GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG CHO VAY đối với DOANH NGHIỆP NHỎ và vừa tại NGÂN HÀNG CÔNG THƯƠNG sầm sơn PHÒNG GIAO DỊCH HUYỆN TRIỆU sơn - Pdf 23


TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHIỆP TP. HỒ CHÍ MINH
CƠ SỞ THANH HÓA – KHOA KINH TẾ
   
BÁO CÁO THỰC TẬP
ĐỀ TÀI

:
GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG CHO VAY ĐỐI
VỚI DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA TẠI NGÂN HÀNG CÔNG
THƯƠNG SẦM SƠN - PHÒNG GIAO DỊCH HUYỆN TRIỆU SƠN
GIÁO VIÊN HD : T.S. NGUYỄN XUÂN DƯƠNG
SINH VIÊN TH : NGUYỄN THỊ NHUNG
MSSV : 10011243
LỚP : DHTN6TH
THANH HÓA, THÁNG 03 NĂM 2014.
Báo cáo thực tập GVHD: T.S. Nguyễn Xuân Dương
NHẬN XÉT CỦA CƠ QUAN THỰC TẬP
Sinh viên thực hiện: Nguyễn Thị Nhung - MSSV: 10011243 3
Báo cáo thực tập GVHD: T.S. Nguyễn Xuân Dương
NHẬN XÉT CỦA GIẢNG VIÊN HƯỚNG DẪN


Báo cáo thực tập GVHD: T.S. Nguyễn Xuân Dương
LỜI CAM ĐOAN
Em xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng em, số liệu trong
bài báo cáo thực tập tốt nghiệp là trung thực, do em tự thu thập, phản ánh đúng
tình hình kinh doanh của đơn vị thực tập – Ngân hàng Công thương Sầm Sơn –
phòng giao dịch Triệu Sơn.
Thanh Hoá, ngày 11 tháng 03 năm 2014
Sinh viên thực hiện
Nguyễn Thị Nhung
Sinh viên thực hiện: Nguyễn Thị Nhung - MSSV: 10011243 6
Báo cáo thực tập GVHD: T.S. Nguyễn Xuân Dương
LỜI CẢM ƠN
Trong thời gian thực hiện báo cáo thực tập tốt nghiệp, dưới sự hướng dẫn
của giáo viên hướng dẫn, được phía ngân hàng Công thương Sầm Sơn – phòng
giao dịch Triệu Sơn và nhà trường tạo điều kiện thuận lợi, em đã có một quá
trình nghiên cứu, tìm hiểu và học tập nghiêm túc để hoàn thành đề tài khoá luận:
“Giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động cho vay đối với doanh nghiệp nhỏ và
vừa tại Ngân hàng Công Thương Sầm Sơn - phòng giao dịch huyện Triệu Sơn”.
Kết quả thu được không chỉ do nỗ lực của cá nhân em mà còn có sự giúp đỡ của
quý thầy cô, các cán bộ, nhân viên tại NHCT Sầm Sơn, gia đình và bạn bè.
Em xin được bày tỏ lời cảm ơn sâu sắc tới thầy T.S Nguyễn Xuân Dương,
người đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ em trong quá trình hoàn thành bài báo cáo
này. Xin chân thành cảm ơn các thầy cô trong khoa Tài chính - Ngân hàng cùng
toàn thể các thầy cô giáo trường Đại học Công nghiệp thành phố Hồ Chí Minh
đã trang bị kiến thức lý luận chuyên ngành cho em trong suốt bốn năm vừa qua.
Đồng thời em cũng xin gửi lời cảm ơn chân thành tới toàn thể ban lãnh đạo
và cán bộ nhân viên NHCT Sầm Sơn – phòng giao dịch Triệu Sơn đã tạo mọi
điều kiện cho em tiếp xúc với hoạt động thực tế tại chi nhánh để hoàn thành bài
báo cáo thực tập này một cách tốt nhất.
Cảm ơn tất cả bạn bè những người đã giúp đỡ, trao đổi thông tin về đề tài

Sinh viên thực hiện: Nguyễn Thị Nhung - MSSV: 10011243 11
Báo cáo thực tập GVHD: T.S. Nguyễn Xuân Dương
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Sự phát triển ngày càng đa dạng và hoàn thiện của hệ thống ngân hàng
thương mại cổ phần trong bối cảnh toàn cầu hoá hiện nay, đã có tác động lớn,
thúc đẩy nhanh tốc độ tăng trưởng kinh tế, tạo tiền đề cho quá trình mở cửa và
hội nhập. Nhờ hoạt động của hệ thống ngân hàng mà nhu cầu về vốn để duy trì
và mở rộng quy mô sản xuất của các thành phần kinh tế trong xã hội luôn được
đáp ứng kịp thời, tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động sản xuất kinh doanh diễn
ra một cách nhanh chóng và hiệu quả.
Trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế, doanh nghiệp nhỏ và vừa đóng
một vai trò rất quan trọng đối với sự phát triển kinh tế đất nước. Đảng và nhà
nước đã có nhiều chính sách ưu đãi đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa để có thể
phát huy hết hiệu quả hoạt động, sức cạnh tranh cũng như tiềm năng của loại
hình kinh tế này. Tuy nhiên, doanh nghiệp nhỏ và vừa cũng gặp phải không ít
những khó khăn, nhất là trong vấn đề tiếp cận các nguồn vốn.
Nhận thấy nhu cầu vay vốn từ phía các doanh nghiệp nhỏ và vừa là rất lớn,
Ngân hàng Công thương Sầm Sơn – phòng giao dịch Triệu Sơn đã có những
chiến lược nhằm thu hút và đẩy mạnh hoạt động cho vay với đối tượng này. Tuy
nhiên, hiệu quả cho vay còn chưa cao, dư nợ cho vay đối với các doanh nghiệp
nhỏ và vừa mới chỉ chiếm một tỷ trọng khiêm tốn trong tổng dư nợ cho vay, lợi
nhuận cho vay doanh nghiệp nhỏ và vừa vẫn còn nhỏ, chưa tương xứng với khả
năng cho vay của ngân hàng. Xuất phát từ quan điểm đó và thực trạng hoạt động
của các doanh nghiệp nhỏ và vừa hiện nay, sau một thời gian thực tập tại Ngân
hàng Công thương Sầm Sơn – phòng giao dịch Triệu Sơn em đã chọn đề tài : “
Giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động cho vay đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa
tại Ngân hàng Công Thương Sầm Sơn - phòng giao dịch huyện Triệu Sơn ” với
mong muốn hoạt động cho vay đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa của Chi nhánh
nói chung và phòng giao dịch nói riêng sẽ phát triển tốt hơn, tương xứng với vị

Sinh viên thực hiện: Nguyễn Thị Nhung - MSSV: 10011243 Trang 13
Báo cáo thực tập GVHD: T.S. Nguyễn Xuân Dương
CHƯƠNG 1:
KHÁI QUÁT VỀ HIỆU QUẢ CHO VAY ĐỐI VỚI DOANH
NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
1.1. KHÁI QUÁT VỀ HOẠT ĐỘNG CHO VAY CỦA NHTM
1.1.1 Khái niệm NHTM
Ngân hàng là một trong các tổ chức tài chính quan trọng của nền kinh tế.
Trong nền kinh tế, ngân hàng thường bao gồm nhiều loại hình nhưng trong đó,
NHTM luôn chiếm tỷ trọng lớn nhất về quy mô tài sản, thị phần và số lượng các
ngân hàng.
Luật các tổ chức tín dụng sửa đổi được Quốc Hội nước Cộng hòa xã hội
chủ nghĩa Việt Nam thông qua ngày 15/06/2004 có nêu: Tổ chức tín dụng là
doanh nghiệp được thành lập theo quy định của luật này và các quy định khác
của pháp luật để hoạt động ngân hàng. Ngân hàng là loại hình tổ chức tín dụng
được thực hiện toàn bộ hoạt động ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác
có liên quan. Theo tính chất và mục tiêu hoạt động, các loại hình ngân hàng gồm
NHTM, ngân hàng phát triển, ngân hàng đầu tư, ngân hàng chính sách, ngân
hàng hợp tác và các loại hình ngân hàng khác.
Hoạt động ngân hàng là hoạt động kinh doanh tiền tệ và dịch vụ ngân hàng
với nội dung thường xuyên là nhận tiền gửi, sử dụng số tiền này để cấp tín dụng
và cung ứng các dịch vụ thanh toán khác. NHTM là loại hình tổ chức tài chính
cung cấp một danh mục các dịch vụ tài chính đa dạng nhất – đặc biệt là tín dụng,
tiết kiệm và dịch vụ thanh toán – thực hiện nhiều chức năng tài chính nhất và
đồng thời cũng chịu sự kiểm soát gắt gao nhất của Cơ quan Nhà nước có thẩm
quyền so với bất kỳ một tổ chức kinh doanh tài chính nào trong nền kinh tế.
1.1.2 Các hoạt động cơ bản của Ngân hàng thương mại
* Huy động vốn
Hoạt động huy động vốn là một trong những hoạt động chủ yếu và quan
trọng của NHTM. Huy động vốn của NHTM thực chất là việc ngân hàng nhận

trưng của NHTM.
Hoạt động cho vay của NHTM có nhiều cách phân loại, theo mỗi tiêu chí
Sinh viên thực hiện: Nguyễn Thị Nhung - MSSV: 10011243 Trang 15
Báo cáo thực tập GVHD: T.S. Nguyễn Xuân Dương
khác nhau thì có những cách phân loại khác nhau. Dưới đây là một số loại hình
cho vay cơ bản:
* Căn cứ vào thời hạn cho vay, cho vay được phân loại thành:
Cho vay ngắn hạn: là loại hình cho vay có thời hạn dưới 12 tháng và chủ
yếu được dùng để tài trợ cho tài sản lưu động hoặc nhu cầu sử dụng vốn ngắn
hạn của Nhà nước, doanh nghiệp, hộ sản xuất Loại cho vay này thường chiếm
tỷ trọng cao nhất đối với các NHTM.
Cho vay trung hạn: là loại hình cho vay nếu ở Việt Nam thì có thời hạn từ
12 tháng đến 60 tháng còn đối với các nước trên thế giới có thể từ 12 tháng đến
trên 60 tháng, mục đích cho vay để thực hiện đầu tư mua sắm tài sản dài han, cải
tiến hoặc đổi mới thiết bị công nghệ, mở rộng sản xuất kinh doanh.
Cho vay dài hạn: Là loại cho vay có thời hạn ở Việt Nam trên 60 tháng,
mục đích cho vay để tài trợ cho các dự án đầu tư như xây dựng nhà ở, thiết bị,
xây dựng các xí nghiệp mới.
* Căn cứ vào mức độ tín nhiệm đối với khách hàng, cho vay được chia
thành:
Cho vay có tài sản đảm bảo: là loại cho vay mà khách hàng vay phải có tài
sản thế chấp, cầm cố hoặc bảo lãnh của bên thứ ba và có sự đồng ý của ngân
hàng.
Cho vay không có tài sản đảm bảo: là loại cho vay không có tài sản thế
chấp, cầm cố hoặc bảo lãnh của người thứ ba mà chỉ dựa vào uy tín của bản thân
khách hàng. Loại này thường sử dụng cho khách hàng quen thuộc có khả năng
tài chính mạnh.
* Căn cứ vào tiêu thức phương thức cho vay
Cho vay từng lần
Cho vay theo hạn mức tín dụng

góp vốn, mua cổ phần của các doanh nghiệp và các tổ chức tín dụng khác trong
nước theo quy định của pháp luật.
Tham gia thị trường tiền tệ: NHTM được tham gia thị trường tiền tệ theo
quy định của NHNN thông qua các hình thức mua bán các công cụ của thị
trường tiền tệ.
Sinh viên thực hiện: Nguyễn Thị Nhung - MSSV: 10011243 Trang 17
Báo cáo thực tập GVHD: T.S. Nguyễn Xuân Dương
Kinh doanh ngoại hối: NHTM được phép trực tiếp kinh doanh hoặc thành
lập công ty trực thuộc để kinh doanh ngoại hối và vàng trên thị trường trong
nước và thị trường quốc tế.
Ủy thác và nhận ủy thác: NHTM được ủy thác, nhận ủy thác làm đại lý
trong các lĩnh vực liên quan đến hoạt động ngân hàng, kể cả việc quản lý tài sản,
vốn đầu tư của tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước.
Tư vấn tài chính: NHTM được cung ứng các dịch vụ tư vấn tài chính, tiền
tệ cho khách hàng dưới hình thức tư vấn trực tiếp hoặc thành lập công ty tư vấn
trực thuộc NH.
Cung ứng dịch vụ bảo hiểm, bảo quản vật có giá…
1.1.3. Quy định về cho vay của NHTM
Cho vay là một hình thức cấp tín dụng, theo đó NHTM giao khách hàng
một khoản tiền để sử dụng vào một mục đích và thời hạn nhất định theo thỏa
thuận với nguyên tắc có hoàn trả cả gốc lẫn lãi. Khi có nhu cầu vay vốn, khách
hàng gửi cho NHTM một bộ hồ sơ vay vốn bao gồm giấy đề nghị vay vốn và các
tài liệu cần thiết chứng minh đủ điều kiện vay vốn. Khách hàng phải chịu trách
nhiệm trước pháp luật về tính chính xác và hợp pháp của các tài liệu gửi cho
NHTM. NHTM hướng dẫn các loại tài liệu khách hàng cần gửi tùy theo đặc
điểm của cụ thể của từng khách hàng, loại cho vay và khoản vay.
Thông thường, một bộ hồ sơ vay vốn của khách hàng doanh nghiệp gồm
có:
Giấy đề nghị vay vốn.
Giấy tờ chứng minh tư cách pháp nhân của khách hàng như giấy phép

Có mục đích vay vốn hợp pháp.
Có khả năng tài chính đảm bảo trả nợ trong thời hạn cam kết.
Có phương án sản xuất kinh doanh, dịch vụ khả thi và có hiệu quả.
Thực hiện các quy định về bảo đảm tiền vay theo quy định của Chính Phủ
và hướng dẫn của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam. Ở nước ta hiện nay, hơn 90%
doanh nghiệp trong nền kinh tế là các DNNVV, vì thế cho vay đối với DNNVV
đang ngày chiếm một tỷ trọng lớn hơn trong hoạt động cho vay đối với nền kinh
tế của các ngân hàng thương mại.
Sinh viên thực hiện: Nguyễn Thị Nhung - MSSV: 10011243 Trang 19
Báo cáo thực tập GVHD: T.S. Nguyễn Xuân Dương
1.2. NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA
1.2.1 Khái niệm Doanh nghiệp nhỏ và vừa
DNNVV có vai trò to lớn đối với sự phát triển chung của nền kinh tế đất
nước cũng như có số lượng lớn trong cơ cấu doanh nghiệp, vì vậy có một định
nghĩa chính xác về DNNVV là vấn đề lý luận và thực tiễn quan trọng. Để xem
một doanh nghiệp có phải là DNNVV không, chúng ta có thể dựa vào hai tiêu
chí là định lượng và định tính.
Theo tiêu chí định tính: tiêu chí này dựa trên những đặc trưng cơ bản của
doanh nghiệp như trình độ quản lý, mức độ chuyên môn hoá, mức độ độc lập với
các tập đoàn lớn….Một doanh nghiệp là DNNVV khi nó có trình độ quản lý
chưa chuyên nghiệp nhưng lại khó xác định một cách chính xác trên thực tế,
mang nặng tính chủ quan. Do đó tiêu chí này ít được sử dụng trên thực tế.
Theo tiêu chí định lượng: có ba chỉ tiêu thường được sử dụng độc lập hoặc
kết hợp với nhau để xác định:
Nguồn vốn kinh doanh/ Vốn chủ sở hữu
Số lao động thường xuyên
Doanh thu/ Lợi nhuận
Cũng phải nói thêm rằng, với hầu hết các nước trên thế giới, DNNVV
không liên quan đến hình thức sở hữu nhà nước, tư nhân hay nước ngoài cũng
như loại hình doanh nghiệp – doanh nghiệp tư nhân, công ty hợp danh, công ty

10người
trở
xuống
20 tỷ đồng
trở xuống
từ trên 10
người đến
200 người
từ trên 20
tỷ đồng
đến 100 tỷ
đồng
từ trên
200 người
đến 300
người
II.Công
nghiệp và
xây dựng
10người
trở
xuống
20 tỷ đồng
trở xuống
từ trên 10
người đến
200 người
từ trên 20
tỷ đồng
đến 100 tỷ

các doanh nghiệp hiện nay, đồng thời cũng tạo ra những điểm xuất phát về tiếp
cận nguồn lực không như nhau (trong giao đất, trong vay vốn ngân hàng …).
Thứ hai, đây là những DN có quy mô vốn và lao động nhỏ, đây thường là
những doanh nghiệp khởi sự thuộc khu vực kinh tế tư nhân. Đặc điểm này đã
làm cho các DNNVV gặp nhiều khó khăn trong quá trình hoạt động của mình.
Sinh viên thực hiện: Nguyễn Thị Nhung - MSSV: 10011243 Trang 21
Báo cáo thực tập GVHD: T.S. Nguyễn Xuân Dương
Thứ ba, khả năng quản lý hạn chế: Các chủ DN thường là những lao động
phổ thông, kỹ thuật viên, kỹ sư tự đứng ra thành lập và vận hành DN. Họ vừa là
người quản lý DN, vừa tham gia trực tiếp vào sản xuất nên mức độ chuyên môn
trong quản lý không cao. Phần lớn những người chủ DN đều không được đào tạo
qua một khóa quản lý chính quy nào, thậm chí có người còn chưa qua một khóa
đào tạo nào.
Thứ tư, trình độ tay nghề của người lao động thấp. Các chủ DNNVV
thường không đủ khả năng cạnh tranh với các DN lớn trong việc thuê những
người lao động có tay nghề cao do hạn chế về khả năng tài chính. Người lao
động ít được đào tạo, đào tạo lại do kinh phí hạn hẹp hoặc người chủ không
muốn đào tạo người lao động vì vậy trình độ thấp và kỹ năng làm việc thấp.
Ngoài ra, sự không ổn định khi làm việc cho các DNNVV, cơ hội để phát triển
thấp tại các doanh nghiệp này cũng tác động làm cho nhiều lao động có kỹ năng
không muốn làm việc cho khu vực này.
Thứ năm, khả năng về công nghệ thấp do không đủ tài chính cho nghiên
cứu triển khai, nhiều DNNVV cho dù có những sáng kiến công nghệ nhưng
không đủ tài chính cho việc nghiên cứu triển khai nên không thể hình thành
công nghệ mới hoặc bị các doanh nghiệp lớn mua với giá rẻ. Tuy nhiên, các
DNNVV rất linh hoạt trong việc thay đổi công nghệ sản xuất do giá trị của dây
chuyền công nghệ thường thấp và họ thường có những sáng kiến đổi mới công
nghệ phù hợp với quy mô của mình từ những công nghệ cũ và lạc hậu.
Thứ sáu, các DNNVV Việt Nam thường thuê mặt bằng với diện tích hạn
chế và cách xa trung tâm hoặc sử dụng những diện tích đất riêng của mình làm

lao động sẵn có cùng với tiềm năng về nguyên vật liệu của địa phương.
Thứ ba, đóng góp khá lớn vào tăng tưởng, phát triển kinh tế: Số liệu thống
kê của Bộ Kế hoạch - Đầu tư tính đến tháng 09/2013 cho biết DNNVV chiếm
trên 95% tổng số doanh nghiệp trên cả nước, chiếm khoảng 60% GDP, tạo hơn
90% việc làm cho xã hội.
Thứ tư, cung cấp đa dạng hóa sản phẩm cho thị trường: DNNVV rất đa
dạng về ngành nghề, sản xuất và cung ứng nhiều loại sản phẩm, dịch vụ thỏa
mãn nhu cầu trong nước và đẩy mạnh xuất khẩu. Nước ta có lợi thế về ngành
nghề thủ côngtruyền thống nên các DNVVN phải biết tận dụng sản xuất, gia
công chế biến các sản phẩm phục vụ cho hoạt động xuất khẩu.
Sinh viên thực hiện: Nguyễn Thị Nhung - MSSV: 10011243 Trang 23
Báo cáo thực tập GVHD: T.S. Nguyễn Xuân Dương
Thứ năm, góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hoá
- hiện đại hoá, thúc đẩy quá trình đô thị hoá : Trong nền kinh tế thị trường, các
DN thường có mối liên quan mật thiết với nhau về nguyên vật liệu, sản phẩm và
thị trường. Các DNNVV cung cấp cho các DN lớn các sản phẩm phụ trợ hayphối
hợp làm một hay nhiều công đoạn nào đó của quá trình sản xuất.
Thứ sáu, có vai trò tích cực trong việc thúc đẩy phát triển kinh tế địa
phương, khai thác tốt tiềm năng thế mạnh của từng vùng: Mỗi vùng có tiềm
năng thế mạnh riêng mà không phải DN lớn nào cũng có khả năng khai thác một
cách triệt để, chính vì vậy, các DNNVV với sự năng động của chính mình là
những doanh nghiệp sẽ tận dụng, khai thác tối ưu nhằm phát triển nền kinh tế
địa phương.
Tóm lại , DNNVV giữ một vị thế rất quan trọng trong nền kinh tế. Phát
triển khu vực kinh tế này là hướng đi đúng đắn trong điều kiện hoàn cảnh nước
ta hiện nay. Trên giác độ ngân hàng, các NHTM cũng cần có những biện pháp hỗ
trợ cụ thể giúp các DNNVV, góp phần thúc đẩy sự phát triển chung cho nền kinh
tế cả nước.
1.2.4 Các hình thức cho vay đối với DNNVV
Một số hình thức cho vay được quy định riêng nhằm tạo điều kiện thuận lợi

phạm vi hạn mức giới hạn tín dụng nhất định.
Đối với ngắn hạn :
Hạn mức tín dụng ngắn hạn = Nhu cầu vốn lưu động kế hoạch- (Nguồn
vốn kinh doanh ngắn hạn + Nguồn vốn coi như tự có + Nguồn vốn khác)
Đối với dài hạn: Hạn mức tín dụng thể hiện % vốn tín dụng của ngân hàng
tham gia vào công trình hay dự án đầu tư.
Hạn mức tín dụng
trung dài hạn
=
Tổng dự
toán chi
phí
-
Nguồn vốn
đầu tư tự
có.
Cho vay theo hạn mức thấu chi: Nghiệp vụ thấu chi đang ngày càng trở nên
phổ biến trong hoạt động ngân hàng hiện đại, nó cho phép chủ tài khoản có thể
chi trội hơn số dư tiền gửi thanh toán của mình trong một khoảng thời gian nhất
Sinh viên thực hiện: Nguyễn Thị Nhung - MSSV: 10011243 Trang 25


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status