Download Khóa luận Nghiên cứu các quy định về trình tự, thủ tục thu hồi đất và hướng hoàn thiện các quy định này miễn phí
Mục lục
Lời mở đầu 1
Phần nội dung 3
Chương 1. Các vấn đề lý luận về trình tự, thủ tục thu hồi đất 3
1.1. Khái niệm “thu hồi đất” và “trình tự, thủ tục thu hồi đất” 3
1.1.1. Khái niệm “thu hồi đất” 3
1.1.2. Khái niệm “trình tự, thủ tục thu hồi đất” 5
1.2. Hậu quả pháp lý của việc thu hồi đất 8
1.3. Mục đích, ý nghĩa và sự cần thiết phải quy định về trình tự, thủ tục
thu hồi đất 12
1.4. Cơ sở pháp lý cho việc quy định về trình tự, thủ tục thu hồi đất và
các vi phạm pháp luật thường xảy ra khi thực hiện các thủ tục thu hồi đất 14
1.4.1. Cơ sở pháp lý 14
1.4.2. Các vi phạm pháp luật thường xảy ra khi thực hiện các thủ tục về
thu hồi đất 16
Chương 2. Thực trạng pháp luật về trình tự, thủ tục thu hồi đất 18
2.1. Trình tự, thủ tục thu hồi đất đối với các trường hợp quy định tại khoản 2
và khoản 8 Điều 38 Luật đất đai 18
2.2. Trình tự thu hồi đất đối với các trường hợp do vi phạm pháp luật của
người sử dụng đất 19
2.3. Trình tự, thủ tục thu hồi đất theo quy định tại Nghị định số 84/2007 26
2.3.1. Xác định và công bố chủ trương thu hồi đất 26
2.3.1.1. Các quy định cụ thể 26
2.3.1.2. Vi phạm pháp luật liên quan đến việc xác định và công bố chủ
trương thu hồi đất 28
2.3.2. Chuẩn bị hồ sơ địa chính cho khu đất bị thu hồi 28
2.3.3. Lập, thẩm định và xét duyệt phương án tổng thể về bồi thường, hỗ trợ
và tái định cư 31
2.3.4. Thông báo về việc thu hồi đất 34
2.3.5. Quyết định thu hồi đất 36
2.3.6. Giải quyết khiếu nại đối với quyết định thu hồi 37
2.3.7. Kê khai, kiểm kê và xác định nguồn gốc đất đai 38
2.3.8. Lập, thẩm định và xét duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ và
tái định cư 39
2.3.9. Công khai phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư 41
2.3.10. Thực hiện chi trả bồi thường, hỗ trợ và bố trí tái định cư 41
2.3.11. Thời điểm bàn giao đất đã thu hồi 44
2.3.12. Cưỡng chế thu hồi đất 45
Chương 3. Các kiến nghị góp phần hoàn thiện các quy định của pháp luật
đất đai về trình tự, thủ tục thu hồi đất 47
3.1. Các kiến nghị góp phần sửa đổi, bổ sung các quy định của pháp luật
đất đai về trình tự, thủ tục thu hồi đất 47
3.1.1. Cần xem xét lại các quy định về trường hợp cho phép các tổ chức
kinh tế thoả thuận để nhận chuyển nhượng, thuê đất 47
/tai-lieu/de-tai-ung-dung-tren-liketly-38723/
Để tải bản DOC Đầy Đủ thì Trả lời bài viết này, mình sẽ gửi Link download choTóm tắt nội dung:
áp luật hay có nhưng không được quyền hưởng di sản, từ chối nhận di sản thì tài sản còn lại sau khi đã thực hiện nghĩa vụ về tài sản mà không có người nhận thừa kế thuộc về Nhà nước”. Kế thừa và phát triển các quy định trên, pháp luật đất đai đưa ra trường hợp làm cơ sở tiến hành các thủ tục thu hồi đất, đó là: “cá nhân sử dụng đất chết mà không có người thừa kế”. Về mặt pháp lý, theo quy định của Luật dân sự, một người bị coi là đã chết khi có quyết định, tuyên bố của toà án. Trên thực tế, nếu một người đã chết, cơ quan nhà nước có thẩm quyền cần tiến hành cấp giấy chứng tử. Cơ chế thực hiện thủ tục hành chính trong trường hợp này được thực hiện theo quy định tại Khoản 2 Điều 132 Nghị định 181/2004/NĐ-CP như sau: “trong thời hạn không quá mười lăm (15) ngày làm việc kể từ ngày nhận được giấy chứng tử hay quyết định tuyên bố mất tích của cơ quan nhà nước có thẩm quyền và văn bản xác nhận không có người thừa kế của UBND xã, phường, thị trấn nơi có đất, Phòng TN&MT có trách nhiệm thẩm tra, xác minh thực tế, trình UBND cùng cấp quyết định thu hồi đất. Trong thời hạn không quá mười (10) ngày làm việc kể từ ngày nhận được tờ trình, UBND huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh có trách nhiệm xem xét, ký và gửi phòng TN&MT quyết định thu hồi”.
Trong trường hợp quy định tại khoản 10 Điều 38 Luật đất đai, “đất được Nhà nước giao, cho thuê có thời hạn mà không được gia hạn khi hết thời hạn”. trình tự, thủ tục cũng được thiết kế logic theo các bước tương tự như trên, cụ thể là: kể từ khi hết hạn sử dụng đất, cơ quan TN&MT trình UBND cùng cấp quyết định thu hồi, thời gian đảm bảo để thực hiện các công việc này là 30 ngày. Trong thời hạn 10 ngày kế tiếp, kể từ khi nhận được tờ trình UBND cấp có thẩm quyền xem xét và ra quyết định thu hồi đất.
Có thể nhận thấy trong hai trường hợp quy định tại khoản 7 và 10 Điều 38 Luật Đất đai như đã trình bày, thời gian thực hiện các công việc của cơ quan TN&MT có khác nhau. Việc quy định khoảng thời gian dài ngắn không trùng nhau như vậy nhằm tạo điều kiện cho cơ quan này đạt được hiệu quả cao nhất, thực hiện các công việc theo đúng tiến độ vừa đảm bảo thực thi đầy đủ các quy định của pháp luật.
Như vậy, căn cứ vào các thủ tục hành chính về thu hồi đất ở các trường hợp kể trên, vấn đề thời gian thực hiện và thẩm quyền thực hiện các công việc là hai điểm nhấn thực sự đáng lưu tâm trong quá trình triển khai thực tế. Thẩm quyền thu hồi đất là một vấn đề rất quan trọng, nó ảnh hưởng đến hiệu lực của một quyết định thu hồi đất, nó thể hiện được trách nhiệm trực tiếp của từng cấp chính quyền. Về nguyên tắc, cơ quan nào có thẩm quyền giao đất, cho thuê đất thì có thẩm quyền thu hồi đất. Theo báo Tiền Phong năm 2007, câu chuyện về 6000m2 đất do Thủ tướng Chính phủ giao cho công ty tàu thuỷ Sài Gòn xây dựng nhà máy sửa chữa và đóng mới tàu thuỷ (từ ngày 1/8/1992) đã bị UBND Thành phố Hồ Chí Minh ra quyết định thu hồi là một dẫn chứng khá điển hình về quá trình thu hồi đất sai thẩm quyền của các cơ quan chức năng. Ngày 19/3/2004, UBND thành phố đã thu hồi để giao đất cho Công ty cổ phần BOT cầu Phú Mỹ, hơn nữa khi ban hành các quyết định này, UBND thành phố không hề thông báo cho đơn vị đang được giao quản lý sử dụng. Theo tập đoàn tàu thuỷ Việt Nam, công ty tàu thuỷ Sài Gòn đang được đầu tư xây dựng, nâng cấp nhà máy bằng nguồn vốn ngân sách, vay ưu đãi, trái phiếu Chính phủ và theo kế hoạch phải đến cuối năm 2008 mới kết thúc dự án nên chưa thu hồi được vốn. “Sự cố” này xảy ra, công ty tàu thuỷ Sài Gòn đã buộc phải tạm ngừng xây dựng các công trình trên khu đất có quyết định thu hồi từ 9/2006, khiến dự án xây dựng nhà máy bị chậm tiến độ, ảnh hưởng rất lớn đến dây chuyền sản xuất và công suất của toàn bộ dự án.[[9]. Huy Thịnh, TPHCM: Thủ tướng giao đất, thành phố tuỳ tiện thu hồi, Báo Tiền Phong 2007.
] Như vậy, từ một quyết định trái thẩm quyền, nhiều vấn đề nghiêm trọng đã nảy sinh, khiến doanh nghiệp phải lâm vào tình trạng lao đao, gây thất thoát tài sản của Nhà nước. Ngoài ra, còn rất nhiều vụ việc điển hình liên quan đến chuyện thu hồi đất sai thẩm quyền, vượt quá thẩm quyền như: vụ việc thu hồi 45 ngàn m2 trái pháp luật tại An Dương, Hải Phòng,…
2.3. Trình tự, thủ tục thu hồi đất theo quy định tại Nghị định số 84/2007
Trong những năm vừa qua, việc thu hồi đất, đền bù giải phóng mặt bằng phục vụ lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng đang là vấn đề hết sức nhức nhối, nhiều trường hợp gây cản trở việc thực hiện các công trình, dự án phục vụ các mục tiêu kinh tế - xã hội của đất nước. Để thu hồi đất được tiến hành nhanh chóng, hiệu quả, người dân sớm ổn định cuộc sống Nhà nước ta đã có những chính sách quy định cụ thể về trình tự, thủ tục. Nghị định 84/2007/NĐ-CP ngày 25/5/2007 của Chính phủ quy định một cách chính thức một chu trình, thủ tục hành chính trong quá trình thu hồi đất, đó cũng là nội dung quan trọng nhất của Nghị định mới này. Theo văn bản này, trình tự, thủ tục thu hồi đất, bồi thường hỗ trợ tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất được quy định thống nhất, công khai từ khâu quy hoạch đến khâu bàn giao mặt bằng, có cưỡng chế hay không. Dưới đây là các nghiên cứu về quy trình này:
2.3.1. Xác định và công bố chủ trương thu hồi đất
2.3.1.1. Các quy định cụ thể
Điều 49 Nghị định 84/2007 quy định:
1. Việc xác định chủ trương thu hồi đất (đối với trường hợp thu hồi đất theo quy hoạch) hay ra văn bản chấp nhận địa điểm đầu tư (đối với trường hợp thu hồi đất theo dự án) được thực hiện dựa vào các căn cứ sau đây:
a. Quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất hay quy hoạch xây dựng đô thị hay quy hoạch xây dựng địa điểm dân cư nông thôn đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền xét duyệt theo quy định của pháp luật;
b. Nhu cầu sử dụng đất thể hiện trong hồ sơ dự án đầu tư theo quy định của pháp luật về đầu tư và pháp luật về xây dựng;
Đối với dự án đầu tư sử dụng nguồn vốn từ ngân sách nhà nước thì nhu cầu sử dụng đất được xác định theo quyết định phê duyệt dự án của cơ quan có thẩm quyền; đối với dự án đầu tư sử dụng nguồn vốn ngoài ngân sách nhà nước thì nhu cầu sử dụng đất được xác định theo văn bản thẩm định nhu cầu sử dụng đất của Sở TN&MT theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 30 Nghị định số 181/2004/NĐ-CP; đối với dự án xây dựng cơ sở tôn giáo thì nhu cầu sử dụng đất được xác định theo quyết định của UBND cấp tỉnh.
c. Các trường hợp quy định tại các điểm a, b, c, d, e, g, và h khoản 1 và các điểm a, c và d khoản 2 Điều 36 Nghị định số 181/2004/NĐ-CP, khoản 3 Điều 2 Nghị định số 17/2006/NĐ-CP, Điều 34 và Điều 35 Nghị định 84/2007
2. UBND cấp tỉnh hay UBND cấp huyện ban hành văn bản về chủ trương thu hồi đất hay văn bản chấp thuận địa điểm đầu tư theo quy định tại kho