng trực tiếp đến quyền lợi của nhân dân nói chung và nhà đầu tư

khoảng đầu năm 2008 là 23% đã tác động rất lớn đến thị trường chứng
khoán, giá cổ phiếu tuột dốc trong một thời gian dài làm cho các doanh
nghiệp và các nhà đầu tư rơi vào tình trạng khó khăn.
2.3 Siêu lạm phát:
Lạm phát trên ba con số, tức tỉ lệ lạm phát lên đến hàng ngàn %, người ta ví
nó như một căn bệnh ung thư chết người, có tác động rất lớn đến nền kinh tế
cũng như là TTCK, bị chìm trong sự khủng hoảng vì khi đó tiền tệ không
16
thực hiện chức năng trao đổi vì không ai muốn bán hàng để nhận lấy những
đồng tiền vô giá trị.
3.3. Nguyên nhân gây ra lạm phát:
Ở Việt Nam, TTCK chưa hẳn là thước đo sức khỏe của nền kinh tế bởi vì
trên TTCK có nhiều ngành mà các doanh nghiệp niêm yết chưa phải là
doanh nghiệp đầu ngành để có thể đại diện cho ngành đó như ngân hàng,
viễn thông… Nhiều ngành mũi nhọn trong nền kinh tế vẫn còn do Nhà nước
nắm giữ, số lượng người tham gia TTCK vẫn còn ít. Tuy nhiên với bối cảnh
toàn cầu hóa hiện nay, TTCK Việt Nam vẫn có sự tương quan khá rõ nét với
sự phát triển kinh tế, xã hội. Những yếu tố ảnh hưởng đến sức khỏe của nền
kinh tế cũng ảnh hưởng đến TTCK. Do đó, những nguyên nhân gây ra lạm
phát cũng tương quan với những nguyên nhân gây suy giảm TTCK.
Hiện nay Việt Nam đang phải chịu đồng thời bốn dạng lạm phát do những
nguyên nhân sau:
Lạm phát do tiền tệ: là một lượng cung tiền lớn đã được đưa vào lưu thông.
Chẳng hạn do NHTW tung nội tệ ra để mua ngoại tệ vào để giữ cho đồng
tiền ngoại tệ khỏi mất giá so với trong nước, hay do chỉnh phủ thục hiện
chính sách nới lỏng tiền tệ, lúc này tiền được bơm ra để giúp vốn cho các
Doanh nghiệp, hoặc chinh phủ in tiền để bù đắp khoản thâm hụt ngân sách
của mình....
Lạm phát do cầu kéo (demand - pull inflation ): xảy ra khi mức tổng cầu tăng
trong khi tổng cung không đổi hay nhanh hơn so với mức cung. Lúc đó một

18
sẽ làm một lượng tiền trên TTCK giảm đi, số lượng giao dịch chứng khoán ít
hơn. Chưa kể đối với một số mặt hàng như xăng dầu, giá cả tăng cao sẽ ảnh
hưởng lớn đến người tiêu dùng, chính phủ buộc phải chi tiêu thêm tiền để hỗ
trợ giá cho các doanh nghiệp nhằm ổn định giá bởi xăng dầu ảnh hưởng hầu
hết đến quá trình sản xuất của các DN và người tiêu dùng, điều này làm cho
lượng tiền lưu thông hoạt động trên thị trường tăng lên khiến lạm phát có lý
do tiếp tục tăng. Tình trạng này càng làm nhà đầu tư thêm hoang mang, họ e
dè hơn trong việc đầu tư vào TTCK vì sợ rủi ro cao.
Việc lạm phát do chi phí đầu vào, nguyên vật liệu tăng lên là yếu tố khách
quan, làm cho chi phí sản xuất cũng như vốn đầu tư của nhiều dự án tăng.
Lúc này CPI tăng sẽ trực tiếp làm tăng khó khăn cho các doanh nghiệp gắn
với việc phải tăng lãi vay tín dụng, tăng lương, tăng chi phí đầu vào khác, từ
đó làm tăng chi phí sản xuất và giá bán đầu ra. Điều này làm giảm lợi nhuận
kinh doanh và lợi tức cổ phiếu, gây khó khăn cho các doanh nghiệp và có
nguy cơ đổ vỡ các kế hoạch, hợp đồng kinh doanh nhiều hơn… Bên cạnh đó,
các báo cáo tài chính của doanh nghiệp kém sáng sủa nên làm cho chứng
khoán của các doanh nghiệp kém hấp dẫn đi, đồng nghĩa với việc giảm sút
nhiệt tình đầu tư và sự sôi động của TTCK. Ngoài ra, chi phí đầu vào tăng
làm vốn đầu tư của nhiều dự án tăng, mà chất lượng của dự án không cao do
đầu tư kém hiệu quả dẫn đến tỷ suất sinh lợi của dự án thấp. Tất yếu làm
giảm lợi nhuận của doanh nghiệp, có khi dẫn đến nguy cơ phá sản. Điều này
làm niềm tin của nhà đầu tư vào các doanh nghiệp thực hiện dự án và cả các
cơ quan quản lý giảm xuống đáng kể. Khi đó các nhà đầu tư sẽ có xu hướng
tháo chạy ra khỏi thị trường để bảo vệ vốn của mình, góp phần đẩy giá
chứng khoán của doanh nghiệp xuống thấp, làm cho thị trường chứng khoán
mất điểm mạnh.
19
Trong thời đại toàn cầu hóa, yếu tố ngoại nhập đóng vai trò rất lớn, ảnh
hưởng đến nền kinh tế. Việc giá cả các sản phẩm trên thị trường thế giới tăng

sôi động do tâm lý e sợ các nhà đấu tư. Nói một cách khác, vì lạm phát tăng
cao do việc cung tiền quá mức khiến đầu tư chứng khoán không còn là kênh
sinh lợi đáng mong đợi của các nhà đầu ttư nữa.
Ngoài ra, hiện tượng đầu cơ cũng góp phần tăng áp lực lên TTCK trong thời
kì lạm phát. Năm 2007, VN có những mặt hàng đã sản xuất đủ cho nhu cầu
trong nước cũng như ngoài nước nhưng biện pháp quản lý không tốt đã bị
các nhà đầu cơ đẩy giá lên để trục lợi như trường hợp đầu cơ giá gạo…. Điều
này làm các nhà đầu tư mất niềm tin. Các doanh nghiệp khi đó phải tăng chi
phí quản lý, chi phí sản xuất kinh doanh, với các doanh nghiệp quản lý kém
dẫn đến lỗ, thậm chí phá sản. Các nhà đầu tư lúc đó sẽ thu hồi vốn về đề
phòng rủi ro có thể gặp phải từ các doanh nghiệp này. Trên thị trường chứng
khoán lúc đó, cung chứng khoán sẽ nhiều hơn cầu, dẫn đến giá chứng khoán
giảm, gây bất lợi cho TTCK.
Nói tóm lại, khi lạm phát tăng cao do bất kỳ nguyên nhân nào gây ra cũng là
lý do khiến TTCK suy giảm. Việc lạm phát tăng cao, không được khống chế
sẽ làm cho nhà đầu tư mất niềm tin và họ sẽ không dám đầu tư trên TTCK do
sợ rủi ro. Hậu quả là các doanh nghiệp khó huy động thêm vốn cđưa vào
hoạt động sản xuất kinh doanh do TTCK mất đi tính thanh khoản, ảnh hưởng
nghiêm trọng đến tăng trbưởng kinh tế. Còn TTCK sẽ mất đi ý nghĩa của nó
là một kênh huy động vốn của các tổ chức kinh tế và của cả Nhà nước. Chưa
kể những hậu quả khác như mất niềm tin của cả nhà đầu tư nước ngoài do
thấy Việt Nam không còn là môi trường đầu tư hấp dẫn.
TTCK Việt Nam còn non trẻ, trong 10 năm hoạt động và các nhà đầu tư
chứng khoán có thói quen “lướt sóng” nên không quan tâm đến lạm phát mà


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status