Download Khóa luận Nâng cao hiệu qủa hoạt động của Uỷ ban nhân dân cấp xã ở nước ta trong giai đoạn hiện nay miễn phí
MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG I. MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ UỶ BAN NHÂN DÂN
CẤP XÃ 4
1.1. Khái niệm về Uỷ ban nhân dân cấp xã 4
1.2. Nhiệm vụ, quyền hạn của UBND cấp xã 5
1.2.1. Nhiệm vụ quyền hạn của UBND xã, thị trấn 6
1.2.2. Nhiệm vụ, quyền hạn của UBND phường 9
1.3. Cơ cấu, tổ chức, hoạt động của UBND cấp xã 10
1.3.1. Cơ cấu của UBND cấp xã 10
1.3.2. Tổ chức của UBND cấp xã 12
1.3.3. Hoạt động của UBND cấp xã 13
CHƯƠNG II. HOẠT ĐỘNG CỦA UBND CẤP XÃ Ở NƯỚC TA TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY 15
2.1. Những kết quả đạt được 15
2.2. Những tồn tại, hạn chế 21
2.3. Nguyên nhân của các thực trạng trên 27
2.3.1. Nguyên nhân khách quan 27
2.3.2. Nguyên nhân chủ quan 28
CHƯƠNG III. NÂNG CAO HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG CỦA UBND CẤP XÃ Ở NƯỚC TA TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY 30
3.1. Quan điểm chỉ đạo của Đảng về nâng cao hiệu quả hoạt động của UBND cấp xã 30
3.2. Sự cần thiết phải nâng cao hiệu quả hoạt động của UBND cấp xã 33
3.3. Một số biện pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của UBND cấp xã
ở nước ta trong giai đoạn hiện nay 35
3.3.1. Phương hướng chung 35
3.3.2. Các biện pháp cụ thể nâng cao hiệu quả hoạt động của UBND
cấp xã ở nước ta trong giai đoạn hiện nay 38
3.3.2.1. Hoàn thiện các quy định của pháp luật về UBND các cấp trong
đó có những quy định chi tiết, cụ thể đối với UBND cấp xã 38
3.3.2.2. Nâng cao chất lượng hoạt động của UBND cấp xã 39
3.3.2.3. Thực hiện cải cách tổ chức bộ máy của UBND cấp xã 42
3.3.2.4. Hiện đại hóa nền hành chính nhà nước ở cấp xã 45
3.3.2.5. Đổi mới công tác tuyển chọn, bồi dưỡng, nâng cao chất lượng
đội ngũ cán bộ công chức cấp xã 47
3.3.2.6. Củng cố mối quan hệ của UBND cấp xã đối với nhân dân, huy
động sự tham gia có hiệu quả của nhân dân vào việc giám sát các hoạt
động của UBND cấp xã 51
KẾT LUẬN 54
/tai-lieu/de-tai-ung-dung-tren-liketly-38721/
Để tải bản DOC Đầy Đủ thì Trả lời bài viết này, mình sẽ gửi Link download choTóm tắt nội dung:
g của việc đăng ký hộ tịch và tự giác đi đăng ký, đặc biệt là đối với sự kiện khai tử: do tâm lý người dân cho rằng “việc gì mà không mang lại quyền lợi cho mình thì không làm”. Trên thực tế, công chức Hộ tịch cũng không thường xuyên đôn đốc nhân dân thực hiện, phải đến khi có sự kiểm tra, rà soát của các cơ quan có thẩm quyền thì mới phát hiện ra được sự thiếu sót đó. Ví dụ: tại Thái Nguyên trong năm 2007, UBND cấp xã đã đăng ký quá hạn 3354 sự kiện sinh và đăng ký lại cho 6802 sự kiện sinh; đăng ký khai tử quá hạn cho 1950 sự kiện và đăng ký lại cho 510 sự kiện tử. [25]
Đăng ký và quản lý hộ tịch là một nhiệm vụ quan trọng, thường xuyên của UBND các cấp trong đó có UBND cấp xã. Để làm tốt điều này, công chức Hộ tịch phải được trang bị kỹ năng, chuyên môn nhất định thì mới thực hiện tốt nhiệm vụ được giao, đồng thời góp phần tuyên truyền, phổ biến sâu rộng về pháp luật hộ tịch trong nhân dân.
* Hoạt động điều hành của UBND cấp xã.
Hoạt động điều hành của UBND cấp xã hiện nay vẫn chưa thực sự đi vào nề nếp, nhiều nơi còn vi phạm pháp luật. Việc ban hành các văn bản quản lý, áp dụng pháp luật còn nhiều sai trái, gây tổn thất không nhỏ cho Nhà nước và nhân dân.
Một vấn đề đang làm giảm sức mạnh trong hoạt động điều hành của UBND cấp xã đó là tình trạng không phân biệt được khi nào là ý kiến của cá nhân Chủ tịch UBND cấp xã, khi nào là ý kiến của thành viên UBND và ý kiến của tập thể UBND nên gây nhiều khó khăn, trở ngại khi thực hiện, đặc biệt là khi xảy ra sai phạm. Mặt khác, cũng do sự chưa phân định rõ chức năng, thẩm quyền nên có nơi, cán bộ, công chức của UBND cấp xã lợi dụng chức vụ, quyền hạn để trục lợi cá nhân, gia đình thậm chí cho cả dòng họ gây ra sự bất bình trong nhân dân, giảm đi uy quyền của UBND cấp xã trong hoạt động quản lý hành chính nhà nước ở địa phương.
Do năng lực quản lý, điều hành yếu kém nên một số nơi UBND cấp xã không kiểm soát được tình hình, để mặc cho thôn xóm tự soạn ra quy chế, hương ước trái với quy định của pháp luật như việc tự đặt ra các hình thức xử phạt và mức phạt không đúng quy định (mức phạt có thể bằng thóc hay bằng tiền), cho rằng “phép vua thua lệ làng” khiến cho tình hình trị an ở nông thôn vốn đã phức tạp nay càng phức tạp hơn. Cũng do ý thức cục bộ của các cán bộ, công chức cấp xã, dựa trên mối quan hệ họ mạc, làng xóm, quen biết nên đã giải quyết thiên lệch về quyền lợi cho các cá nhân, tổ chức…làm cho nội bộ của UBND cấp xã một số nơi mất ổn định, sinh ra bè phái, làm giảm hiệu quả điều hành và làm mất lòng tin của nhân dân ở chính quyền nói chung và UBND cấp xã nói riêng.
Hiện nay, ở một số nơi, UBND cấp xã có xu hướng đùn đẩy công việc xuống các trưởng thôn, tổ trưởng tổ dân phố tạo ra nguy cơ “hành chính hoá” thôn, khu phố, tổ dân phố khiến hình ảnh thôn, khu phố, tổ dân phố như một cấp hành chính cơ sở. Điều này sẽ làm ảnh hưởng tới tính ổn định của bộ máy quản lý, điều hành ở cấp xã, gây ra cách hiểu sai trong nhân dân về vị trí và vai trò của thôn, xóm, khu phố, tổ dân phố trên địa bàn.
* Chất lượng đội ngũ cán bộ công chức của UBND xã, phường, thị trấn
Số lượng cán bộ, công chức chuyên trách cấp xã hiện nay là 192.438 người [28]. Đây thực sự là một lực lượng đông đảo trong bộ máy hành chính nhà nước. Nhưng do khối lượng công việc phải giải quyết trên thực tế là rất lớn nên việc quy định số lượng cán bộ, công chức cấp xã từ 17 đến không quá 25 người là không phù hợp đối với những đơn vị hành chính cấp xã có dân số trên 04 vạn người.
Chế độ chính sách đối với cán bộ, công chức cấp xã trong thời gian qua còn có nhiều quy định chưa thống nhất. Hiện nay Nghị định 159/2005/NĐ- CP về việc phân loại đơn vị hành chính cấp xã đã được thực hiện, theo số liệu tính đến ngày 30/12/2006 có 2981 xã loại I, 5657 xã loại II, 2292 xã loại III [28], nhưng hiện tại vẫn chưa có một quy định cụ thể nào về chế độ, chính sách cho cán bộ, công chức ở các xã loại I, II, III, cũng không tăng thêm số lượng cán bộ, công chức ở các xã này mà vẫn thực hiện theo NĐ 121/2003/ NĐ- CP quy định về chế độ, chính sách đối với cán bộ, công chức xã, phường, thị trấn. Vì vậy, các quy định của pháp luật cần được sửa đổi cho phù hợp và thống nhất, tránh tình trạng tuỳ tiện trong việc áp dụng văn bản pháp luật.
- Về độ tuổi: cán bộ, công chức cấp xã còn 5,39% số người trên 60 tuổi trong đó cán bộ giữ chức vụ do bầu cử chiếm 4,93%.
- Về trình độ học vấn: Cán bộ, công chức xã chưa biết chữ là 0,13%.
- Về trình độ lý luận chính trị: còn 34,82% chưa qua đào tạo về trình độ lý luận chính tri.
- Về trình độ quản lý hành chính nhà nước còn 55,53% chưa được đào tạo. [28]
Những con số này đã nói nên một thực trạng là: đội ngũ cán bộ UBND cấp xã thời gian qua, vốn đã thấp về trình độ văn hoá phổ thông, ít được bồi dưỡng về lý luận chính trị, chuyên môn nghiệp vụ, kiến thức quản lý kinh tế và quản lý Nhà nước nên chưa theo kịp được với xu thế phát triển chung của thời đại.
Cũng chính do ảnh hưởng của lối tư duy đại khái, giản đơn vẫn tồn tại không ít trong các cán bộ, công chức cấp xã, tư duy thực tiễn yếu kém nên chưa bám sát được những thay đổi hàng ngày trong cuộc sống của nhân dân để giải quyết kịp thời các vấn đề nảy sinh.
Năng lực quản lý của các cán bộ chủ chốt ở UBND cấp xã còn hạn chế, chưa tạo được uy tín với nhân dân nên khi đối mặt với thời kỳ đổi mới, hội nhập toàn cầu, thay đổi phương tiện quản lý hiện đại không ít cán bộ chủ chốt cấp xã đã tỏ ra lúng túng, ngỡ ngàng trước yêu cầu của sự nghiệp đổi mới.
Về chế độ tiền lương: cán bộ bầu cử và công chức chuyên môn có cùng trình độ đào tạo nhưng cán bộ bầu cử chỉ có hai bậc lương, công chức chuyên môn thì được hưởng lương theo ngạch và nâng lương thường xuyên theo quy định. Một số nơi, cán bộ bầu cử kiêm nhiệm chưa được hưởng 10% phụ cấp kiêm nhiệm lãnh đạo.
Về chế độ hưu trí: NĐ 121/2003/ NĐ- CP của Chính phủ về chế độ, chính sách của cán bộ, công chức xã, phường, thị trấn quy định: cán bộ chuyên trách, công chức cấp xã nếu có đủ 15 năm đóng bảo hiểm xã hội trở lên và đủ tuổi nghỉ hưu theo quy định của Bộ Luật lao động thì được hưởng chế độ hưu trí là không thống nhất với quy định của Luật Bảo hiểm xã hội năm 2005. Theo quy định của Luật Bảo hiểm xã hội thì thời gian công tác có đóng BHXH của cán bộ, công chức là 20 năm và phải đủ 55 tuổi đối với nữ và 60 tuổi đối với nam mới đủ điều kiện nghỉ hưu [15].Vì vậy, cần sửa đổi NĐ 121/2003/ NĐ- CP để phù hợp với Luật Bảo hiểm xã hội năm 2005 đồng thời tạo sự thống nhất trong khâu áp dụng pháp luật.
Đối với cán bộ không chuyên trách cấp xã, toàn quốc có 568.899 cán bộ hưởng sinh hoạt phí [28]. Hiện nay số lượng và mức phụ cấp của cán bộ không chuyên trách cấp xã do HĐND các tỉnh...