1. Tên tình huống:
"Một số biện pháp xử lý nước, chất thải từ quá trình chế biến tinh bột Dong
riềng trên địa bàn xã Yên Nguyên"
Trong đời sống của con người trên Trái Đất, nước đóng vai trò vô cùng
quan trọng. Nước phục vụ cho nhu cầu sinh hoạt, nâng cao đời sống tinh thần
của người dân, là nhu cầu thiết yếu của cây trồng, điều tiết chế độ nhiệt, ánh
sáng, chất dinh dưỡng, vi sinh vật… Nước là yếu tố cực kì quan trọng trong sản
xuất công nghiệp.
Trong đời sống, sản xuất hằng ngày nhân dân trên địa bàn xã Yên Nguyên
phụ thuộc rất nhiều vào nguồn nước từ các dòng suối tự nhiên, thời gian gần đây
nguồn nước của các con suối đang bị ô nhiễm rất nghiêm trọng, nguyên nhân
chủ yếu là do nguồn nước thải từ quá trình chế biến tinh bột Dong riềng của
người dân không qua xử lý được xả trực tiếp ra các dòng suối.
Hãy lên tiếng để góp phần bảo vệ môi trường, bảo vệ nguồn nước để các
con suối của chúng ta luôn được trong sạch bằng các hành động thiết thực.
2. Mục tiêu giải quyết tình huống
- Tìm hiểu, đánh giá thực trạng về mức độ ô nhiễm của các dòng suối do
nước thải từ quá trình chế biến tinh bột Dong riềng.
- Nâng cao sự hiểu biết của học sinh, của gia đình trong việc bảo vệ môi
trường, bảo vệ nguồn nước.
- Đề xuất một số biện pháp về:
+ Sử dụng nguồn tài nguyên nước phục vụ sản xuất một cách khoa học,
hiệu quả và an toàn.
+ Quy hoạch, xây dựng các khu chế biến bột Dong riềng tập trung, các
biện pháp xử lý nguồn nước sản xuất trước khi thải ra môi trường.
+ Tận dụng nguồn chất thải từ quá trình chế biến bột Dong riềng để sản
xuất phân bón hữu cơ phục vụ cho sản xuất nông nghiệp, làm thức ăn chăn nuôi.
3. Tổng quan về các nghiên cứu liên quan đến việc giải quyết tình
huống
a. Phạm vi nghiên cứu: Nghiên cứu thực tế mức độ ô nhiễm tại các dòng
Trong những năm gần đây trên địa bàn xã Yên Nguyên cây Dong riềng là
một loại cây trồng mới được đưa vào sản xuất, đem lại hiệu quả kinh tế cao góp
phần phát triển kinh tế của nhân dân trong xã.
Năm 2013 toàn xã có 150 Ha diện tích đất được trồng Dong riềng, sản
lượng bình quân đạt 100 tấn/1Ha, sản lượng Dong toàn xã đạt khoảng 15.000
tấn.
2
Trên địa bàn xã có 30 cơ sở chế biến tinh bột Dong riềng.
Tất cả các cơ sở chế biến đều nhỏ lẻ, không tập trung, chưa có hệ thống xử
lý nước thải.
3
Nguồn nước thải được xả trực tiếp
ra các dòng suối gây ô nhiễm môi
trường, bốc mùi hôi thối, làm chết
các loài động, thực vật sống trong
nước.
Để chế biến 1 tấn Dong riềng củ
thành tinh bột cần sử dụng 2m
2
nước,
như vậy mỗi năm để chế biến 15.000
tấn Dong củ đã có 30.000m
2
nước
chưa qua xử lý được thải trực tiếp
vào các dòng suối.
Các cơ sở sản xuất chưa tận dụng nguồn bã thải trong quá trình chế biến,
lượng bã thải chiếm khoảng 10% trên tổng số Dong củ được chế biến, mỗi năm
có khoảng 1.500 tấn bã thải được đổ ra môi trường.
Trong thành phần nước thải từ quá trình chế biến bột Dong và nước thải
trường.
6
2.2. Xây dựng hệ thống xử lý nước thải tại những cơ sở chế biến nhỏ lẻ
theo phương pháp: “Nước thải khi chế biến dong riềng được thu gom vào bể
điều hoà, bể xử lý sinh học, bể xử lý hoá chất, bể lắng rồi chuyển ra bể thuỷ sinh
và nước thải ra môi trường đạt tiêu chuẩn QCVN 40/2011 của Bộ Tài nguyên và
Môi trường. Mặt khác, bùn thải được tái sử dụng bằng cách trộn với bã dong
riềng rồi ủ với chế phẩm vi sinh để làm phân bón”.
2.3. Xử lý bã Dong riềng làm phân bón Sinh học phục vụ cho sản xuất
nông nghiệp:
Bước 1: Xử lý sơ bộ bã dong riềng là quá trình làm giảm bớt độ ẩm, nước
sau đó trộn đều với 10 kg vôi cho 1 tấn bã Dong riềng và sau đó vun thành đống
và ủ cho ngấm bớt chua (độ pH đạt trung tính).
Bước 2: Phối trộn bã dong riềng với các chất dinh dưỡng gồm các thành
phần và chế phẩm cho 1 tấn bã dong: Đạm urê 5 kg, Lân 15 kg, Kali 3 kg, Rỉ
mật 3 kg, Chế phẩm 200g, sau khi phối trộn tiến hành ủ làm phân.
Bước 3: Đảo trộn đống ủ. Trong quá trình ủ thường tiến hành đảo trộn 2
lần để làm cho các vi sinh vật và các thành phần dinh dưỡng được trộn đều hơn
trong đống ủ, những thành phần chưa phân huỷ sẽ được phân huỷ tiếp. Quá trình
ủ hữu cơ diễn ra trong khoảng 30 - 40 ngày. Sản phẩm sau khi ủ có thể bón
7
ruộng và các loại cây trồng thay phân hoá học.
(Tập huấn kỹ thuật chế biến bã Dong riềng thành phân bón sinh học)
2.4. Xử lý bã Dong riềng chế biến thành thức ăn chăn nuôi
Sử dụng kỹ thuật ủ chua bã dong riềng bằng việc bổ sung thêm nguồn tinh
bột rẻ tiền sản xuất tại chỗ (bột sắn, bột ngô, cám gạo) để làm thức ăn nuôi trâu
bò.
(Ủ chua bã Dong riềng làm thức ăn chăn nuôi)
Nếu tận dụng được nguồn bã thải từ quá trình chế biến tinh bột Dong và
chế biến thành phân bón Sinh học và thức ăn chăn nuôi trâu bò thì hàng năm sẽ
P.HIỆU TRƯỞNG
9
Ngô Gia Phúc
10