LỜI MỞ ĐẦU
Trong nền kinh tế thị trường rủi ro trong kinh doanh là điều không thể tránh khỏi, mà
đặc biệt là rủi ro trong hoạt động kinh doanh Ngân hàng có phản ứng dây chuyền , lây
lan và ngày càng có biểu hiện phức tạp.
Trên thế giới người ta thống kê được rất nhiều loại rủi ro cố hữu trong hoạt động Ngân
hàng. Song được quan tâm nhất là rủi ro tín dụng bởi vì trên thực tế, phần lớn thu nhập
của các NHTM là từ hoạt động kinh doanh tín dụng, hơn nữa đây lại là lĩnh vực kinh
doanh tiềm Èn nhiều rủi ro nhất trong các hoạt động kinh doanh của Ngân hàng.
Hiện nay, DNVVN tại Việt Nam đang phát triển năng động, mạnh mẽ cả về chất lẫn về
lượng, đóng góp ngày càng to lớn cho nền kinh tế quốc dân. Đây là loại hình DN đang
được nhà nước đặc biệt quan tâm, tạo điều kiện phát triển. Với những đặc điểm riêng
có về quy mô, cách thức hoạt động… phù hợp với khả năng quản lý và định hướng
hoạt động của NHTMCP Công thương chi nhánh Tây Hà Nội, nên DNVVN được tập
trung đầu tư tín dụng và trở thành đối tượng khách hàng chủ đạo.
Tổng hợp các mối quan tâm trên, đồng thời nhận định thời gian tới rủi ro tín dụng vẫn
tác động mạnh mẽ đến hoạt động ngân hàng và từ đó tác động mạnh đến nền kinh tế,
nên em đã lựa chọn đề tài : “ Quản trị rủi ro tín dụng trong cho vay các doanh
nghiệp nhỏ và vừa tại Ngân hàng Công thương - chi nhánh Tây Hà Nội” để làm
khóa luận tốt nghiệp.
Khóa luận kết cấu gồm 3 chương:
Chương I : Tổng quan về rủi ro tín dụng và hoạt động quản trị rủi ro tín dụng trong cho
vay các DNNVV tại các Ngân hàng thương mại.
Chương II: Thực trạng hoạt động quản trị RRTD trong cho vay các DNNVV tại
NHTMCP Công thương chi nhánh Tây Hà Nội.
Chương III: Giải pháp, kiến nghị nhằm nâng cao năng lực quản trị RRTD tại
NHTMCP Công thương chi nhánh Tây Hà Nội.
Chương 1
TỔNG QUAN VỀ RỦI RO TÍN DỤNG VÀ HOẠT ĐỘNG
QUẢN TRỊ RỦI RO TÍN DỤNG TRONG CHO VAY CÁC DOANH NGHIỆP
NHỎ VÀ VỪA TẠI CÁC NGÂN HµNG THƯƠNG MẠI
1.1 TỔNG QUAN VỀ RỦI RO TÍN DỤNG VÀ HOẠT ĐỘNG QUẢN TRỊ
- Tín dụng có bảo đảm : Là tín dụng có tài sản cầm cố, thế chấp hay có bảo lãnh của
người thứ ba.
* Căn cứ vào mục đích sử dụng :
- Tín dụng bất động sản: Đây là khoản tín dụng được bảo đảm bằng bất động sản.
- Tín dụng công thương nghiệp: Đây là các khoản tín dụng cấp cho các doanh nghiệp
để trang trải các chi phí nh mua hàng hóa, nguyên vật liệu, trả thuế và chi trả lương.
- Tín dụng nông nghiệp: Đây là khoản tín dụng cấp cho các hoạt động nông nghiệp,
nhằm trợ giúp các hoạt động trồng trọt, thu hoạch mùa màng và chăn nuôi gia sóc.
- Tín dụng cá nhân: Đây là các khoản tín dụng cấp cho cá nhân để mua sắm hàng hóa
tiêu dùng đắt tiền như xe hơi, nhà cửa, trang thiết bị trong nhà…
- Tín dụng cho các tổ chức tài chính: Đây là các khoản tín dụng cấp cho các ngân hàng,
công ty bảo hiểm, công ty tài chính và các tổ chức tài chính khác.
- Cho thuê tài chính: là việc ngân hàng mua các trang thiết bị, máy móc và cho thuê lại
chúng.
- Tín dụng khác: Bao gồm các khoản tín dụng khác chưa được phân loại ở trên.
1.1.2 Rủi ro tín dụng Ngân hàng
1.1.2.1 Khái niệm rủi ro tín dụng.
- Khái niệm rủi ro tín dụng:
Theo Quyết định số 493/2005/QĐ-NHNN ngày 22/04/2005 của Thống đốc
Ngân hàng Nhà nước quy định về phân loại nợ, trích lập và sử dụng dự phòng để
xử lý rủi ro tín dụng trong hoạt động ngân hàng của tổ chức tín dụng thì:
“Rủi ro tín dụng trong hoạt động ngân hàng của tổ chức tín dụng là khả năng
xảy ra tổn thất trong hoạt động ngân hàng của tổ chức tín dụng do khách hàng
không thực hiện hoặc không có khả năng thực hiện nghĩa vụ của mình theo cam
kết”
1.1.2.2 Phân loại rủi ro tín dụng
Căn cứ vào nguyên nhân phát sinh rủi ro, rủi ro tín dụng được phân chia như sau:
- Rủi ro giao dịch: phát sinh do những hạn chế trong quá trình giao dịch và xét
duyệt cho vay, đánh giá khách hàng. Rủi so giao dịch gồm 3 loại:
+ Rủi ro lựa chọn: là rủi ro liên quan đến quá trình đánh giá và phân tích tín
hàng.
- Môi trường kinh tế: Sự hưng thịnh hay suy thoái của của chu kỳ kinh doanh có
ảnh hưởng mạnh tói thu nhập của người đi vay và gián tiếp gây ra rủi ro cho các
NHTM. Trong giai đoạn kinh tế hưng thịnh, khả năng kinh doanh của người đi vay
tốt khiến cho thu nhập được đảm bảo, nhưng trong giai đoạn khủng hoảng khả năng
hoàn trả của người vay bị giảm sút, tùy vào mức độ nghiêm trọng và cường độ của
khủng hoảng mà việc ảnh hưởng lên khả năng hoàn trả các khoản nợ là cao hay
thấp.
- Cơ chế, chính sách của Nhà nước: sự thay đổi về các chính sách kinh tế vĩ mô,
chính sách tài khóa, chính sách tiền tệ, thu nhập, kinh tế đối ngoại… nhằm tác động
vào GDP, việc làm, tỷ giá hối đoái…qua đó giảm bớt những dao động không mong
muốn của chu kỳ kinh doanh trong mỗi thời kỳ.
Qua các phân tích và nghiên cứu cùng thực tế cho thấy rằng: bất kỳ sự thay đổi nào
trong chính sách vĩ mô đều dẫn tới sự thay đổi lãi suất, tỷ giá, điều kiện mở rộng
hay thu hẹp tín dụng…đây là những nhân tố làm biến động môi trường hoạt động
của doanh nghiệp, môi trường đầu tư vốn của NHTM, ảnh hưởng tới kế hoạch sản
xuất kinh doanh của doanh nghiệp.
- Môi trường pháp lý: Trong kinh doanh, các yếu tố pháp lý có tác động tới hoạt
động kinh doanh bao gồm hệ thống pháp luật, hệ thống các biện pháp bảo đảm cho
việc thực thi và chấp hành nghiêm chỉnh pháp luật của các chủ thể kinh doanh và
các cá nhân. Cùng với môi trường kinh tế, môi trường pháp lý tạo ra môi trường
hoạt động của các doanh nghiệp, môi trường cho vay của các NHTM. Điều này có
thể ảnh hưởng tích cực hay tiêu cực, có thể hạn chế hay làm tăng thêm độ rủi ro
trong hoạt động kinh doanh tín dụng của các NHTM.
- Hệ thống thông tin quản lý: Hiện nay ở VN chưa có một cơ chế công bố thông tin
đầy đủ về doanh nghiệp và ngân hàng. Trung tâm thông tin tín dụng ngân hàng
(CIC) của NHNN đã hoạt động đã quá một thập niên và đã đạt được những kết quả
bước đầu rất đáng khích lệ trong việc cung cấp thông tin kịp thời về tình hình hoạt
động tín dụng nhưng chưa phải là cơ quan định mức tín nhiệm doanh nghiệp một
cách độc lập và hiệu quả, thông tin cung cấp còn đơn điệu, thiếu cập nhật chưa đáp
khi chỉ mang tính chất hình thức hơn là thực chất. Khi cán bộ ngân hàng lập các
bản phân tích tài chính của doanh nghiệp dựa trên số liệu do các doanh nghiệp cung
cấp thường thiếu tính thực tế và xác thực. Đây cũng là nguyên nhân vì sao ngân
hàng vẫn luôn xem nặng phần tài sản thế chấp như là chỗ dựa cuối cùng để phòng
chống rủi ro tín dụng.
- Nguyên nhân từ phía ngân hàng cho vay:
Ngân hàng xây dựng chính sách tín dụng không phù hợp. Quá theo đuổi mục tiêu
lợi nhuận mà không quan tâm tới mục tiêu an toàn hay thanh khoản. Do cạnh tranh
với nhau mà các NHTM cấp tín dụng với các điều kiện lỏng lẻo hơn, bỏ qua các
quy tắc phòng ngừa rủi ro, sai lệch các quy tắc trong quy trình thẩm định tín dụng.
Quy trình tín dụng không phù hợp với nền kinh tế, hệ thống pháp lý khiến khách
hàng có thể chiếm đoạt vốn của ngân hàng.
Quá trình thẩm định tài sản đảm bảo chưa tốt, chưa phản ánh đúng giá trị tài sản.
Quá trình giám sát, kiểm tra sau vay vốn của ngân hàng không đồng bộ và tiến
hành đều đặn, việc phát hiện các khoản tín dụng có dấu hiệu rủi ro chậm và xử lý
khó khăn.
Ngân hàng cung ứng những sản phẩm tín dụng chưa phù hợp với nhu cầu vay
vốn của từng đối tượng tham gia vay vốn.
Ngân hàng chưa sử dụng hoặc sử dụng chưa đạt hiệu quả các công cụ phòng
ngừa rủi ro.
Đạo đức và trình độ của cán bộ, nhân viên tín dụng: Đạo đức của cán bộ là một
trong các yếu tố quan trọng để giải quyết vấn đề hạn chế rủi ro tín dụng. Một cán bộ
kém về năng lực có thể bồi dưỡng thêm, nhưng một cán bộ tha hóa về đạo đức mà
lại giỏi về mặt nghiệp vụ thì thật vô cùng nguy hiểm khi được bố trí trong công tác
tín dụng.
1.1.2.4 Ảnh hưởng của rủi ro tín dụng đối với hoạt động của NHTM
Khi rủi ro tín dụng xảy ra, ngân hàng không thu được vốn tín dụng đã cấp và
lãi cho vay trong khi đó ngân hàng phải trả vốn và lãi cho khoản tiền huy động khi
đến hạn, điều này sẽ làm cho ngân hàng mất cân đối trong việc thu chi, vòng quay
vốn tín dụng giảm làm cho ngân hàng kinh doanh không hiệu quả, chi phí của ngân
sách rủi ro
Nhóm
lãnh đạo
Cấp quản lý
bộ phận kinh doanh chính
Bộ phận quan hệ khách hàng
Tập trung vào sự
đánh đổi giữa rủi
ro và thu nhập
Vai trò của từng bộ phận:
- Nhóm lãnh đạo ( bao gồm: Hội đồng quản trị, ủy ban quản lý rủi ro, ban tổng
giám đốc)
o Xác định khẩu vị rủi ro và cân đối các hoạt động kinh doanh của ngân hàng.
o Phân bổ các nguồn lực và vốn
o Đánh giá các các danh mục đầu tư, chọn các danh mục đầu tư tối ưu
- Cấp quản lý bộ phận kinh doanh chính (bao gồm: Các giám đốc tại các chi nhánh,
Bộ phận quản lý rủi ro tại chi nhánh, Phòng Quan hệ khách hàng):
o Duy trì danh mục đầu tư đã được đa dạng hóa hợp lý
o Thiết kế hệ thống áp dụng
o Phát triển chiến lược lựa chọn EVA ( giá trị kinh tế gia tăng) tối ưu
- Bộ phận quan hệ khách hàng ( các cán bộ kinh doanh):
o Cơ cấu giao dịch
o Loại bá giao dịch kém chất lượng
o Lựa chọn các giá trị kinh tế cộng thêm tại mức độ khách hàng
b. Nhận biết RRTD
Nhóm 1: Nhóm các dấu hiệu liên quan đến mối quan hệ với ngân hàng.
- Phát hành séc quá bảo chứng hoặc bị từ chối
- Giảm sút số dư tài khoản tiền gửi
- Yêu cầu các khoản vay vượt quá nhu cầu dự kiến
- Thanh toán chậm các khoản nợ gốc và lãi
trị ngân hàng xác định được mức rủi ro cần được ưu tiên theo dõi và kiểm soát.
- Các chỉ số đánh giá rủi ro tín dụng của NH :
Tỷ lệ nợ quá hạn / Tổng dư nợ cho vay:
Nợ quá hạn là khoản nợ mà một phần hoặc toàn bộ nợ gốc và/ hoặc lãi vay quá hạn.
Đây là một chỉ tiêu rất quan trọng đánh giá rủi ro tín dụng của một ngân hàng. Để
xem xét mức độ rủi ro tín dụng thông qua nợ quá hạn, sử dụng chỉ tiêu : “ tỷ lệ nợ
quá hạn”
Tỷ lệ nợ quá hạn =
Nî qu¸ h¹n
Tæng d nî
Tỷ lệ nợ quá hạn càng cao thì mức độ rủi ro tín dụng của ngân hàng càng cao.
Nợ quá hạn tăng chứng tỏ dư nợ khách hàng gặp khó khăn trong việc trả nợ cao
do đó xác suất sau này khách hàng trả nợ cho ngân hàng là thấp. Bên cạnh đó
ngân hàng còn phải tăng chi phí trong việc giám sát, đôn đốc và các chi phí khác
liên quan nh tòa án, phát mại tài sản, chi phí cơ hội của khoản tín dụng.
Mức độ tập trung tín dụng:
Mức độ tập trung tín dụng được xem xét là sự phân chia khoản mục vốn tín
dụng trong tổng dư nợ cho vay theo các chỉ tiêu như: đối tượng khách hàng,
từng nhóm khách hàng, từng ngành kinh doanh, từng thời hạn, từng khu vực địa
lý ….qua đó giúp nhận diện cơ cấu tín dụng và định hướng rủi ro trong hoạt
động tín dụng của NHTM. Mức độ tập trung tín dụng của mỗi ngân hàng phụ
thuộc vào chính sách, mục tiêu hoạt động trong mỗi thời kỳ.
+ Mức độ tập trung tín dụng theo ngành nghề kinh doanh : Được hiểu là mức
độ dồn vốn tín dụng theo danh mục các ngành nghề kinh doanh như: nông
nghiệp, hoạt động công thương nghiệp, bất động sản…theo đó mà danh mục tín
dụng sẽ ưu tiên hay dành phần lớn cho những doanh nghiệp hoạt động trong các
lĩnh vực này.
+ Mức độ tập trung tín dụng theo thời gian: Mức độ tập trung tín dụng theo thời
gian là tỷ trọng giữa dư nợ tín dụng phân chia theo các hình thức tín dụng ngắn
hạn, trung hạn và dài hạn trong danh mục đầu tư tín dụng của ngân hàng. Mức
- Hệ số khả năng bù đắp RRTD =
đ
đ
DPRRTD îctrÝchlËp
NQHkhã ßi
- Mô hình đo lường RRTD :
Từ tháng 6/2004, theo đề suất của Basel II, các ngân hàng sẽ được sử dụng các
mô hình dựa trên hệ thống dữ liệu nội bộ để xác định khả năng tổn thất tín dụng.
Các NHTM sẽ tự xác định các biến số hoạt động sau:
PD - Probability of Default: xác xuất khách hàng không được trả nợ./
LGD - Loss Given Default: tỷ trọng tổn thất ước tính./
EAD - Exposure at Default: tổng dư nợ của khách hàng tại thời điểm khách hàng
trả được nợ./
EL - Expected Loss: tổn thất có thể ước tính./
Với mỗi kỳ hạn xác định, tổn thất có thể ước tính EL được tính toán dựa trên công
thức sau:
EL= PD x EAD x LGD
Theo đó:
Thứ nhất: PD - xác suất không trả được nợ: cơ sở của xác suất này là các số liệu về
các khoản nợ trong quá khứ của khách hàng, gồm các khoản nợ đã trả, khoản nợ
trong hạn và khoản nợ không thu hồi được. Theo yêu cầu của Basel II, để tính toán
được nợ trong vòng mét năm của khách hàng, ngân hàng phải căn cứ vào số liệu dư
nợ của khách hàng trong vòng Ýt nhất là 5 năm trước đó. Với những số liệu đó,
ngân hàng nhập vào một mô hình được xây dựng sẵn bởi các tổ chức tư vấn chuyên
nghiệp và xác định ra xác suất không trả được nợ.
Thứ hai: EAD- tổng dư nợ của khách hàng tại thời điểm khách hàng không trả được
nợ: Đối với khoản vay có kỳ hạn, EAD được xác định không quá khó khăn. Tuy
nhiên, đối với khoản vay theo hạn mức tín dụng, tín dụng tuần hoàn thì vấn đề lại
khá phức tạp. Theo thống kê của ủy ban Basel, tại thời điểm không trả được nợ,
Chiến lược quản trì RRTD của ngân hàng là hệ thống các quan điểm, các mục đích
và mục tiêu cơ bản cùng các giải pháp, chính sách nhằm sử dụng một cách tốt nhất
các nguồn lực, lợi thế của NHTM nhằm đạt được các mục đích, mục tiêu đặt ra
trong việc kiểm soát RRTD của ngân hàng.
Việc xây dựng chiến lược quản lý rủi ro rõ ràng, chính xác trong dự báo nhằm
hướng tới mục tiêu an toàn và lợi nhuận cao trong hoạt động của NHTM, đòi hỏi
các nhà quản trị cần có sự điều chỉnh nhanh chóng, kịp thời, phù hợp với từng thời
kỳ, những nhân tố bên trong và bên ngoài ngân hàng. Chiến lược quản trị rủi ro tín
dụng hợp lý cần được xây dựng dựa trên những căn cứ sau:
- Thứ nhất, căn cứ vào môi trường hoạt động kinh doanh của ngân hàng
Bất kỳ hoạt động kinh doanh nào của NHTM cũng diễn ra trong một môi trường
nhất định. Do đó, khi xây dựng chiến lược quản trị rủi ro, ngân hàng cần phải xem
xét tới tác động của các yếu tố:
o Tình hình kinh tế, xã hội trên địa bàn hoạt động của ngân hàng
o Đặc điểm và tính chất lĩnh vực mà ngân hàng cấp tín dụng
o Khả năng và mức độ cạnh tranh từ các ngân hàng khác.
- Thứ hai, căn cứ vào quy định của các cơ quan quản lý
Các quy định của cơ quan quản lý: Với các chính sách và văn bản pháp quy đã
được ban hành, các ngân hàng phát triển theo hướng chủ động kinh doanh và hoàn
toàn tự chịu trách nhiệm trước những hoạt động của mình. Do đó các chiến lược
quản trị rủi ro phải tuân theo quy định pháp lý của các cơ quan quản lý, nh:
+Quyết định số 493/2005/QĐ-NHNN ngày 22/04/2005 của Thống đốc NHNN ban
hành Quy định về việc hướng dẫn phân loại nợ, trích lập và sử dụng dự phòng để
xử lý rủi ro tín dụng trong hoạt động của NHTM.
+Quyết định số 18/2007/QĐ-NHNN ngày 25/04/2007 của NHNN quy định một số
sửa đổi về các điều khoản trong QĐ 493.
+ Thông tư số 13 và thông tư số 19 của NHNN quy định về các tỷ lệ đảm bảo an
toàn trong hoạt động của các tổ chức tín dụng
…
- Thứ ba, căn cứ vào chính sách tín dụng của ngân hàng
khác là đảm bảo sự độc lập của nhà quản trị rủi ro trong việc nhìn nhận ra các
rủi ro riêng của từng bộ phận kinh doanh còng như toàn cảnh rủi ro của ngân
hàng.
o Nguyên tắc thứ 4: Thực hiện nguyên tắc “ hai tay, bốn mắt “ trong hoạt động
quản trị rủi ro tín dụng.
o Nguyên tắc thứ 5: Thực hiện phân cấp, phân quyền hợp lý, giải quyết hài hòa
mối quan hệ giữa lợi Ých và trách nhiệm.
o Nguyên tắc thứ 6: Quản lý RRTD được tiến hành đối với toàn bộ danh mục cho
vay còng nh đối với mỗi khoản cho vay riêng lẻ.
o Nguyên tắc thứ 7: Quản lý RRTD được xem xét trong mối quan hệ với các loại
rủi ro khác.
o Nguyên lý thứ 8: Quản trị RRTD cần đồng thời thực hiện với các công việc nh
xác định, định lượng, giám sát và quản trị RRTD còng nh thực hiện dự phòng
rủi ro để bù đắp khi có tổn thất xảy ra.
o Nguyên tắc thứ 9: Nguyên tắc cân bằng giữa chi phí và lợi Ých thu về. Chi phí
cho công tác quản trị RRTD phải thấp hơn thu nhập mang lại từ hoạt động đó.
e. Biện pháp kiểm soát, xử lý rủi ro tín dụng
* Các biện pháp kiểm soát RRTD :
Là những biện pháp được thực hiện nhằm duy trì rủi ro tín dụng ở mức độ kỳ vọng,
giảm thiểu tối đa phần tổn thất RRTD và không để ngân hàng rơi vào tình trạng khó
khăn từ hoạt động tín dụng.
- Tuân thủ các bước trong quy trình cho vay đặc biệt thực hiện tốt công tác phân tích
rủi ro tín dụng.
Quy trình cho vay bao gồm các bước khác nhau được thực hiện bởi các phòng ban
khác nhau nhằm đảm bảo sự phân cấp, phân quyền và nâng cao trách nhiệm của các
cán bộ ở các mắt xích khác nhau trong quy trình. Do đó, các phòng ban cần thực hiện
đúng chức trách của mình. Đặc biệt là các CBTD cần phân tích tín dụng đầy đủ và toàn
diện để có thể đánh giá khách hàng và tính hiệu quả của dự án trước khi cho khách
hàng vay để có thể hạn chế những rủi ro do khách hàng mang lại. Việc phân tích,
thÈm định tín dụng được thực hiện trước, trong và sau khi cấp tín dụng là yêu cầu bắt
tới khoản tín dụng.
( 6) Control ( Kiểm soát ): Ngân hàng cần quan tâm tới các yếu tố như chính trị, xã
hội, luật pháp…có thay đổi và ảnh hưởng tới người đi vay như thế nào. Yêu cầu tín
dụng của người vay có đáp ứng được các tiêu chuẩn của ngân hàng và nhà quản lý
về chất lượng tín dụng chưa?
+ Sử dụng kết quả chấm điểm khách hàng DN để xếp hạng khách hàng cho
vay:
Bảng 1.1: Xếp hạng khách hàng doanh nghiệp
STT
Mức xếp hạng
Ý nghĩa
Điểm Xếp hạng
1 95-100 AAA
Đây là mức xếp hạng cao
nhất. Khả năng hoàn trả khoản
vay của KH được xếp hạng
này đặc biệt tốt.
2 90-94 AA KH được xếp hạng này có
năng lực trả nợ không kém so
với KH được xếp hạng loại
cao nhất. Khả năng hoàn trả
của KH này được xếp hạng rất
tốt.
3 85-89 A
KH được xếp hạng này có thể
có nhiều khả năng chịu tác
động tiêu cực của các yếu tố
bên ngoài và các điều kiện
kinh tế hơn các KH được xếp
hạng cao hơn. Tuy nhiên khả
nhiều khả năng ảnh hưởng đến
khả năng hoặc thiện chí trả nợ
của KH.
7 60-64 CCC
KH xếp hạng này hiện thời
đang bị suy giảm khả năng trả
nợ, khả năng trả nợ của KH
phụ thuộc vào độ thuận lợi của
các điều kiện kinh doanh, tài
chính và kinh tế. Trong trường
hợp có các yếu tố bất lợi xảy
ra, KH nhiều khả năng không
trả được nợ.
8 55-59 CC
KH xếp hạng này hiện thời
đang bị suy giảm nhiều khả
năng trả nợ.
9 45-54 C
KH xếp hạng này trong trường
hợp đã thực hiện các thủ tục
xin phá sản hoặc có động thái
tương tự nhưng việc trả nợ của
KH vẫn đang được duy trì.
10 < 45 D
KH xếp hạng D trong trường
hợp đã mất khả năng trả nợ,
các tổn thất đã thực sự xảy ra,
không xếp hạng D cho khách
hàng mà việc mất khả năng trả
nợ mới chỉ là dự kiến.
kém, tuy nhiên những yếu kém này có dấu hiệu và có khả
năng khắc phục được. Mức độ rủi ro tiềm tàng này yêu cầu
phải tăng việc giám sát để đảm bảo tình hình không xấu đi./
3. Tín dụng Khả năng đáp ứng nghĩa vụ tài chính của khách hàng ở mức
trên mức rủi
ro trung bình
mạo hiểm do tồn tại một vài khía cạnh yếu kém, tuy nhiên
những yếu kém này có dấu hiệu và có khả năng khắc phục
được. Mức rủi ro tiềm tàng này yêu cầu phải tăng việc giám
sát để đảm bảo tình hình không xấu đi./
4. Tín dụng
rủi ro cao
Khách hàng đang trong tình trạng xấu kéo dài. Ngân hàng cố
gắng cải thiện hoặc từ bỏ mối quan hệ để tránh thua lỗ tiềm
tàng./
5. Tín dụng
khó đòi lãi
Khách hàng có rủi ro cao, có thể bị thất thoát lãi song có thể
hy vọng lấy lại được gốc./
6. Tín dụng
khó đòi gốc
và lãi
Khách hàng có rủi ro rất cao,có thể đã bị mất cả vốn, lãi và
các khoản chi phí sau khi đã nỗ lực áp dụng các biện pháp có
thể./
- Thực hiện đảm bảo tín dụng
- Đối với đảm bảo bằng tài sản: cần đánh giá chất lượng của TSĐB để đưa các mức rủi
ro phù hợp:
Bảng 1.3: Xếp hạng tài sản đảm bảo
Xếp hạng tài sản đảm bảo
phòng chung với tỷ lệ 0.75% giá trị khoản vay với các nhóm nợ từ Nhóm 1- Nhóm 4.
Còng theo quyết định này, các NHTM được chủ động trong việc phân loại và xếp hạng
các khoản vay vào các nhóm nợ thích hợp dựa trên cơ sở đánh giá của mình, đây cũng