Website: Email : Tel : 0918.775.368
KINH TẾ VIỆT NAM
Việt Nam là một quốc gia nghèo và đông dân đang dần bình phục và phát
triển sau sự tàn phá của chiến tranh, sự mất mát viện trợ tài chính từ khối các
nước xã hội chủ nghĩa trước đây, và sự yếu kém của nền kinh tế tập trung. Chính
sách Đổi Mới năm 1986 thiết lập nền "kinh tế thị trường theo định hướng xã hội
chủ nghĩa". Các thành phần kinh tế được mở rộng nhưng các ngành kinh tế then
chốt vẫn dưới sự điều hành của Nhà nước. Sau năm 1986, kinh tế Việt Nam đã
có những bước phát triển to lớn và đạt được tốc độ tăng trưởng kinh tế trung
bình khoảng 9% hàng năm từ 1993 đến 1997. Tăng trưởng GDP 8,5% vào năm
1997 đã giảm xuống 4% vào năm 1998 do ảnh hưởng của sự kiện khủng hoảng
kinh tế Á châu năm 1997, và tăng lên đến 4,8% năm 1999. Tăng trưởng GDP
tăng lên từ 6% đến 7% giữa những năm 2000-2002 trong khi tình hình kinh tế
thế giới đang trì trệ. Hiện nay, giới lãnh đạo Việt Nam tiếp tục các nỗ lực tự do
hoá nền kinh tế và thi hành các chính sách cải cách, xây dựng cơ sở hạ tầng cần
thiết để đổi mới kinh tế và tạo ra các ngành công nghiệp xuất khẩu có tính cạnh
tranh hơn.
Việt Nam đã hoàn thành việc xin gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới
(WTO). Ngày 7 tháng 11 năm 2006, Việt Nam được phép gia nhập sau khi đã
kết thúc đàm phán song phương với tất cả các nước có yêu cầu (trong đó có
những nền kinh tế lớn như Hoa Kỳ, Liên minh châu Âu (EU), Nhật Bản, Trung
Quốc. Ngày 28 tháng 11, Quốc hội Việt Nam đã chính thức phê chuẩn Nghị
định thư gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới với tỷ lệ phiếu thuận 90,24 %
[1]. Việt Nam chính thức trở thành thành viên thứ 150 của tổ chức WTO ngày
11 tháng 1 năm 2007.
TÌNH HÌNH KINH TẾ - XÃ HỘI NĂM 2006
Năm 2006, kinh tế nước ta phát triển trong điều kiện trong nước và thế
giới có những sự kiện nổi bật: Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ X, Hội nghị
APEC 2006 tại Hà Nội thành công tốt đẹp, Việt Nam đã chính thức trở thành
thành viên của tổ chức thương mại thế giới (WTO). Bên cạnh đó, cũng có không
1
2
Website: Email : Tel : 0918.775.368
cân đối ngân sách từ hoạt động xuất nhập khẩu bằng 106,3%; thu viện trợ bằng
148%. Chi ngân sách Nhà nước năm 2006 bằng 108,4% dự toán cả năm, bảo
đảm được các kế hoạch chi cho đầu tư phát triển và chi thường xuyên. Bội chi
ngân sách Nhà nước cả năm bằng mức dự toán cả năm, trong đó 74,2% được bù
đắp bằng nguồn vay trong nước và 25,8% từ nguồn vay nước ngoài.
Nông, lâm nghiệp và thuỷ sản
Giá trị sản xuất khu vực nông, lâm nghiệp và thuỷ sản năm 2006 (theo giá
cố định) ước tính tăng 4,4% so với năm 2005, trong đó nông nghiệp tăng 3,6%;
lâm nghiệp tăng 1,2%; thuỷ sản tăng 7,7%.
Sản lượng lương thực có hạt năm 2006 ước tính đạt 39,65 triệu tấn, chỉ
tăng tăng 0,1% so với năm trước, tương đương với tăng thêm 26,4 nghìn tấn,
trong đó lúa 35,83 triệu tấn, giảm 0,1% và ngô 3,82 triệu tấn, tăng 0,9%. Sản
lượng lúa giảm nhẹ so với năm trước do diện tích giảm 4,8 nghìn ha và năng
suất chỉ tương đương năm trước. Lúa đông xuân 17,53 triệu tấn, tăng thêm 199,1
nghìn tấn, chủ yếu do diện tích tăng 1,6%. Lúa hè thu 9,71 triệu tấn, giảm 6,9%
(tương đương giảm 721,7 nghìn tấn), do giảm cả diện tích và năng suất (diện tích
giảm 26 nghìn ha và năng suất giảm 2,6 tạ/ha). Lúa mùa 8,58 triệu tấn, tăng
6,4% tương đương với tăng thêm 516,5 nghìn tấn, chủ yếu do năng suất tăng
thêm (trong đó miền Bắc tăng thêm 4,8 tạ/ha, miền Nam tăng thêm 0,5 tạ/ha).
Sản lượng một số cây hàng năm so với năm trước tăng, giảm với mức độ
khác nhau: khoai lang tăng 0,8%; sắn tăng 14,9%; đỗ tương giảm 11,8%; lạc
giảm 5%; rau các loại tăng 6,4%; mía tăng 4,9%... Do thời tiết thuận và giá thu
mua một số nông sản cho xuất khẩu như cao su, cà phê, chè, hồ tiêu tăng cao đã
kích thích người dân mở rộng sản xuất, tăng sản lượng: trong đó sản lượng cao
su tăng 13,4%, cà phê tăng 13,5%, hồ tiêu tăng 2,9%, chè tăng 7,4%; riêng cây
điều tuy diện tích tăng 14,4 nghìn ha (+4,1%) nhưng sản lượng giảm 2%. Diện
tích cây ăn quả tăng 7 nghìn ha so với cùng kỳ năm trước.
Chăn nuôi:
tấn, tăng 18,2%; tôm 354,6 nghìn tấn, tăng 8,4%.
Mặc dù bị ảnh huởng của bão,
4
Website: Email : Tel : 0918.775.368
lũ lớn, nhiều diện tích nuôi trồng thuỷ sản ven biển bị mất trắng hoặc giảm năng
suất, nhưng nuôi trồng thuỷ sản tăng khá do diện tích nuôi tăng 3,3%; các địa
phương tiếp tục đa dạng hóa đối tượng và hình thức nuôi theo hướng đạt hiệu quả
cao và phát triển bền vững, không những phục vụ cho xuất khẩu mà còn tiêu thụ
mạnh trên thị trường trong nước. Sản lượng thuỷ sản khai thác 2 triệu tấn, tăng
0,7% so với 2005, trong đó khai thác biển 1,81 triệu tấn, tăng 0,9%.
Sản xuất công nghiệp
Giá trị sản xuất công nghiệp theo giá so sánh 1994 ước tính đạt 490,82 nghìn
tỷ đồng, tăng 17% so với cùng kỳ năm trước, trong đó khu vực doanh nghiệp Nhà
nước tăng 9,1% (Trung ương quản lý tăng 11,9%; địa phương quản lý tăng 2%);
khu vực ngoài Nhà nước tăng 23,9%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài tăng
18,8% (Dầu mỏ và khí đốt giảm 6,5%, các ngành khác tăng 25,4%). Nguyên nhân
khu vực doanh nghiệp Nhà nước tăng thấp hơn, chủ yếu do giảm số doanh nghiệp,
giảm nhiều nhất là doanh nghiệp Nhà nước địa phương quản lý do tiếp tục thực
hiện triệt để hơn chủ trương của Nhà nước về đổi mới, sắp xếp lại doanh nghiệp
Nhà nước.
Trong ba ngành công nghiệp cấp I, giá trị sản xuất công nghiệp khai thác
chiếm 7,8% giá trị sản xuất công nghiệp, chỉ tăng 1,1% so với năm trước (chủ
yếu do dầu thô khai thác giảm 8,2% trong khi than sạch khai thác tăng 18,7%);
sản xuất, phân phối điện, ga và nước chiếm 5,7%, tăng 13% (trong đó sản lượng
điện tăng 13,4%); công nghiệp chế biến chiếm 86,4%, tăng 18,9% và đóng góp
chính vào tăng giá trị sản xuất công nghiệp 2006.
Trong công nghiệp chế biến, một số ngành chủ yếu giữ được tốc độ tăng
cao ổn định đã quyết định tốc độ tăng cao của toàn ngành công nghiệp so với
năm 2005 như: sản xuất thực phẩm và đồ uống tăng trên 17%; sản xuất các sản
phẩm từ da, giả da tăng 18,5%; sản xuất các sản phẩm từ gỗ, tăng trên 23%; sản