hoàn thiện công tác quản trị rủi ro trong cho vay doanh nghiệp tại chi nhánh ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn hà thành - Pdf 23

BỘ GIÁO DỤC ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC THĂNG LONG
o0o
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
ĐỀ TÀI:
HOÀN THIỆN CÔNG TÁC QUẢN TRỊ RỦI RO
TRONG CHO VAY DOANH NGHIỆP TẠI
CHI NHÁNH NGÂN HÀNG NÔNG NGHIỆP VÀ
PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN HÀ THÀNH
Giáo viên hướng dẫn : Th.s Phạm Thị Bảo Oanh
Sinh viên thực hiện : Cung Thị Minh Đức
Mã sinh viên : A14830
Chuyên ngành : Ngân hàng
HÀ NỘI - 2012
1
LỜI CẢM ƠN
Em xin chân thành cảm ơn sự chỉ bảo tận tình của giáo viên hướng dẫn là Thạc
sĩ Phạm Thị Bảo Oanh, cô đã luôn giúp đỡ, trau dồi thêm kiến thức, chỉ ra những thiếu
sót và giúp em có những định hướng tốt hơn trong suốt thời gian em thực hiện làm
khóa luận. Em cũng xin đặc biệt cảm ơn anh Phạm Hoàng Anh - nhân viên phòng kinh
doanh Chi nhánh Ngân hàng Nông Nghiệp và Phát Triển Nông Thôn Hà Thành đã
giúp đỡ, cung cấp thông tin, tài liệu hữu ích tạo điều kiện cho em hoàn thành khóa
luận này.
Em xin chân thành cảm ơn!
Ngày 04 tháng 11 năm 2012
Sinh viên
Cung Thị Minh Đức
2
MỤC LỤC
3
LỜI MỞ ĐẦU

2.Mục đích nghiên cứu của đề tài
Mục tiêu nghiên cứu của đề tài tập trung vào ba nội dung chính sau:
- Làm rõ cơ sở lý luận về hoạt động cho vay doanh nghiệp và quản trị rủi ro
trong cho vay doanh nghiệp của ngân hàng thương mại.
4
- Phân tích, đánh giá thực trạng hoạt động cho vay doanh nghiệp và quản trị rủi
ro trong cho vay doanh nghiệp của Chi nhánh Ngân hàng Nông Nghiệp và Phát Triển
Nông Thôn Hà Thành giai đoạn từ năm 2009 – 2011.
- Đưa ra các giải pháp kiến nghị nhằm hoàn thiện công tác quản trị rủi ro trong
cho vay khách hàng doanh nghiệp tại Chi nhánh Ngân hàng Nông Nghiệp Và Phát
Triển Nông Thôn Hà Thành.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu đề tài
Đối tượng nghiên cứu của đề tài: Hoạt động cho vay doanh nghiệp và quản trị
rủi ro trong cho vay doanh nghiệp tại Chi nhánh Ngân hàng Nông Nghiệp và Phát
Triển Nông Thôn Hà Thành.
Phạm vi nghiên cứu của đề tài: Đề tài tập trung nghiên cứu thực trạng hoạt
động cho vay doanh nghiệp và quản trị rủi ro trong cho vay doanh nghiệp tại Chi
nhánh Ngân hàng Nông Nghiệp và Phát Triển Nông Thôn Hà Thành giai đoạn năm
2009 – 2011.
4. Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện đề tài nghiên cứu, khóa luận sử dụng phương pháp thống kê, miêu
tả, tổng hợp số liệu và so sánh số liệu giữa các năm, các chỉ tiêu để thấy được những
kết quả đạt được cũng như những hạn chế trong quản trị rủi ro. Đồng thời, khóa luận
còn kết hợp sử dụng phương pháp phân tích tổng hợp, đánh giá thực trạng, tìm ra
nguyên nhân và đưa ra phương hướng giải quyết.
5. Kết cấu của khóa luận
Ngoài lời mở đầu, kết luận, danh mục bảng biểu, danh mục sơ đồ hình vẽ, danh
mục chữ viết tắt, phụ lục, kết cấu của khóa luận gồm 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận về quản trị rủi ro trong cho vay doanh nghiệp của
ngân hàng thương mại.

Doanh nghiệp nhà nước
Doanh nghiệp nhỏ và vừa
Euro
Bảng Anh
Yên Nhật
Ngân hàng nhà nước
Ngân hàng Nông Nghiệp và Phát Triển Nông Thôn
Ngân hàng thương mại
Trách nhiệm hữu hạn
Tài sản cố định
Tài sản đảm bảo
Đô la Mỹ
Đồng Việt Nam
6
DANH MỤC SƠ ĐỒ, BẢNG BIỂU, HÌNH VẼ
CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN TRỊ RỦI RO TRONG CHO VAY DOANH
NGHIỆP CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
1.1.Tổng quan về hoạt động cho vay doanh nghiệp
1.1.1. Khái niệm cho vay
Cho vay là một quan hệ kinh tế phát sinh giữa các chủ thể trong nền kinh tế với
nhau, trong đó chủ thể cung ứng vốn chuyển sang cho chủ thể đang tạm thời thiếu vốn
quyền sử dụng một lượng giá trị trong một thời gian nhất định, sau thời gian đã thỏa
thuận chủ thể đi vay phải hoàn trả một lượng giá trị lớn hơn giá trị ban đầu gồm cả gốc
và phần lãi cho chủ thể cho vay. Trong đó, lãi cho vay tỷ lệ với giá trị khoản vay, thời
gian vay và mức độ rủi ro trong cho vay khách hàng.
Theo Wikipedia: “Cho vay là việc bên cho vay cung cấp nguồn tài chính cho
bên đi vay, trong đó bên đi vay sẽ hoàn trả cả gốc và lãi cho bên cho vay theo một
thời hạn đã thỏa thuận”.
Theo giáo trình “Nghiệp vụ ngân hàng thương mại” của trường Đại học Thăng

Ngân hàng cho vay theo nhu cầu vốn để thực hiện kế hoạch SXKD của khách
hàng. Khách hàng phải cam kết sử dụng khoản vốn vay theo đúng mục đích đã thỏa
thuận với ngân hàng, không trái với quy định của pháp luật. Mục đích tài trợ được ghi
trong hợp đồng cho vay đảm bảo ngân hàng tài trợ cho các hoạt động không trái luật
pháp, phù hợp với mục tiêu chiến lược phát triển của ngân hàng cũng như chủ trương
xây dựng phát triển đất nước. Mục đích sử dụng vốn còn là căn cứ thẩm định để đưa ra
phán quyết cấp tín dụng của ngân hàng. Việc khách hàng sử dụng vốn đúng mục đích
ảnh hưởng rất lớn tới khả năng thu hồi vốn vay của ngân hàng. Cũng như là cơ sở để
sau khi giải ngân, ngân hàng có căn cứ giám sát hoạt động sử dụng vốn của khách
hàng có sử dụng đúng mục đích không, thông qua đó đảm bảo khoản vay có hiệu quả.
Về phía khách hàng, việc sử dụng vốn vay đúng mục đích góp phần nâng cao hiệu quả
sử dụng vốn, thực hiện được mục tiêu SXKD, đảm bảo khả năng hoàn trả cho ngân
hàng. Từ đó củng cố, nâng cao uy tín của khách hàng đối với ngân hàng, tạo mối quan
hệ tín dụng tốt đẹp và lâu dài giữa ngân hàng với khách hàng.
Hai là, khách hàng phải cam kết hoàn trả nợ gốc và lãi vay đúng thời hạn đã
thỏa thuận.
Đây là yêu cầu bắt buộc đối với doanh nghiệp vay vốn và cũng là điều kiện để
ngân hàng tồn tại và phát triển. Tùy thuộc vào phương thức cho vay mà khách hàng có
thể trả vốn và lãi theo những cách thức khác nhau: trả lãi hàng tháng, trả gốc cuối kì,
trả theo niên kim cố định, trả gốc làm nhiều lần trong thời hạn cho vay… theo sự thỏa
thuận giữa hai bên. Xuất phát từ bản chất của quan hệ cho vay là quan hệ chuyển
nhượng tạm thời quyền sử dụng vốn nên sau một thời gian nhất định vốn vay phải
được hoàn trả cả gốc lẫn lãi. Nguồn vốn mà ngân hàng sử dụng để cho vay chủ yếu là
vốn huy động từ tiền gửi của các cá nhân, tổ chức và doanh nghiệp. Sau một thời
gian sử dụng vốn vay, khách hàng phải hoàn trả vốn và chi phí sử dụng vốn như đã
cam kết. Do vậy, ngân hàng luôn yêu cầu người xin vay phải thực hiện đúng cam
kết hoàn trả vốn và lãi đầy đủ và đúng hạn. Đối với phương án SXKD thì nguồn trả
9
nợ chính của doanh nghiệp là từ doanh thu bán hàng còn đối với dự án SXKD thì
nguồn trả nợ chính của doanh nghiệp là lợi nhuận sau thuế và khấu hao TSCĐ.

Thứ ba, khách hàng phải có năng lực tài chính lành mạnh đủ để đảm bảo
hoàn trả tiền vay đúng hạn đã cam kết.
Khi đề cập đến khả năng tài chính lành mạnh của khách hàng vay vốn, đối với
doanh nghiệp thì thông thường ngân hàng chú trọng đến báo cáo kết quả hoạt động
10
SXKD và khả năng quản lý tốt; chứng minh sự phát triển ổn định của doanh nghiệp;
đảm bảo cho doanh nghiệp có cơ sở vững chắc về tài chính để đảm bảo cho cam kết
hoàn trả tiền vay đúng hạn. Bên cạnh đó, doanh nghiệp phải có tình hình tài sản và
nguồn vốn ổn định để đảm bảo doanh nghiệp hoạt động thường xuyên, liên tục và tạo
điều kiện cho doanh nghiệp có khả năng phát triển trong tương lai cũng như việc trả
tiền vay đúng hạn đã cam kết. Do đó, ngân hàng yêu cầu khách hàng phải có năng lực
tài chính lành mạnh để khách hàng duy trì và phát triển hoạt động SXKD cũng như
việc đầu tư SXKD có hiệu quả để khách hàng đảm bảo được trả nợ cho ngân hàng đầy
đủ và đúng hạn.
Thứ tư, khách hàng phải có phương án, dự án sản xuất kinh doanh khả thi
và hiệu quả.
Doanh nghiệp khi đi vay vốn phải có kế hoạch SXKD khả thi và hiệu quả vì
bản chất của NHTM là tổ chức kinh doanh trong đó việc cho vay vốn phải đảm bảo
các nguyên tắc sinh lời cơ bản. Do đó, dự án và phương án mà ngân hàng tài trợ vốn
phải đảm bảo tính khả thi và hiệu quả. Nếu khách hàng không có kế hoạch SXKD khả
thi và hiệu quả thì không tạo ra thu nhập và sẽ ảnh hưởng đến khả năng thu hồi nợ gốc
và lãi của ngân hàng cũng như gây ra rủi ro cho ngân hàng.
Trong hoạt động cho vay của NHTM, nguồn thu từ phương án và dự án vay
vốn được coi là nguồn thu “thứ nhất” đảm bảo an toàn vốn cũng như phát triển liên tục
của khách hàng và ngân hàng. Bởi vì, khi kế hoạch SXKD có hiệu quả tức là có nguồn
thu thì khách hàng sẽ đảm bảo được khả năng thanh toán nợ gốc và lãi cho ngân hàng.
Đây là điều kiện liên quan đến quyết định cho vay của ngân hàng.
Thứ năm, khách hàng phải thực hiện đảm bảo tiền vay theo đúng quy định.
Đây là yếu tố mà mọi ngân hàng đều phải quan tâm vì đảm bảo tiền vay là công
cụ đảm bảo trong việc thực hiện trách nhiệm và nghĩa vụ của khách hàng trong quan

thời hạn từ 1 năm trở xuống. Còn đối với dự án SXKD thì khách hàng có thể vay với
thời hạn trên 1 năm đến 5 năm đối với dự án trung hạn, trên 5 năm đối với dự án dài hạn.
Căn cứ vào đặc điểm luân chuyển vốn: vốn kinh doanh bao gồm vốn cố định
và vốn lưu động. Tùy thuộc vào mục đích vay vốn của khách hàng mà ngân hàng sẽ
đưa ra thời hạn cho vay hợp lý. Đối với việc vay vốn để mua sắm tài sản cố định là
những tư liệu lao động có giá trị lớn tham gia vào nhiều chu kỳ SXKD nên thời hạn
vay sẽ phụ thuộc vào thời gian khấu hao của TSCĐ. Đối với việc vay vốn lưu động
phục vụ SXKD trong ngắn hạn thì ngân hàng sẽ cho vay với thời hạn là từ 1 năm trở
xuống.
Căn cứ vào chu kỳ kinh doanh: chu kỳ kinh doanh là sự biến động của các
hoạt động kinh tế ngắn hạn trong một thời kỳ nhất định, trong đó các giai đoạn tăng
trưởng và các giai đoạn suy giảm luân chuyển lẫn nhau không ngừng. Vì vậy, thời hạn
cho vay phụ thuộc vào chu kỳ kinh doanh ngắn hay dài sẽ lần lượt được áp dụng với
thời hạn cho vay ngắn hạn hoặc trong trung và dài hạn.
Căn cứ vào thời hạn thu hồi vốn: đối với những phương án SXKD thì kế
hoạch thực hiện trong thời gian ngắn nên thời gian thu hồi vốn sẽ nhanh. Vậy thời hạn
cho vay sẽ ở mức dưới 1 năm. Còn với những dự án SXKD thì ngược lại.
12
Thời hạn cho vay là yếu tố quan trọng mà ngay từ khi tiếp nhận hồ sơ vay vốn
của khách hàng, ngân hàng đã phải xác định khoản vay này là ngắn hạn, trung hạn hay
dài hạn, để từ đó ngân hàng áp dụng các mức lãi suất sao cho phù hợp với mức độ rủi
ro của từng khoản vay.
1.1.4.4. Lãi suất cho vay
Lãi suất cho vay là một yếu tố quan trọng trong hoạt động kinh doanh của ngân
hàng. Lãi suất cho vay phải được thỏa thuận giữa ngân hàng và khách hàng trong hợp
đồng cho vay trên cơ sở phù hợp với quy định của nhà nước trong từng thời kỳ. Lãi
suất CVDN thường được các ngân hàng đưa ra với mức lãi suất linh hoạt, có nhiều
mức phù hợp với phương thức và loại cho vay. Doanh nghiệp là chủ thể lớn trong nền
kinh tế nên ngân hàng thường có chính sách lãi suất và điều kiện cho vay ưu đãi. Tuy
nhiên, việc áp dụng lãi suất cho vay còn phụ thuộc vào mối quan hệ của khách hàng

- Có khả năng tài chính để trả nợ vay.
Vì vậy, tỷ lệ cho vay có đảm bảo bằng tài sản có xu hướng gia tăng, góp phần
giảm thiểu tổn thất khi rủi ro xảy ra.
1.1.5. Phân loại cho vay doanh nghiệp
1.1.5.1. Phân loại theo thời gian
Phân theo tiêu chí thời gian, CVDN bao gồm: ngắn hạn, trung hạn và dài hạn.
Cho vay trong ngắn hạn: là việc ngân hàng tài trợ vốn cho các doanh nghiệp
có nhu cầu sử dụng vốn từ 12 tháng trở xuống, chủ yếu phục vụ cho việc bổ sung vốn
lưu động bị thiếu của doanh nghiệp và SXKD trong ngắn hạn. Mức độ rủi ro của hoạt
động cho vay này là thấp vì doanh nghiệp vay dùng chính nguồn thu được từ sử dụng
vốn vay để trả nợ.
Cho vay trong trung hạn: là việc ngân hàng tài trợ vốn cho các doanh nghiệp
có nhu cầu sử dụng vốn trên 12 tháng đến 60 tháng. Loại này được cấp chủ yếu phục
vụ cho việc đầu tư mua sắm tài sản cố định, cải tiến hoặc đổi mới thiết bị, công nghệ
hoặc mở rộng SXKD.
Cho vay dài hạn: là việc ngân hàng tài trợ vốn cho các doanh nghiệp có nhu
cầu sử dụng vốn trên 60 tháng. Loại hình cho vay này chủ yếu phục vụ cho xây dựng
cơ bản, đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng, đầu tư vào các dự án có quy mô lớn. Loại hình
cho vay này tiềm ẩn nhiều rủi ro nhất vì thời gian thực hiện dài nên chịu ảnh hưởng
nhiều của sự biến động kinh tế và vốn vay tham gia vào nhiều chu kỳ SXKD nên việc
hoàn trả được thực hiện trong nhiều chu kỳ.
1.1.5.2. Phân loại theo mục đích sử dụng
Căn cứ vào mục đích sử dụng vốn, CVDN được chia thành 5 loại:
Cho vay bổ sung vốn lưu động: Là việc ngân hàng CVDN, đáp ứng nhu cầu
bổ sung vốn lưu động, phục vụ hoạt động SXKD trong ngắn hạn.
Cho vay mua sắm tài sản cố định: Là các khoản vay nhằm tài trợ cho doanh
nghiệp mua sắm các thiết bị, máy móc, công nghệ phục vụ cho việc tái đầu tư, mở
rộng sản xuất hoặc đầu tư lần đầu.
Cho vay dự án cơ sở hạ tầng: Là các khoản vay nhằm tài trợ cho doanh
nghiệp chi phí để thực hiện các dự án và đầu tư vào cơ sở hạ tầng để tăng lợi nhuận và

mại dịch vụ thì số lao động trên 50 người đến 100 người và tổng nguồn vốn là trên 10
tỷ đồng đến 50 tỷ đồng. Ngân hàng cho vay doanh nghiệp nhỏ, vừa và siêu nhỏ để đáp
ứng nhu cầu SXKD hợp pháp của các loại hình doanh nghiệp này.
1.1.5.5. Phân loại theo ngành nghề kinh doanh
CVDN theo ngành nghề kinh doanh rất đa đạng, bao gồm: cho vay các ngành
thuộc lĩnh vực nông nghiệp – nông thôn, cho vay ngành công nghiệp, cho vay ngành
xây dựng và ngành thương mại dịch vụ.
15
Cho vay các ngành thuộc lĩnh vực nông nghiệp – nông thôn: là các khoản
vay tài trợ cho doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực nông nghiệp như nông nghiệp,
lâm nghiệp, thủy hải sản, chăn nuôi…
Cho vay ngành công nghiệp: là các khoản vay đáp ứng nhu cầu phục vụ
SXKD trong lĩnh vực công nghiệp như: điện, thép, công nghiệp khai khoáng, giày da,
may mặc, dệt…
Cho vay ngành xây dựng: là các khoản vay tài trợ cho doanh nghiệp đầu tư
vào lĩnh vực xây dựng như: xi măng, kinh doanh bất động sản, giao thông vận tải…
Cho vay thương mại, dịch vụ: là các khoản vay tài trợ cho các ngành thương
mại, dịch vụ như: du lịch, thương mại và dịch vụ…
1.1.5.6. Phân loại theo nhóm nợ
Theo Quyết định 18/2007/QĐ – NHNN về việc sửa đổi, bổ sung một số điều
của Quy định về phân loại nợ, trích lập và sử dụng dự phòng để xử lý rủi ro tín dụng
trong hoạt động ngân hàng của tổ chức tín dụng ban hành theo Quyết định số
493/2005/QĐ – NHNN ngày 22 tháng 4 năm 2005 của Thống đốc Ngân hàng Nhà
nước, các ngân hàng tiến hành phân loại nợ căn cứ vào nợ vay đã hạch toán vào tài
khoản nợ theo 5 nhóm sau:
Nhóm 1 (nợ đủ tiêu chuẩn): bao gồm các khoản nợ trong hạn mà ngân hàng
đánh giá là có khả năng thu hồi gốc và lãi đúng hạn; Các khoản nợ quá hạn dưới 10
ngày và ngân hàng đánh giá là có khả năng thu hồi đầy đủ cả gốc và lãi quá hạn và thu
đúng thời hạn còn lại.
Nhóm 2 (nợ cần chú ý): bao gồm các khoản nợ của doanh nghiệp đã quá hạn từ

1.2.1. Khái niệm
Hoạt động cho vay thiết lập mối quan hệ vay mượn giữa hai chủ thể là ngân
hàng và doanh nghiệp. Khi quan hệ cho vay giữa ngân hàng và doanh nghiệp không
được thực hiện theo đúng thỏa thuận trong hợp đồng thì rủi ro xuất hiện, với hoạt động
cho vay thì đó là rủi ro cho vay.
Có nhiều cách hiểu rủi ro cho vay khác nhau, trong giáo trình “Nghiệp vụ ngân
hàng thương mại” của trường Đại học Thăng Long do PGS.TS Mai Văn Bạn làm chủ
biên định nghĩa là: “Rủi ro cho vay phát sinh khi ngân hàng cho khách hàng vay mà
không thu được gốc và lãi đúng hạn, hoặc chỉ thu được một phần gốc và lãi, hoặc
không thu được cả gốc và lãi khoản cho vay đó”. Còn TS. Hồ Diệu, trong giáo trình
“Tín dụng ngân hàng” của Học viện Ngân hàng đã nêu “Rủi ro cho vay là rủi ro về sự
tổn thất tài chính (trực tiếp hoặc gián tiếp) xuất phát từ người đi vay không thực hiện
nghĩa vụ trả nợ đúng hạn theo cam kết hoặc mất khả năng thanh toán”.
Từ những định nghĩa nêu trên có thể thấy rằng: “Rủi ro trong cho vay doanh
nghiệp là một trong những loại hình rủi ro trong hoạt động kinh doanh ngân
hàng, nó xảy ra khi doanh nghiệp không trả được nợ gốc và lãi đúng hạn hoặc chỉ
trả một phần gốc và lãi hoặc mất khả năng thanh toán và tổn thất thuộc về người
cho vay”.
Rủi ro trong CVDN hàm chứa tỷ trọng lớn nhất trong tổng rủi ro, mang lại
khoản tổn thất lớn nhất trong hoạt động kinh doanh ngân hàng.
17
Rủi ro trong CVDN luôn tiềm ẩn trong toàn bộ dư nợ cho vay của ngân hàng và
gắn liền với khả năng khách hàng không trả được nợ theo hợp đồng. Cụ thể là luồng
thu nhập dự tính mang lại từ các tài sản có sinh lời của các ngân hàng có thể không
được hoàn trả đầy đủ xét cả về mặt số lượng và thời hạn.
1.2.2. Đặc điểm rủi ro trong cho vay doanh nghiệp
1.2.2.1. Quy mô khoản tổn thất
Quy mô khoản tổn thất là số lượng tiền mất mát khi ngân hàng không thu hồi
được đầy đủ cả gốc và lãi của những khoản cho vay. Quy mô khoản tổn thất của ngân
hàng trong CVDN thường lớn hơn so với loại hình cho vay khác vì cơ bản khoản vay

1.2.3. Các loại rủi ro chính trong cho vay doanh nghiệp
1.2.3.1. Rủi ro trong giai đoạn thu thập thông tin
Nguồn thông tin do khách hàng cung cấp: rủi ro xảy ra khi doanh nghiệp
cung cấp thông tin và tài liệu cho ngân hàng là không đầy đủ và thiếu chính xác.
Những nguồn thông tin của doanh nghiệp cung cấp cho ngân hàng có thể là doanh
nghiệp chỉnh sửa làm sai lạc thông tin để đạt được điều kiện vay vốn của ngân hàng.
Nếu các thông tin hoặc số liệu đã được kiểm toán thì kết quả kiểm toán chỉ là đối phó
và không chính xác. Từ những thông tin đó, CBCV thẩm định và ra quyết định cho
vay không đúng, do đó rủi ro có thể xảy ra và làm giảm chất lượng khoản vay. Như
vậy, trong quá trình kiểm tra, kiểm soát thông tin của doanh nghiệp cung cấp, CBCV
đã không thực hiện nghiêm túc làm giảm hiệu quả công tác quản trị rủi ro trong
CVDN.
Nguồn thông tin lưu trữ tại ngân hàng: nguồn thông tin lưu trữ tại ngân hàng
là những thông tin cũ, không được cập nhật, do đó mà không đánh giá được chính xác
năng lực pháp lý, năng lực tài chính và khả năng trả nợ của khách hàng tại thời điểm
xin vay vốn. Vì vậy, CBCV mà dựa trên những thông tin này thì việc thẩm định và
phân tích khoản vay của khách hàng cũng không chính xác, từ đó làm ảnh hưởng đến
việc ra quyết định cho vay. Việc ra quyết định cho vay không đúng thì rủi ro có thể
xảy ra cho ngân hàng.
Nguồn thông tin tại trung tâm thông tin tín dụng: cũng như nguồn thông tin
lưu trữ tại ngân hàng thì nguồn thông tin tại trung tâm thông tin tín dụng của NHNN
(CIC) cũng không được cập nhật thường xuyên và là những thông tin cũ của khách
hàng. Dựa vào những thông tin cũ đó thì không thể đánh giá được tình hình hoạt động
của khách hàng ở thời điểm khách hàng xin vay vốn. Như vậy, nó sẽ ảnh hưởng xấu
đến quá trình thẩm định và ra quyết định cho vay của ngân hàng và khi đó rủi ro có thể
xảy ra.
Nguồn thông tin khác: nguồn thông tin khác là nguồn thông tin từ báo chí,
internet, phương tiện thông tin đại chúng… những thông tin này cũng không được đầy
đủ, chính xác và cập nhật nên cũng không phản ánh chính xác được tình hình hoạt
động của doanh nghiệp, do đó cũng ảnh hưởng xấu đến việc ra quyết định cho vay của

của hoạt động CVDN đều chịu rủi ro tác nghiệp.
Con người: Rủi ro tác nghiệp tăng lên cùng với sự tham gia của con người vào
hoạt động khởi tạo, phê duyệt, báo cáo hoặc điều chỉnh một giao dịch. Các khía cạnh
của rủi ro tác nghiệp bao gồm hành vi gian lận, lỗi, sự bỏ sót và lạm dụng của nhân
viên. Ngân hàng càng có nhiều nhân viên, nhiều địa điểm giao dịch và khách hàng thì
rủi ro tác nghiệp càng cao. Số lượng nhân viên tăng nhanh là dấu hiệu tăng rủi ro tác
nghiệp.
Hệ thống: đây chỉ là một phần của rủi ro tác nghiệp nhưng lại có thể ảnh hưởng
đến tất cả các loại rủi ro khác trong ngân hàng.
Các sự kiện bên ngoài: Các yếu tố nằm ngoài sự kiểm soát của ngân hàng
cũng góp phần gây ra rủi ro tác nghiệp. Các vấn đề về cơ sở hạ tầng như: hệ thống
20
truyền dữ liệu, giao thông, điện, nước, điện thoại, các thay đổi về pháp lư, chính trị
ngay cả thời tiết khắc nghiệt cũng có thể tạo ra hoặc làm tăng thêm các rủi ro trong
ngân hàng.
Các vấn đề khác: Các vấn đề khác có ảnh hưởng đến rủi ro tác nghiệp bao
gồm: số tiền của khoản vay và số lượng các thay đổi mà một ngân hàng đang gặp phải
(lãnh đạo mới, nhân viên mới, sản phẩm mới, nhưng thay đổi về chương trình hệ
thống…)
1.2.3.4. Rủi ro đạo đức
Ngân hàng hoạt động trong lĩnh vực kinh doanh đặc biệt, nhạy cảm, gắn chặt
với tiền và luôn đối mặt với nhiều rủi ro. Trong các vấn đề rủi ro, dường như rủi ro
đạo đức đang là một nguy cơ ngày càng lớn đối với các ngân hàng.
Trên sbv.gov.vn, theo nhà kinh tế học Paul Krugman: “Trong lĩnh vực ngân
hàng, rủi ro đạo đức được hiểu là trường hợp khi một bên đưa ra các quyết định
liên quan tới mức độ chấp nhận rủi ro, trong khi bên kia phải chịu tổn thất nếu các
quyết định đó thất bại”.
Trong hoạt động kinh doanh ngân hàng, rủi ro đạo đức nảy sinh từ chính hoạt
động kinh doanh của ngân hàng và khách hàng sử dụng vốn của các NHTM. Hậu quả
của rủi ro đạo đức do hai chủ thể này gây nên lại do người gửi tiền vào ngân hàng và

không có khả năng trả nợ.
1.2.4. Nguyên nhân gây rủi ro trong cho vay doanh nghiệp
Hoạt động cho vay rất đa dạng do đối tượng vay, mục đích vay, thời hạn vay,
phương thức hoàn trả và khả năng hoàn trả là khác nhau. Do vậy, nguyên nhân gây rủi
ro cho vay cũng rất đa dạng, với mỗi món vay khác nhau khả năng xảy ra tổn thất là
khác nhau. Có 3 nguyên nhân chính gây ra rủi ro trong cho vay: nguyên nhân khách
quan, nguyên nhân từ phía doanh nghiệp và nguyên nhân do chính ngân hàng.
1.2.4.1. Nguyên nhân khách quan
Đây là những nguyên nhân gây nên rủi ro cho hoạt động CVDN của ngân hàng
do môi trường bên ngoài tác động vào. Nguyên nhân này xuất hiện đột ngột, khó đoán,
khó kiểm soát, nó thường gây ra những thiệt hại lớn cho khách hàng và ngân hàng. Nó
bao gồm các nguyên nhân cụ thể sau:
Chính sách của Chính phủ
Mỗi nền kinh tế có biến động thì ngay lập tức Nhà nước phải đưa ra các chính
sách kinh tế mới phù hợp với điều kiện hiện hành nhằm hạn chế những ảnh hưởng xấu
tới toàn bộ nền kinh tế. Các chính sách của Nhà nước thường xuyên quan tâm và có sự
thay đổi kịp thời gồm có:
+ Chính sách tiền tệ: NHNN sử dụng các công cụ như: lãi suất chiết khấu, tỷ
lệ dự trữ bắt buộc, nghiệp vụ thị trường mở… để điều chỉnh mức cung tiền tệ khi có
biến động xảy ra. Cụ thể là khi NHNN giảm lãi suất sẽ gây ảnh hưởng xấu đến hoạt
động kinh doanh ngân hàng như: các khoản cho vay cũ của ngân hàng đang cho vay
với mức lãi suất cao thì đột xuất phải giảm xuống làm cho lợi nhuận của ngân hàng
giảm xuống, dẫn đến sự sai lệch trong các bản dự toán chi phí thu nhập của ngân hàng
và thay đổi chiến lược kinh doanh của ngân hàng có thể gây rủi ro khi ngân hàng ở thế
bị động.
22
+ Chính sách đầu tư phát triển: Đây là những chính sách mà khi Nhà nước
điều chỉnh sẽ gây ảnh hưởng trực tiếp cho các NHTM, thường là những ảnh hưởng
không tích cực cho hoạt động kinh doanh của NHTM: ảnh hưởng đến hoạt động cho
vay, ảnh hưởng đến hoạt động đầu tư…

người vay giảm sút. Tùy vào mức độ nghiêm trọng của khủng hoảng mà việc ảnh
23
hưởng đến các doanh nghiệp cũng như khả năng thanh toán các khoản nợ của họ ở
mức khác nhau.
1.2.4.2. Nguyên nhân thuộc về chủ quan người vay
Các yếu tố chủ quan từ phía doanh nghiệp vay vốn như: khả năng kinh doanh
yếu kém hay doanh nghiệp có hành vi lừa đảo, vi phạm pháp luật… cũng có thể gây ra
các tổn thất cho ngân hàng. Trong trường hợp này, nếu ngân hàng cho vay phát hiện ra
sớm thì rủi ro có thể được ngăn chặn.
Nguyên nhân rủi ro từ phía người vay rất đa dạng, nhưng đối với CVDN thì
nguyên nhân tập trung ở một số loại chính sau:
Thiệt hại từ phía thị trường đầu vào: Giá cả của các yếu tố đầu vào tăng cùng
với các chi phí phục vụ cho sản xuất tăng làm giảm đi nguồn thu dự tính của doanh
nghiệp, vì thế việc trả nợ cho ngân hàng sẽ gặp nhiều khó khăn.
Do thị trường đầu ra: Thị trường đầu ra nếu có những biến động phức tạp, giá
cả giảm xuống thấp cũng sẽ làm nguồn thu của khách hàng giảm xuống. Ngoài ra, sự
thay đổi thị hiếu tiêu dùng, cung vượt quá cầu, hoạt động marketing yếu kém… cũng
gây nên tình trạng ứ đọng sản phẩm làm ảnh hưởng tới nguồn trả nợ cho ngân hàng
của khách hàng.
Rủi ro về khả năng tài chính của khách hàng: Nguồn vốn tự có thấp hay thu
nhập của khách hàng không ổn định, khách hàng sẽ không có khả năng tự khôi phục
khi gặp khó khăn vì vậy cũng sẽ mất khả năng thanh toán nợ cho ngân hàng.
Ý thức trả nợ: ý thức trả nợ của bên đi vay nhiều khi chưa tốt, nhiều khách
hàng sau khi nhận được tiền vay đã bỏ trốn gây ra thiệt hại nghiêm trọng cho ngân
hàng. Hoặc đơn giản hơn, để đạt mục đích được vay vốn ngân hàng, nhiều khách hàng
sẵn sàng tìm mọi thủ đoạn để ứng phó với ngân hàng như mua chuộc hoặc cung cấp
các báo cáo tài chính sai lệch. Trong trường hợp này, nếu không phát hiện ra, ngân
hàng sẽ đánh giá sai về khả năng tài chính của khách và cho vay vốn với khối lượng và
thời gian không hợp lý, dẫn đến rủi ro tiềm ẩn là rất cao.
1.2.4.3. Nguyên nhân thuộc về ngân hàng

kiểm tra, giám sát khách hàng. Bên cạnh đó, ngân hàng còn quá nhấn mạnh vào lợi
nhuận và phát triển mà sao nhãng sự an toàn của các khoản vay dẫn đến việc khách
hàng không sử dụng vốn đúng mục đích, tình hình SXKD không hiệu quả ảnh hưởng
đến khả năng trả nợ cho ngân hàng. Hơn nữa, ngân hàng còn thiếu kinh nghiệm trong
việc ngăn ngừa và hạn chế rủi ro, từ đó chưa có biện pháp xử lý kịp thời làm cho mức
độ rủi ro tăng cao.
1.3. Quản trị rủi ro trong cho vay doanh nghiệp
1.3.1. Khái niệm quản trị rủi ro trong cho vay doanh nghiệp
Để đạt được mục tiêu hạn chế tối đa rủi ro có thể xảy ra thì mỗi ngân hàng đều
có những cách thức quản trị khác nhau. Hiện nay, có khá nhiều nguồn tài liệu đề cập
đến khái niệm quản trị.
Theo Koontz O’ Donnel trên Wikipedia.org: “Quản trị là thông qua nhiệm vụ
của nó, cho rằng nhiệm vụ cơ bản của quản trị là “thiết kế và duy trì một môi trường
mà trong đó các cá nhân làm việc với nhau trong các nhóm có thể hoàn thành các
nhiệm vụ và các mục tiêu đã định”.
25

Trích đoạn Tình hình dư nợ cho vay phân theo nhóm nợ Thực trạng quản trị rủi ro trong cho vay doanh nghiệp tại Chi nhánh Ngân hàng Nông Nghiệp Và Phát Triển Nông Thôn Hà Thành giai đoạn năm 2009 – Các chỉ tiêu định tính Nợ quá hạn, nợ xấu trong cho vay doanh nghiệp giai đoạn năm 2009 – Vòng quay vốn cho vay doanh nghiệp giai đoạn 2009 –
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status