LỜI NÓI ĐẦU
Chất lượng sản phẩm vốn là một điểm yếu kém kéo dài nhiều năm ở nước
ta trong nền kinh tế KHHTT trước đây vấn đề chất lượng được đề cao và được
coi là mục tiêu quan trọng để phát triển kinh tế nhưng kết quả mang lại chưa
được là bao nhiêu do cơ chế tập trung quan liêu bao cấp đã phủ nhận nó trong
hoạt động cụ thể của thời gian cũ.
Trong mười năm lăm đổi mới tiến hành công cuộc đổi mới kinh tế xã hội
chất lượng đã quay về vị trí đúng với ý nghĩa. Người tiêu dùng họ là những
người lựa chọn những sản phẩm hàng hoá và dịch vụ đạt chất lượng không
những thế xuất phát từ nhu cầu người tiêu dùng các doanh nghiệp phải chú ý đến
nhu cầu người tiêu dùng mà bằng sự nhìn nhận và bằng những hành động mà
doanh nghiệp đã cố gắng đem đến sự thoả mãn tốt nhất có thể đem đến cho
người tiêu dùng. Sự thoả mãn người tiêu dùng đồng nghĩa với doanh nghiệp đã
thực sự nhận thức được tầm quan trọng của vấn đề chất lượng cao nhà quản lý
cũng đã tìm tòi những cơ chế mới để tạo ra những bước chuyển mới về chất
lượng trong thời kỳ mới về chất lượng trong thời kỳ mới.
Trong nền kinh tế thị trường với nền kinh tế nhiều thành phần cùng với sự
mở cửa vươn ngày càng rộng tới thế giới quanh ta làm cho sự cạnh tranh ngày
càng diễn ra một cách quyết liệt hơn. Các doanh nghiệp không những chịu sức
ép lẫn nhau hướng đến sự tồn tại, phát triển và vươn ra bên ngoài mà doanh
nghiệp còn chịu sức ép của bên hàng hoá nhập khẩu như sức ép chất lượng, giá
cả, dịch vụ… chính vì vậy các nhà quản lý coi trọng vấn đề chất lượng như là
gắn với sự tồn tại sự thành công của doanh nghiệp đó cũng chính là tạo nên sự
phát triển của nền kinh tế trong mỗi quốc gia.
Từ sự kết hợp hài hoà giữa lý luận và thực tiễn tôi đã thấy tầm quan trọng
của vấn đề quản lý chất lượng trong các doanh nghiệp công nhân Việt Nam từ
đó trong tôi nảy sinh đề tài "Quản lý chất lượng - thực trạng và một số giải
1
pháp nhằm áp dụng một cách hợp lý và hiệu quả hệ thống quản trị chất lượng
trong các DNCN Việt Nam".
Tôi hy vọng đề tài bản thân tôi tuy có những thiếu sót bởi tầm nhìn hữu
xuất phát từ quan điểm nhà quản lý: "Chất lượng sản phẩm trong sản xuất công
nghiệp là đặc tính sản phẩm phản ánh giá trị sử dụng của nó".
Ở quan điểm này thấy có sự phát triển hơn bởi lẽ nhà quản lý tìm thuộc
tính của sản phẩm người quản lý so sánh nhìn nhận sản phẩm thông qua thuộc
tính của sản phẩm. Ví dụ 2 chiếc ti vi màu sắc như nhau, độ nét, âm thanh thẩm
mỹ tương đối như nhau nhưng nếu chiếc tivi nào có độ bền hơn thì chiếc ti vi đó
có chất lượng cao hơn lúc này thuộc tính độ bền đánh giá một cách tương đối
chất lượng của sản phẩm.
3
Ta quay sang quan điểm của nhà sản xuất. Họ nhìn nhận vấn đề chất
lượng như thế nào, nhà sản xuất họ lại cho rằng: "Chất lượng là sự tuân thủ
những yêu cầu kinh tế, yêu cầu kỹ thuật và bảng thiết kế lập ra". Như vậy nhà
sản xuất cho rằng khi họ thiết kế sản phẩm nếu sản phẩm làm theo bảng thiết kế
thì sản phẩm của họ đạt chất lượng. Quan điểm này có lẽ cũng có mặt trái của nó
bởi lẽ nếu doanh nghiệp cứ đưa ra sản phẩm làm đúng theo bảng thiết kế thì lúc
đó có thể là phù hợp với nhu cầu của khách hàng cũng có thể sản phẩm đó
không phù hợp với nhu cầu của khách hàng ví dụ như sản phẩm của Samsung
Tivi hãng này vừa đưa ra sản phẩm đó là chiếc tivi màu ta có thể xem 2 kênh
truyền hình cùng một lúc, tính năng công dụng thật hoàn hảo. Như vậy với loại
ti vi đó thì chỉ phù hợp khách hàng giầu có mà khách hàng có khả năng thoả
mãn nhu cầu của họ.
Quan điểm người tiêu dùng: "Chất lượng là sự phù hợp với yêu cầu và
mục đích của người tiêu dùng".
Quan điểm này có lẽ có ưu thế của nó. Bởi lẽ doanh nghiệp luôn luôn phụ
thuộc vào nhu cầu người tiêu dùng ưu thế ở đây là doanh nghiệp có thể bán hàng
phù hợp trên từng thị trường khác nhau. Nếu doanh nghiệp áp dụng quan điểm
này ta thấy được sản phẩm có chất lượng cao giá cả cao thì sẽ tiêu thụ trên
những thị trường mà khách hàng có nhu cầu và có khả năng thoả mãn nhu cầu
của họ.
Chính vì vậy quan điểm này nhà sản xuất cần phải nắm bắt một cách cần
1.2. Các loại chất lượng sản phẩm
Trước hết ta xem xét đặc trưng cơ bản của chất lượng sản phẩm.
- Chất lượng là một phạm trù kinh tế xã hội - công nghệ tổng hợp. Ở đây
chất lượng sản phẩm được quy định bởi 3 yếu tố kinh tế, xã hội, kỹ thuật chúng
ta không được coi chất lượng chỉ đơn thuần là kỹ thuật hay kinh tế mà phải quan
tâm tới cả 3 yếu tố.
5
+ Chất lượng sản phẩm là một khái niệm có tính tương đối thường xuyên
thay đổi theo thời gian và không gian. Vì thế chất lượng luôn phải được cải tiến
để phù hợp với khách hàng với quan niệm thoả mãn khách hàng ở từng thời
điểm không những thế mà còn thay đổi theo từng thị trường chất lượng sản
phẩm được đánh giá là khách nhau phụ thuộc chặt chẽ vào điều kiện kinh tế văn
hoá của thị trường đó.
+ Chất lượng là khái niệm vừa trừu tượng vừa cụ thể.
Trừu tượng vì chất lượng thông qua sự phù hợp của sản phẩm với nhu
cầu, sự phù hợp này phụ thuộc vào nhận thức chủ quan của khách hàng.
Cụ thể vì chất lượng sản phẩm phản ánh thông qua các đặc tính chất
lượng cụ thể có thể đo được, đếm được. Đánh giá được những đặc tính này
mang tính khách quan vì được thiết kế và sản xuất trong giai đoạn sản xuất.
Chất lượng sản phẩm được phản ánh thông qua các loại chất lượng sau.
- Chất lượng thiết kế: là giá trị các chỉ tiêu đặc trưng của sản phẩm được
phác hoạ thông qua văn bản trên cơ sở nghiên cứu thị trường và đặc điểm sản
xuất và tiêu dùng. Đồng thời so sánh với các chỉ tiêu chất lượng của các mặt
hàng tương tự cùng loại của nhiều hãng nhiều công ty trong và ngoài nước.
- Chất lượng chuẩn: là giá trị các chỉ tiêu đặc trưng ở cấp có thẩm quyền,
phê chuẩn. Chất lượng chuẩn dựa trên cơ sở chất lượng nghiên cứu thiết kế của
các cơ quan nhà nước, doanh nghiệp để được điều chỉnh và xét duyệt.
- Chất lượng thực: Là giá trị các chỉ tiêu chất lượng sản phẩm thực tế đạt
được do các yếu tố nguyên, vật liệu, máy móc, thiết bị nhân viên và phương
pháp quản lý… chi phối.
+ Chỉ tiêu thống nhất hoá: Đặc trưng tính hấp dẫn các linh kiện phụ tùng
trong sản xuất hàng loạt.
+ Chỉ tiêu độ tin cậy: Đảm bảo thông số kỹ thuật làm việc trong khoảng
thời gian nhất định.
+ Chỉ tiêu độ an toàn: Đảm bảo thao tác an toàn đối với công cụ sản xuất
cũng như đồ dùng sinh hoạt gia đình.
7
+ Chỉ tiêu kích thước: gọn nhẹ thuận tiện trong sử dụng trong vận chuyển.
+ Chỉ tiêu sinh thái: Mức gây ô nhiễm môi trường.
+ Chỉ tiêu lao động: Là mối quan hệ giữa người sử dụng với sản phẩm. Ví
dụ: Công cụ dụng cụ phải được thiết kế phù hợp với người sử dụng để tránh ảnh
hưởng tới sức khoẻ và cơ thể.
+ Chỉ tiêu thẩm mỹ: Tính chân thật, hiện đại hoặc dân tộc, sáng tạo phù
hợp với quan điểm mỹ học chân chính.
+ Chỉ tiêu sáng chế phát minh: chấp hành nghiêm túc pháp lệnh bảo vệ
quyền sở hữu công nghiệp, quyền sáng chế phát minh.
Mục đích: Tôn trọng khả năng trí tuệ khuyến khích hoạt động sáng tạo áp
dụng có hiệu quả các thành tựu khoa học kỹ thuật vào sự nghiệp phát triển kinh
tế xã hội của đất nước, mở rộng quan hệ kinh tế, khoa học kỹ thuật đối với nước
ngoài.
- Hệ thống các chỉ tiêu kiểm tra đánh giá chất lượng sản phẩm trong sản
xuất kinh doanh.
Hệ thống chỉ tiêu này dựa trên các tiêu chuẩn nhà nước, tiêu chuẩn ngành
hoặc các điều khoản trong hợp đồng kinh tế: bao gồm các nhóm chỉ tiêu sau:
+ Nhóm chỉ tiêu sử dụng: Đây là nhóm mà người tiêu dùng quan tâm nhất
và thường dùng để đánh giá chất lượng sản phẩm.
Nhóm chỉ tiêu công dụng có những chỉ tiêu:
1) Thời gian sử dụng, tuổi thọ.
2) Mức độ an toàn trong sử dụng
3) Khả năng thay thế sửa chữa
Nhãn phải có tên, dấu hiệu, địa chỉ, ký hiệu, số hiệu, tiêu chuẩn chất
lượng của cơ quan, chủ quan và của sản phẩm. Chất lượng nhãn phải in dễ đọc,
không được mờ, phải bền.
Bao gói: Vật liệu của bao bì, số lượng sản phẩm trong bao gói, cách bao
gói, yêu cầu đối với phương tiện vận chuyển.
9
Bảo quản: Nơi bảo quản (điều kiện, nhiệt độ, độ ẩm) cách sắp xếp bảo
quản và thời gian bảo quản.
+ Nhóm các chỉ tiêu về nguyên tắc thủ tục: quy định những nguyên tắc
thủ tục, những yêu cầu cần thiết nhằm bảo quản cho quá trình hoạt động thống
nhất, hợp lý và có hiệu quả.
Nhóm này gồm có:
1) Những định mức và điều kiện kỹ thuật sử dụng sản phẩm.
2) Quy định trình tự thực hiện các thao tác
+ Nhóm chỉ tiêu kinh tế gồm có:
1) Chi phí sản xuất
2) Giá cả
3) Chi phí trong quá trình sử dụng sản phẩm.
Nhóm chỉ tiêu này rất quan trọng vì nó liên quan đến quyết định sản xuất
sản phẩm của doanh nghiệp, hiệu quả của doanh nghiệp và cả quyết định mua
sản phẩm của khách hàng.
1.4. Một số khái niệm liên quan đến quản trị chất lượng.
Nếu mục đích cuối cùng của chất lượng là thoả mãn nhu cầu khách hàng
thì quản trị chất lượng là tổng thể những biện pháp kỹ thuật, kinh tế hành chính
tác động lên toàn bộ quá trình hoạt động của tổ chức, để đạt được mục đích của
tổ chức với chi phí xã hội thấp nhất.
Tuỳ thuộc vào quan điểm nhìn nhận khác nhau của các chuyên giá, các
nhà nghiên cứu tuỳ thuộc vào đặc trưng của nền kinh tế mà người ta đã đưa ra
nhiều khái niệm khác nhau về quản trị chất lượng.
Nhưng một định nghĩa chính xác và đầy đủ nhất về quản trị chất lượng
lượng.
- Đảm bảo chất lượng: Là tập hợp các hoạt động có kế hoạch và có hệ
thống được thực hiện trong hệ thống chất lượng và được chứng minh đủ ở mức
11
cần thiết để tạo sự tin tưởng thoả đáng rằng đối tượng để tạo sự tin tưởng thoả
đáng rằng đối tượng sẽ hoàn thành đầy đủ các yêu cầu chất lượng.
- Cải tiến chất lượng: Là những hoạt động được thực hiện trong toàn bộ tổ
chức nhằm nâng cao hiệu quả và hiệu suất của các hoạt động và quá trình để tạo
thêm lợi ích cho cả tổ chức và khách hàng.
- Lập kế hoạch chất lượng: Là các hoạt động thiết lập mục tiêu và yêu cầu
chất lượng cũng như yêu cầu về thực hiện các yếu tố của hệ chất lượng.
- Hệ chất lượng: là cơ cấu tổ chức thủ tục quá trình và các nguồn lực cần
thiết để thực hiện quản lý chất lượng.
- Quản lí chất lượng tổng hợp:
* Mối quan hệ giữa quản trị chất lượng, đảm bảo chất lượng, kiểm soát
chất lượng và cải tiến chất lượng được mô tả qua hình vẽ sau:
- QTCL: Quản trị chất lượng
- DBCL: Đảm bảo chất lượng
- KSCL: Kiểm soát chất lượng
- CLCL: Cải tiến chất lượng.
* Phạm vi và mối quan hệ giữa khái niệm cơ bản trong lĩnh vực chất
lượng có thể được khái quát trong sơ đồ sau:
CC: Chính sách chất lượng
ĐKCL: Điều khiển chất lượng
ĐBCL: Đảm bảo chất lượng
ĐBCL
I
: Đảm bảo chất lượng nội bộ tổ chức
ĐBCL
N
Những tư tưởng lớn về điều khiển chất lượng quản lý chất lượng đã được
khơi nguồn từ Mỹ trong nửa đầu thế kỷ XX và dần được phát triển sang nước
khác thông qua các chuyên gia hàng đầu về quản trị chất lưoựng như: Shewart;
Deming, Juran; Feigen baun; Iskikawa, Groshy. Theo cách tiếp cận khác nhau
mà các chuyên gia nghiên cứu đưa ra những quan điểm của mình về quản trị
chất lượng.
* Tiến sĩ Deming: Đóng góp của Deming đối với vấn đề quản lí chất
lượng rất lớn. Nhiều người cho ông là cha đẻ của phong trào chất lượng. Đặc
biệt ở Nhật giải thưởng về chất lượng lớn nhất được mang tên Deming. Triết lý
cơ bản của Deming là "Khi chất lượng và hiệu suất tăng thì độ biến động giảm
vì mọi vật điều biến động nên cần sử dụng các phương pháp thống kê để kiểm
soát chất lượng".
Chủ trương của ông là dùng thống kê để định lượng kết quả trong tất cả
các khâu chứ không chỉ riêng ở khâu sản xuất hay dịch vụ. Ông đưa ra chu kỳ
chất lượng Deming, 14 điểm mà các nhà quản lý cần phải tuân theo và 7 căn
bệnh chết người của một doanh nghiệp trong quá trình chuyển sự kinh doanh
của mình từ chỗ bình thường sang trình độ quốc tế.
Chu kỳ Deming được tiến hành như sau:
13
Bước 1: Tiến hành nghiên cứu người tiêu dùng và sử dụng nghiên cứu
này trong hoạch định sản phẩm (Plan: P).
Bước 2: Sản xuất ra sản phẩm (Do: D)
Bước 3: Kiểm tra xem sản phẩm có được sản xuất theo đúng kế hoạch
không (check: O)
Bước 4: Phân tích và điều chỉnh sai sót (Action: A)
Triết lý về chất lượng của Deming được tóm tắt trong 14 điểm sau:
+ Đề ra được mục đích thường xuyên hướng tới cải tiến sản phẩm và triết
lý của doanh nghiệp.
+ Áp dụng triết lý mới: Ban giám đốc phải thấy rằng bây giờ là thời điểm
hoàn thành các mục tiêu.
+ Các giám đốc chỉ hy vọng giữ được vị trí mình lâu dài.
+ Sử dụng các thông số và số liệu thấy được trong quá trình ra quyết định, ít
hoặc không xem xét đến những thứ chưa biết hoặc không thể biết được.
+ Quá nhiều chi phí cho bộ máy hành chính.
+ Chi phí quá cao cho độ tin cậy do các luật sư làm việc theo chi phí phát
sinh gây ra.
* Giáo sư Juran: Chuyên gia chất lượng nổi tiếng trên thế giới và là người
đóng góp to lớn cho sự thành công của các công ty Nhật Bản. Ông là người đầu
tiên đưa ra quan điểm "chất lượng là sự phù hợp với điều kiện kỹ thuật". Và
cũng là người đầu tiên đề cập đến vai trò trách nhiệm lớn về trách nhiệm thuộc
về nhà lãnh đaọ. Vì vậy ông cũng xác định chất lượng đòi hỏi trách nhiệm của
nhà lãnh đạo, sự tham gia của các thành viên trong tổ chức. Ông là người đưa ra
3 bước cơ bản để đạt được chất lượng là:
15
- Đạt được các cải tiến có tổ chức trên một cơ sở liên tục kết hợp với sự
cam kết và một cảm quan về sự cấp bách.
- Thiết lập một chương trình đào tạo tích cực.
- Thiết lập sự cam kết về sự lãnh đạo từ bộ phận quản lý cấp cao hơn.
Ông quan tâm đến yếu tố cải tiến chất lượng và đã đưa ra 10 bước để cải
tiến chất lượng.
Đồng thời Juran cũng là người đầu tiên áp dụng nguyên lý Pareto trong
quản lý chất lượng với hàm ý: "80% sự phiền muộn là xuất phát từ 20% trục
trặc. Công ty nên tập trung nỗ lực chỉ vào một ít số điểm trục trặc" Juran đưa ra
lý thuyết 3 điểm để trình bày quan điểm của ông về 3 chức năng quản lý để đạt
được chất lượng cao. Các chức năng đó là:
+ Hoạch định chất lượng
+ Kiểm soát chất lượng
+ Cải tiến chất lượng
* Philip B. Grosby với quan niệm "chất lượng là thứ cho không" đã nhấn
của nhóm có quan hệ hỗ trợ giúp đỡ nhau tiến bộ trong bầu không khí cởi mở và
tiềm năng sáng tạo thì ông đã góp phần lớn trong việc truyền bá hình thành các
nhóm chất lượng (QC: Quanlity cycle).
Như vậy, có thể nói rằng với các tiếp cận khác nhau nhưng các chuyên gia
chất lượng đã tương đối thống nhất với nhau về một số quan điểm về chất
lượng: Đó là:
- Quản lý chất lượng theo quá trình
- Nhấn mạnh yếu tố kiểm soát quá trình và cải tiến liên tục với sự việc
phát triển giáo dục, đào tạo.
- Nhấn mạnh sự tham gia của mọi người trong tổ chức.
- Nêu cao vai trò lãnh đạo và các nhà quản lý.
- Chú ý đến việc sử dụng các công cụ thống kê trong quản trị chất lượng.
17
II. HỆ THỐNG QUẢN TRỊ CHẤT LƯỢNG
- Hệ thống quản lý chất lượng là một tổ hợp cơ cấu tổ chức, trách nhiệm
thủ tục, phương pháp và các nguồn lực cần thiết để thực hiện quản lý chất lượng.
1.1. Quá trình hình thành và phát triển của một hệ thống quản lý chất
lượng
Có thể biểu diễn quá trình hình thành của hệ thống quản lý chất lượng như
sau:
Lịch sử phát triển:
1900 1925 1950
ĐBCL, Điều khiển CL QLCL cục bộ Hệ thống chất
lượng
Như vậy xuất phát của hệ thống quản trị chất lượng là kiểm tra hoạt động
này từ sau cách mạng tháng công nghiệp thế kỷ XVIII đã chính thức đi vào hoạt
động của doanh nghiệp kéo dài đến cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX.
Kiểm tra sản phẩm phát triển chuyên sâu hơn từ phía người sản xuất thành
kiểm tra từ người đốc công đến hình thành một phòng kiểm tra. Tuy phát triển
cả trong quá trình sản xuất chứ không phải là khâu sản phẩm cuối cùng. Từ đó
rút ra được quy luật vẽ biểu đồ mô tả để tìm nguyên nhân rút ra giải pháp khắc
phục.
Đây là bước nhảy vọt,là phương pháp kiểm tra tích cực, kiểm tra phòng
ngừa chủ động và hiệu quả hơn.
Quá trình được mô tả như sau:
19
Cho qua
Tiêu chuẩn
Thực hiện
đúng tiêu
chuẩn
Kiểm chứng thử
nghiệm kiểm
định đo lường
xem xét
Tác động
ngược
Bỏ hoặc xử lý lại
Kiểm tra
Kiểm
chứng
không
phù
hợp
Đạt
Như chúng ta đã biết chu kỳ sống của sản phẩm tuân theo vòng xoắn gồm
12 điểm và khái quát thành 4 giai đoạn: Nghiên cứu thiết kế, sản xuất, lưu thông
và sử dụng.
Trước năm 1950 quản lý chất lượng chỉ tập trung vào sản xuất thường chỉ
Hiện nay, có nhiều hệ thống quản trị chất lượng đang được áp dụng. Sau
đây xem xét một số hệ thống chất lượng.
1) Hệ thống quản lý chất lượng theo tiêu chuẩn quốc tế ISO-9000
Bộ tiêu chuẩn ISO-9000 dp tổ chức quốc tế về tiêu chuẩn hoá ISO ban
hành đầu tiên vào năm 1987 nhằm mục đích đưa ra một mô hình được chấp
nhận ở cấp quốc tế về hệ thống đảm bảo chất lượng và có thể áp dụng rộng raĩ
trong lĩnh vực sản xuất kinh doanh và dịch vụ.
Năm 1994, Bộ tiêu chuẩn ISO-9000 được soát xét lại lần I và năm 2000 là
soát xét lần II.
Năm 1987, Bộ tiêu chuẩn có 5 tiêu chuẩn chính là: ISO9000, ISO 9001,
ISO 9002, ISO 9003 và ISO 9004 trong đó:
+ Tiêu chuẩn ISO 9000 là tiêu chuẩn chung về quản lý chất lượng và đảm
bảo chất lượng giúp lựa chọn các tiêu chuẩn.
+ Tiêu chuẩn ISO 9001 là đảm bảo chất lượng trong toàn bộ chu trình
sống của sản phẩm từ khâu nghiên cứu triển khai sản xuất lắp đặt và dịch vụ.
+ Tiêu chuẩn ISO 9002: là đảm bảo chất lượng trong sản xuất lắp đặt và
dịch vụ.
21
+ Tiêu chuẩn ISO 9003: là tiêu chuẩn về mô hình đảm bảo chất lượng
trong khâu thử nghiệm và kiểm tra.
+ Tiêu chuẩn ISO 9004: là những tiêu chuẩn thuần tuý về quản trị chất
lượng không dùng để ký hợp đồng trong mối quan hệ mua bán mà do các công
ty muốn quản lý chất lượng tốt thì tự nguyện nghiên cứu áp dụng.
- Năm 1994, Bộ tiêu chuẩn được soát xét lần I và nội dung sửa đổi.
+ Từ tiêu chuẩn ISO 9000 cũ có các điều khoản mới ISO 9001, ISO9002,
ISO 9003 và ISO 9004.
Trong đó:
1) ISO 9001 thay thế cho ISO 9000 cũ nhưng hướng dẫn chung cho quản
lý chất lượng và đảm bảo chất lượng.
2) ISO 9002: Ttiêu chuẩn hướng dẫn áp dụng ISO 9001 và các tiêu chuẩn
chuẩn ISO 9000 đã được nhiều nước áp dụng rất thành công với sụ đòi hỏi ngày
càng cao của khách hàng về sản phẩm có chất lượng cao với giá cạnh tranh thì
các doanh nghiệp cần phải tạo ra chất lượng bằng việc xây dựng một chiến lựoc
hàng đầu công ty trong đó có hướng tiến tới áp dụng mô hình quản lý chất lượng
theo tiêu chuẩn ISO 9000 và ISO 14000. Sự ra đời của phiên bản ISO
9000:2000 vừa tạo thuận lợi vừa là thách thức đối với doanh nghiệp Việt Nam
do yêu cầu mới đòi hỏi cao hơn. Vì thế doanh nghiệp Việt Nam cần cập nhật
kiến thức cải tiến hệ thống của mình theo ISO 9000:2000.
Mặt khác, để đáp ứng nhu cầu bền vững và lâu dài các doanh nghiệp Việt
Nam không nên chỉ dừng lại ở việc quản lý chất lượng theo tiêu chuẩn mà cần
quan tâm đến việc thực hiện mô hình quản lý chất lượng toàn diện.
* Hệ thống quản lý chất lượng toàn diện TQM
TQM (Total quality management) đây là phương pháp quản trị hữu hiệu
được thiết lập và hoàn thiện trong các doanh nghiệp Nhật Bản. Hiện nay đang
được các doanh nghiệp nhiều nước áp dụng.
23
Có thể nói TQM theo ISO 8402: 1994 như sau: TQM là cách thức quản lý
một tổ chức một doanh nghiệp tập trung vào chất lượng dựa vào sự tham gia của
các thành viên của nó nhằm đạt được sự thành công lâu dài nhờ việc thoả mãn
khách hàng đem lại lợi ích cho các thành viên của tổ chức và cho xã hội.
Có thể nói: lựa chọn và áp dụng TQM là bước phát triển tất yếu của các
doanh nghiệp Việt Nam. Chính TQM là điều kiện cần cho các DNVN để họ áp
dụng nâng cao trình độ quản lý chất lượng thấp kém hiện nay. ISO 9000 chỉ có
một mức độ nhưng TQM có thể ở nhiều mức độ khác nhau. TQM theo phong
cách Nhật Bản có thể coi là đỉnh cao của phương thức quản lý chất lượng còn ở
Việt Nam có thể áp dụng TQM ở mức thấp hơn và cũng có thể dùng giải thưởng
chất lượng Việt Nam để thưởng cho doanh nghiệp áp dụng tốt TQM.
ISO 9000 chỉ cho chúng ta biết cần phải làm gì để bảo đảm phù hợp
ISO9000 nhưng làm thế nào để đạt tới mức đó thì ISO 9000 không nêu rõ.
Nhưng chúng ta đã biết không phải dễ dàng gì để được chứng nhận ISO 9000 và
thành viên của CAC (Codex Alimentarius Conmision) áp dụng hệ thống này. Vì
nếu được chứng nhận GMP cơ sở sản xuất được quyền công bố với người tiêu
dùng về sự đảm bảo an toàn thực phẩm của mình. Ngoài ra với GMP doanh
nghiệp còn có đủ điều kiện cần thiết để tiến hành xây dựng hệ thống HACCP.
III. VAI TRÒ CỦA CHẤT LƯỢNG VÀ QUẢN LÝ CHẤT LƯỢNG
TRONG SỰ TỒN TẠI VÀ PHÁT TRIỂN CỦA DOANH NGHIỆP
- Khách hàng là yếu tố đầu tiên để doanh nghiệp quan tâm và doanh
nghiệp quan tâm đó chính là nhu cầu của họ chính là chất lượng của sản phẩm
mà họ bỏ tiền ra để mua như vậy là chất lượng thì doanh nghiệp phải quan tâm
chất lượng đối với sản phẩm mà mình làm ra… Không chỉ một mình doanh
nghiệp sản xuất và bán cho mọi người mà có nhiều doanh nghiệp sản xuất sản
25