LỜI MỞ ĐẦU
Trên thế giới, ở tất cả các quốc gia, và các nền kinh tế, vai trò của
các tổ chức tín dụng là hết sức quan trọng và đặc biệt. Nắm được yếu tố
này nên ngay từ khi nước ta mới giành được độc lập và thực hiện công
cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội, Đảng và Nhà nước ta đã quan tâm đến
việc xây dựng hệ thống các tổ chức tín dụng của chế độ mới. Trong
khoảng 20 năm trở lại đây, từ khi đổi mới nền kinh tế (Đại hội Đảng VI -
năm 1986), nền kinh tế nước ta luôn đạt mức tăng trưởng cao so với khu
vực. Với mức tăng trưởng như vậy, nhu cầu về vốn cho nền kinh tế luôn
là một bài toán lớn của Chính phủ. Hơn nữa, trong điều kiện nước ta hiện
nay, đầu tư nước ngoài chưa đạt mức như kế hoạch, nhiều nơi còn có dấu
hiệu giảm sút, thì chủ trương dựa vào nguồn vốn trong nước là hết sức
đúng đắn và cần được thực hiện một cách triệt để. Tuy nhiên, các kênh
huy động vốn trong nước còn hẹp: thị trường chứng khoán mới được hình
thành và chưa thật sự trở thành kênh cung cấp vốn hiệu quả cho nền kinh
tế; phần lớn các doanh nghiệp có năng lực tài chính còn yếu kém, hoạt
động chủ yếu dựa trên nguồn vốn vay từ các tổ chức tín dụng. Từ đó, có
thể khẳng định tín dụng ngân hàng đang và sẽ còn tiếp tục là một kênh
cung cấp vốn quan trọng cho nền kinh tế Việt Nam trong tương lai gần.
Nhưng làm sao để đảm bảo an toàn cho hệ thống các tổ chức tín dụng
trong giai đoạn hiện nay, để có được hệ thống các tổ chức tín dụng vững
mạnh, một nền kinh tế ổn định, hướng tới phát triển trong tương lai?
Chắc chắn, câu trả lời không thể có được ngày một ngay hai.
Vậy, ta hãy xem thực tiễn pháp luật Ngân hàng nước ta đã có
những quy định gì về vấn đề đảm bảo an toàn cho các tổ chức tín dụng,
những quy định đó như thế nào, và đã đảm bảo an toàn cho các tổ chức
tín dụng hay chưa? Với đề tài “Các hạn chế nhằm đảm bảo an toàn cho
tổ chức tín dụng theo quy định của pháp luật” chúng em sẽ có cơ hội
được tiếp cận với "hành lang pháp lí" cho các tổ chức tín dụng từ đó đánh
giá hiệu quả của nó với hoạt động của tổ chức tín dụng nói riêng, và của
cả nền kinh tế nói chung.
thêm tại Điều 6 Luật các TCTD 2010), các tổ chức tín dụng được thành lập
và hoạt động dưới các hình thức pháp lý như TCTD cổ phần, TCTD nhà
nước, TCTD hợp tác, TCTD có vốn đầu tư nước ngoài, hợp tác xã. Theo
luật doanh nghiệp các loại hình trên đều có tư cách pháp nhân. TCTD đáp
ứng hầu hết các điều kiện theo quy định tại điều 84 Bộ luật dân sự (điều
kiện được công nhận pháp nhân), như được cơ quan nhà nước có thẩm
quyền cấp giấy phép thành lập; có cơ cấu chặt chẽ; có tài sản độc lập; nhân
danh mình tham gia các quan hệ pháp luật.
Một đặc điểm nổi bật nữa của TCTD là đối tượng kinh doanh của nó
chính là tiền tệ và cung ứng dịch vụ ngân hàng. Có thể khẳng định, đối
2
tượng kinh doanh trực tiếp của các tổ chức tín dụng chính là tiền tệ. Các
TCTD hoạt động kinh doanh chủ yếu theo phương thức nhận tiền gửi, sử
dụng tiền gửi để cấp tín dụng, cho vay lại, cung cấp các dịch vụ thanh toán.
Đặc điểm cuối cùng. đó chính là việc TCTD chịu sự quản lý của ngân
hàng nhà nước Việt Nam. Đồng thời, luật ngân hàng nhà nước Việt Nam
còn nêu rõ một trong những nhiệm vụ, quyên hạn của nhân hàng nhà nước
Việt Nam là cấp, thu hồi giấy phép thành lập và hoạt động của các TCTD,
trừ trường hợp do thủ tướng Chính phủ quyết định. Ngoài ra, Pháp luật ngân
hàng cũng ghi nhận việc cấp, thu hồi giấy phép thành lập và hoạt động ngân
hàng của các tổ chức khác cũng thuộc thẩm quyền của ngân hàng nhà nước
Việt Nam.
II. CÁC HẠN CHẾ NHẰM ĐẢM BẢO AN TOÀN CHO TỔ CHỨC
TÍN DỤNG THEO QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT
1. Hoạt động huy động vốn
a) Khái niệm huy động vốn:
Theo nghĩa chung nhất huy động vốn là việc các TCTD tập trung
những giá trị tiền tệ từ các tổ chức kinh tế và các cá nhân trong xã hội
thông qua quá trình thực hiện các nghiệp vụ tín dụng, thanh toán, các
nghiệp vụ kinh doanh khác và được dùng làm vốn để kinh doanh. Huy
với số lượng lớn. Mặt khác, các TCTD huy động vốn mà không sử dụng
vốn đó một cách có hiệu quả, để thất thoát vốn sẽ dẫn đến tình trạng mất
khả năng chi trả, thanh toán cho người gửi tiền, từ đó gây tâm lý hoang
mang cho những người gửi tiền khác khiến họ đồng loạt tới các TCTD rút
tiền, đẩy các TCTD khác vào tình trạng thiếu khả năng chi trả. Điều đó
dẫn đến sự đổ vỡ toàn bộ hệ thống TCTD, gây ra khủng hoảng về tài
chính- tiền tệ, gây mất ổn định kinh tế. Dân chúng mất lòng tin vào các
TCTD, nguồn vốn nhàn rỗi không được tập trung cho đầu tư phát triển,
nền kinh tế khó mà phát triển được. Bởi vậy, hoạt động huy động vốn cần
phải được Nhà nước quản lý chặt chẽ.
Ngoài ra, để bảo vệ quyền lợi cho các chủ thể khác trong hoạt
động huy động vốn, đồng thời nhằm tạo điều kiện thuận lợi, an toàn cho
các TCTD trong quá trình huy động vốn cần thiết phải có sự điều chỉnh
của pháp luật. Mặt khác, thông qua việc điều chỉnh bằng pháp luật đối với
hoạt động huy động vốn của các TCTD, Nhà nước có thể kiểm soát được
tình hình hoạt động kinh doanh của các TCTD, từ đó kịp thời có biện
pháp xử lý, giúp TCTD thoát khỏi tình trạng khó khăn về tài chính.
c) Hạn chế đối với hoạt động huy động vốn của các Tổ chức tín dụng
ở Việt Nam
Pháp luật về quản lý nhà nước đối với hoạt động ngân hàng nói
chung và hoạt động huy động vốn của các TCTD nói riêng được quy định
khá chi tiết, đầy đủ trong nhiều văn bản pháp luật khác nhau như: Luật
các tổ chức tín dụng 1997, sửa đổi bổ sung năm 2004; Luật Ngân hàng
Nhà nước Việt Nam và các văn bản pháp luật khác có liên quan. Các văn
bản này đã xác định rõ chức năng và nhiệm vụ của từng cơ quan.
Việc quản lý hoạt động huy động vốn của các TCTD nhằm xây
dựng môi trường pháp lý rõ ràng, thống nhất; tạo ra hành lang pháp lý
cho các TCTD hoạt động hiệu quả; tạo lập môi trường kinh tế vĩ mô ổn
định, kiềm chế lạm phát, ổn định giá trị đồng tiền; xây dựng hệ thống tài
chính- tiền tệ ổn định từ đó tạo điều kiện thuận lợi cho việc huy động vốn
dịch vụ ngân hàng. Nhìn chung các văn bản pháp luật do Nhà nước ban
hành quy định về hoạt động huy động vốn bằng nhận tiền gửi của các
TCTD là tương đối đầy đủ và chặt chẽ, cụ thể hoá được các nội dung
như: Các loại tiền gửi mà TCTD được phép huy động; giới hạn quyền
được nhận các loại tiền gửi đối với từng loại hình TCTD; quy định quyền
và nghĩa vụ của các bên trong quan hệ tiền gửi; quy định trách nhiệm của
TCTD khi huy động vốn bằng nhận tiền gửi; quy định về quản lý Nhà
nước đối với hoạt động huy động vốn bằng nhận tiền gửi; cùng các nội
dung có liên quan khác Về cơ bản Nhà nước đã thiết lập được một hành
lang pháp lý tương đối đầy đủ và thông thoáng, tạo điều kiện thuận lợi
cho TCTD tiến hành các hoạt động kinh doanh trong khuôn khổ của pháp
luật, tạo ra môi trường cạnh tranh lành mạnh cho các TCTD trong tiến
trình hội nhập. Đồng thời pháp luật cũng hướng tới quyền lợi của mọi
người dân, đáp ứng tốt hơn nhu cầu gửi tiền và sử dụng các dịch vụ ngân
5
hàng, lựa chọn hình thức gửi tiền phù hợp với mục đích và yêu cầu của
họ, tạo niềm tin cho người gửi tiền; tạo ra cơ sở pháp lý cho Ngân hàng
Nhà nước thực hiện chức năng quản lý của mình đối với hoạt động ngân
hàng nói chung và hoạt động huy động vốn nói riêng.
* Các quy định của pháp luật về huy động vốn bằng việc phát hành các
giấy tờ có giá
Trong giai đoạn hiện nay, phát hành giấy tờ có giá là một kênh huy
động vốn không kém phần quan trọng đối với các TCTD. Hoạt động này
đã được pháp luật quy định tại Điều 46 Luật các tổ chức tín dụng 1997 và
Luật sửa đổi bổ sung một số điều của Luật các tổ chức tín dụng 2004 và
một số văn bản pháp luật liên quan. Các quy định về phát hành giấy tờ có
giá để huy động vốn của các TCTD đã tạo ra một hành lang pháp lý cần
thiết để các TCTD có thể thực hiện tốt hoạt động này. Chi tiết về vấn đề
này, Quyết định số 02/2005/ QĐ-NHNN, cũng đã quy định rõ ràng về
mệnh giá, thời hạn, thủ tục phát hành giấy tờ có giá. Ngoài ra còn đưa ra
Hoạt động này được pháp luật quy định tại nhiều văn bản khác
nhau như Điều 20 Luật Ngân hàng Nhà nước 1997; Điều 48 Luật các
TCTD 1997. Tiếp đó là các văn bản cụ thể các điều khoản trên như:
Quyết định 1452/2003/QĐ-NHNN về việc ban hành Quy chế cho vay có
bảo đảm bằng cầm cố giấy tờ có giá của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam
đối với các ngân hàng; Quyết định số 898/2003/QĐ-NHNN ngày
12/08/2003 về việc ban hành quy chế chiết khấu, tái chiết khấu của Ngân
hàng Nhà nước đối với các ngân hàng Các văn bản này tập trung quy
định hình thức tái cấp vốn của Ngân hàng Nhà nước cho các TCTD là
ngân hàng. Bao gồm: Cho vay lại theo hồ sơ tín dụng, cho vay có bảo
đảm bằng cầm cố thương phiếu và các giấy tờ có giá khác; chiết khấu, tái
chiết khấu thương phiếu và các giấy tờ có giá khác.
Một số hạn chế có thể thấy ở đây, cụ thể tại Điều 11 Quyết định số
898/2003/QĐ-NHNN, đã quy định các trường hợp không chấp nhận chiết
khấu của Ngân hàng nhà nước, thêm vào đó là các hạn mức cho vay hay
đối tượng cho vay cũng có những quy định giới hạn nhất định.
2. Hoạt động sử dụng vốn (cấp tín dụng)
a) Khái niệm:
Tham khảo quy định tại khoản 14 điều 4 Luật các tổ chức tín dụng
2010 (sẽ có hiệu lực vào năm 2011), cấp tín dụng được giải thích như
sau: "Cấp tín dụng là việc thỏa thuận để tổ chức, cá nhân sử dụng một
khoản tiền hoặc cam kết cho phép sử dụng một khoản tiền theo nguyên
tắc có hoàn trả bằng nghiệp vụ cho vay, chiết khấu, cho thuê tài chính,
bao thanh toán, bảo lãnh ngân hàng và các nghiệp vụ cấp tín dụng khác"
Một trong số những nghiệp vụ quan trọng nhất của cấp tín dụng đó
là cho vay. Trong nền kinh tế thị trường, mỗi một tổ chức hay cá nhân
đều phải có hoặc tự tìm kiếm cho mình một nguồn vốn nhất định để tham
gia vào các quan hệ mua bán, trao đổi hay đầu tư Cho vay khác với các
hình thức cấp tín dụng: chiết khấu, bảo lãnh, cho thuê tài chính. Trong
nghiệp vụ cho vay, các ngân hàng giao một khoản tiền nhất định trong
ro đe doạ từ cuộc cạnh tranh không cân sức như vậy. Đồng thời, với tính
chất kinh doanh kéo dài của quan hệ tín dụng, tạo ra những khoản vay lâu
dài nên khả năng thu hồi vốn khi kết thúc thời hạn vay cũng không chắc
chắn. Các TCTD phải luôn đối mặt với những rủi ro trong quá trình kinh
doanh.
Trong quan hệ cho vay, chủ yếu là dựa vào công tác thẩm định,
thu thập xử lý thông tin và dự đoán thị trường. Hiện nay, trình độ nghiệp
vụ của các TCTD của các cán bộ còn non yếu cũng như chế độ kiểm soát
thông tin chưa thật sự có hiệu quả nên việc quản lý rủi ro cũng thật sự
khó khăn.
Từ các lý do trên, chúng ta có thể nhận ra rằng hoạt động kinh
doanh của các TCTD cũng như hoạt động cho vay luôn chứa đựng những
rủi ro. Những rủi ro này rất đa dạng có thể là do tự nhiên, do nền kinh tế
cũng như do chính bản thân các chủ thể trong quan hệ tín dụng. Trong số
đó, có những rủi ro mang tính khách quan, không thể kiểm soát được, và
những rủi ro mang tính chủ quan có thể hạn chế, khắc phục hoặc hạn chế
được. Pháp luật được đưa ra với chức năng là nhằm hạn chế tối đa những
rủi ro có thể kiểm soát được.
Vì vậy,an toàn trong hoạt động cho vay của các TCTD nhằm góp
8
phần ổn định tài chính quốc gia, là cơ sở để phát triển nền kinh tể và hội
nhập với kinh tế thế giới. Các TCTD là bộ phận chủ yếu trong các trung
gian tài chính, nên đảm bảo an toàn trong hoạt động cho vay của các
TCTD sẽ là một nội dung quan trọng để giữ cho nền tài chính quốc gia
được ổn định. Nếu các TCTD thật sự phát triển, ổn định và nâng cao hiệu
quả hoạt động thì sẽ đóng vai trò then chốt và quan trọng cho việc cung
ứng vốn, góp phần tăng trưởng cho nền kinh tế. Chính vì vậy, yêu cầu
pháp luật cần phải quy định những biện pháp bảo đảm cần thiết duy trì ổn
định cho hoạt động kinh doanh của của các TCTD, góp phần khắc phục
hạn chế những hậu quả xấu có thể xảy ra. Đồng thời thông qua các quy
pháp luật.
9
Hạn chế thứ hai được đề cập tới đó là đối tượng được các TCTD
cấp tín dụng.
Theo luật Việt Nam, trong Quy chế cho vay 1627/2001/QĐ-
NHNN, quy định tại điều 7 về điều kiện vay vốn,TCTD xem xét và quyết
định cho vay khi khách hàng có đủ các điều kiện: có năng lực pháp luật
dân sự, năng lực hành vi dân sự và chịu trách nhiệm dân sự theo quy định
của pháp luật, mục đích sử dụng vốn vay hợp pháp, có dự án đầu tư,
phương án sản xuất kinh doanh, dịch vụ khả thi và có hiệu quả hoặc dự
án đầu tư, phương án sản xuất phục vụ đời sống khả thi kèm theo phương
án trả nợ khả thi, thực hiện các quy định về bảo đảm tiền vay theo quy
định của Chính phủ và hướng dẫn của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam.
Quy chế cho vay 1627 đã có bổ sung thêm một loại khách hàng mới so
với các quy chế trước kia; đó là các pháp nhân và cá nhân nước ngoài có
đủ năng lực pháp luật dân sự và năng lực hành vi dân sự theo quy định
của pháp luật. Đây là một quy định mới theo hướng mở rộng khách hàng
vay phù hợp với thực tế và thông lệ quốc tế.
Ngoài ra, Điều 19 Quy chế cho vay 1627 xác định rõ những trường
hợp mà TCTD không được cho vay đó là: thành viên hội đồng quản trị,
ban kiểm soát, Tổng giám đốc (Giám đốc), Phó tổng giám đốc (Phó giám
đốc) của TCTD, cán bộ nhân viên của chính TCTD đó thực hiện nhiệm
vụ thẩm định, quyết định cho vay, bố, mẹ, vợ, chồng, con của thành viên
Hội đồng quản trị, ban kiểm soát, Tổng giám đốc (Giám đốc), Phó tổng
giám đốc (Phó giám đốc).Và các trường hợp hạn chế cho vay tại điều 20
của quy chế này “ Tổ chức tín dụng không được cho vay không có bảo
đảm, cho vay với những điều kiện ưu đãi về lãi suất, về mức cho vay đối
với những đối tượng sau đây:
1. Tổ chức kiểm toán, Kiểm toán viên có trách nhiệm kiểm toán
tại tổ chức tín dụng cho vay; Thanh tra viên thực hiện nhiệm
TCTD,giúp các TCTD hoạt động hiệu quả.Những điều kiện đối với khách
hàng là một đảm bảo an toàn đối với hoạt động cho vay.Tuy nhiên,điều
đó chỉ có ý nghĩa với khách hàng vay,còn việc cho vay hay không, quyền
quyết định thuộc về các TCTD. Những trường hợp mà luật quy định thêm
như vậy phần nào "miễn dịch" cho các TCTD trước những hậu qủa pháp
lí xấu mai sau, hạn chế bớt rủi ro khi TCTD tiến hành cấp tín dụng cho
các chủ thể khác, đồng thời sử dụng nguồn vốn cho vay một cách hợp lí
và hiệu quả.
Hạn chế tiếp theo mà pháp luật có quy định đối với hoạt động cấp
tín dụng của các TCTD đó là việc cho vay trong giới hạn được pháp luật
quy định.
Theo quy định tại khoản 1, 2 điều 18 Quyết định 1627/2001/QĐ-
NHNN: tổng dư nợ cho vay đối với một khách hàng không được vượt
quá 15% vốn tự có của tổ chức tín dụng, trừ trường hợp đối với những
khoản cho vay từ các nguồn vốn uỷ thác của Chính phủ, của các tổ chức
và cá nhân. Tại Điều 128 Luật các TCTD 2010, còn quy định thêm về
vấn đề này : "Tổng mức dư nợ cấp tín dụng đối với một khách hàng và
người có liên quan không được vượt quá 25% vốn tự có của ngân hàng
thương mại, chi nhánh ngân hàng nước ngoài, quỹ tín dụng nhân dân, tổ
chức tài chính vĩ mô.". Không những vậy, việc các TCTD cấp tín dụng để
đầu tư, kinh doanh cổ phiếu của ngân hàng thương mại, chi nhánh ngân
hàng nước ngoài cũng đã có những giới hạn do Ngân hàng nhà nước quy
định.
Trường hợp nhu cầu vốn của một khách hàng vượt quá 15% vốn tự
có của tổ chức tín dụng hoặc khách hàng có nhu cầu huy động vốn từ
11
nhiều nguồn thì các tổ chức tín dụng cho vay hợp vốn theo quy định của
Ngân hàng Nhà nước Việt Nam. “Trong trường hợp đặc biệt, tổ chức tín
dụng chỉ được cho vay vượt quá mức giới hạn cho vay quy định tại
Khoản 1 Điều này khi được Thủ tướng Chính phủ cho phép đối với từng
đó, các TCTD phải duy trì tỷ lệ tối thiểu 25% giữa giá trị các tài sản “Có
“có thể thanh toán ngay và các tài sản "Nợ" sẽ đến hạn thanh toán trong
thời gian 1 tháng tiếp theo, tỷ lệ tối thiểu bằng 1 giữa tổng tài sản "Có" có
thể thanh toán ngay trong khoảng thời gian 7 ngày làm việc tiếp theo và
tổng tài sản "Nợ" phải thanh toán trong khoảng thời gian 7 ngày làm việc
tiếp theo.
Một loạt các tỷ lệ đảm bảo an toàn như tỷ lệ khả năng chi trả, tỉ lệ
12
an toàn vốn tối thiểu (Tổ chức tín dụng (trừ chi nhánh ngân hàng nước
ngoài) phải duy trì tỷ lệ tối thiểu 8% giữa vốn tự có so với tổng tài sản
“Có” rủi ro) tỉ lệ tối đa của nguồn vốn ngắn hạn, trạng thái ngoại tệ, vàng
tối đa, tỷ lệ dư nợ cho vay, tỷ lệ tiền gửi trung, dài hạn, tất cả đều đã có
mức tỷ lệ nhất định theo quy định của pháp luật.
Ngoài ra, hạn chế với quỹ dự phòng rủi ro cũng có những vai trò
nhất định trong việc đảm bảo an toàn cho hoạt động của TCTD. Được
quy định lần đầu tiên trong Luật các Tổ chức tín dụng 1997, các tổ chức
tín dụng phải dự phòng rủi ro trong hoạt động ngân hàng. Khoản dự
phòng rủi ro này phải được hạch toán vào chi phí hoạt động.Việc phân
loại tài sản "Có", mức trích, phương pháp lập khoản dự phòng và việc sử
dụng khoản dự phòng để xử lý các rủi ro trong hoạt động ngân hàng do
Thống đốc Ngân hàng Nhà nước quy định sau khi thống nhất với Bộ
trưởng Bộ tài chính. Hầu hết các TCTD phải thực hiện việc trích lập dự
phòng rủi ro tín dụng, đây sẽ là biện pháp hữu hiệu, là cứu cánh trong
những tính huống xấu xảy ra bất thường đối với các TCTD.
Ngoài hoạt động cho vay ra ta cũng nghiên cứu thêm về các nghiệp
vụ khác đã có những hạn chế mang tính tích cực nào từ phía các nhà làm
luật.
Trong hoạt động chiết khấu giấy tờ có giá của các TCTD, ngoài
những nguyên tắc đã nếu ra tại Điều 4 Quyết định số 1325/2004/QĐ-
NHNN mà các TCTD cần tuân thủ chặt chẽ, họ còn phải chú ý tới mức
3. Một số hoạt động khác của TCTD:
Đối với, giới hạn góp vốn, mua cổ phần, được luật quy định như
sau: "Mức góp vốn, mua cổ phần của tổ chức tín dụng trong một doanh
nghiệp, tổng mức góp vốn, mua cổ phần của tổ chức tín dụng trong tất cả
các doanh nghiệp không được vượt quá mức tối đa do Thống đốc Ngân
hàng Nhà nước quy định đối với từng loại hình tổ chức tín dụng." (Điều
80, Luật các TCTD 1997). Nếu tham khảo thêm, tịa điều 135, Luật các
TCTD 2010, ta còn thấy quy định về các trường hợp góp vốn, mua cổ
phần giữa các công ty con, công ty liên kếtm công ty kiểm soát, nhưng
chỉ giới hạn ở mức tham khảo ta sẽ không đi quá sâu vào quy định này.
Khi nghiên cứu trong luật các TCTD 2010, ta còn có thể thấy quy
định trong lĩnh vực kinh doanh bất động sản của các TCTD. Về cơ bản
TCTD không được kinh doanh bất động sản, tuy nhiên Điều 132 trong
luật vừa mang tính hạn chế lại có phần nới rộng một chút hoạt động của
TCTD. Điều luật đưa ra 3 trường hợp TCTD có thể kinh doanh bất động
sản, nhưng đều kèm theo những điều kiện nhất định. Điều này nhằm
tránh cho TCTD tập trung vào lĩnh vực hoạt động chính của mình, hơn là
lại kiêm thêm trách nhiệm, phạm vi kinh doanh mang nhiều tính rủi ro
không cần thiết.
Còn một số hoạt động khác của TCTD, những hạn chế theo quy
định của pháp luật cũng đã quy định rất rõ ràng và chi tiết. Nhưng hầu
hết, các hoạt động đó đều phải tuân thủ nghiêm ngặt theo những nguyên
tắc sẵn có của luật, thêm vào đó là những giới hạn chi tiết hơn trong từng
lĩnh vực hoạt động. Điều này đã góp phần không nhỏ đến sự "trôi chảy"
trong hoạt động của các TCTD mà phần nào cũng tạo ra một "bức tường"
bảo vệ cho các TCTD tránh khỏi những rủi ro, thiệt hại không đáng có,
dẫn đến phản ứng dây chuyền, ảnh hưởng xấu tới nền kinh tế đang phát
triển của nước ta hiện nay.
KẾT LUẬN
14