1 Báo cáo tốt nghiệp
“Giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động cho vay đối với Doanh nghiệp
vừa và nhỏ tại Ngân hàng TMCP Công thương chi nhánh Thanh Xuân” 2
Mục lục
Lời mở đầu 1
Danh mục từ viết tắt 5
Chương I : Những lí luận cơ bản về hiệu quả cho vay đối với các Doanh
nghiệp vừa và nhỏ của Ngân hàng Thương mại 8
1.1> Các vấn đề cơ bản về Doanh nghiệp vừa và nhỏ 8
1.1.1. Khái niệm Doanh nghiệp vừa và nhỏ 8
1.1.2. Đặc điểm của Doanh nghiệp vừa và nhỏ 11
1.1.3. Vai trò của Doanh nghiệp vừa và nhỏ 13
1.1.4. Vấn đề đối với Doanh nghiệp vừa và nhỏ 15
1.2.> Hoạt động cho vay đối với các Doanh nghiệp vừa và nhỏ 17
1.2.1. Khái niệm cho vay 17
1.2.2. Các hình thức cho vay đối với Doanh nghiệp vừa và nhỏ 18
1.2.2.1. Cho vay từng lần 18
1.2.2.2. Cho vay Hạn mức tín dụng 19
1.2.2.3. Cho vay Thấu chi 19
hàng TMCP Công Thương chi nhánh Thanh Xuân 38
2.1.1. Quá trình hình thành và phát triển của Ngân hàng TMCP Công
thương Thanh Xuân 38
2.1.2. Cơ cấu tổ chức của Ngân hàng TMCP Công thương Thanh Xuân41
2.1.3. Tình hình hoạt động kinh doanh của Ngân hàng TMCP Công
thương chi nhánh Thanh Xuân 45
2.1.3.1. Hoạt động huy động vốn 45
2.1.3.2. Hoạt động cho vay 47
2.1.3.3. Hoạt động Tài trợ thương mại 50
2.1.3.4. Hoạt động khác 51
2.1.4. Kết quả hoạt động kinh doanh 53
2.2> Thực trạng hoạt động cho vay các Doanh nghiệp vừa và nhỏ tại
Ngân hàng TMCP Công thương chi nhánh Thanh Xuân 54
2.2.1. Doanh số cho vay 55
2.2.2. Doanh số thu nợ 56
2.2.3. Dư nợ cho vay và Cơ cấu dư nợ 59
2.2.4. Tình hình nợ quá hạn 64 4
2.2.5. Hiệu quả cho vay 66
2.2.5.1. Hiệu suất sử dụng vốn. 66
2.2.5.2. Lợi nhuận từ cho vay DNVVN. 67
2.2.6. Vòng quay vốn tín dụng 69
2.3> Đánh giá hiệu quả cho vay 70
2.3.1. Kết quả đạt được 70
2.3.2. Những hạn chế trong hoạt động cho vay DNVVN 72
2.3.3. Nguyên nhân hạn chế 72
Chương III : Một số kiến nghị và giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động
cho vay Doanh nghiệp vừa và nhỏ tại Ngân hàng TMCP Công thương chi
3>. TSĐB
4>. LN
5>.NHNN
6>. VLĐ
7>. TSCĐ
8>. TSLĐ
9>. NHTMCP CT
10>. TMCP
11>. NHTM Doanh nghiệp vừa và nhỏ
Doanh nghiệp Nhà nước
Tài sản đảm bảo
Lợi nhuận
Ngân hàng Nhà nước
Vốn lưu động
Tài sản cố định
Tài sản lưu động
Ngân hàng Thương mại Cổ Phần
Công thương
Thương mại Cổ phần
Ngân hàng thương mại
triển loại hình Doanh nghiệp vừa và nhỏ. Trong quá trình hoạt động sản xuất
kinh doanh, mặc dù đã có nhiều ưu ái từ phía Nhà nước, nhưng các Doanh
nghiệp vừa và nhỏ ở Việt Nam vẫn gặp phải nhiều khó khăn như trình độ lao
động còn thấp, công nghệ lạc hậu, chậm đổi mới, khả năng cạnh tranh của hàng
hoá, dịch vụ chưa cao. Nguyên nhân chủ yếu của những khó khăn trên xuất
phát từ tiềm lực tài chính còn hạn chế. Thiếu vốn luôn luôn là trở ngại lớn cho
khả năng mở rộng hoạt động và phát triển của loại hình doanh nghiệp này. 7
Nhận thấy nhu cầu vay vốn từ phía các doanh nghiệp vừa và nhỏ là rất lớn,
Ngân hàng Thương mại Cổ phần Công thương chi nhánh Thanh Xuân đã có
những chiến lược nhằm thu hút và đẩy mạnh hoạt động cho vay với đối tượng
này. Tuy nhiên, hiệu quả cho vay còn chưa cao, dư nợ cho vay đối với các
doanh nghiệp vừa và nhỏ mới chỉ chiếm một tỷ trọng khiêm tốn trong tổng dư
nợ của toàn chi nhánh, lợi nhuận cho vay doanh nghiệp vừa và nhỏ vẫn còn
nhỏ, chưa tương xứng với khả năng cho vay của Ngân hàng.
Chính vì vậy, trong quá trình thực tập tại chi nhánh, em đã quyết định lựa
chọn đề tài: “Giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động cho vay đối với Doanh
nghiệp vừa và nhỏ tại Ngân hàng TMCP Công thương chi nhánh Thanh
Xuân” cho bài viết chuyên đề tốt nghiệp này.
Nội dung chuyên đề tốt nghiệp, ngoài phần Lời mở đầu và Kết luận bài
viết chuyên đề gồm 3 phần:
- Phần một: Những lý luận cơ bản về hiệu quả cho vay đối với các
Doanh nghiệp vừa và nhỏ của Ngân hàng Thương mại.
- Phần hai: Thực trạng hoạt động cho vay đối với Doanh nghiệp vừa và
nhỏ tại Ngân hàng TMCP Công thương chi nhánh Thanh Xuân.
- Phần ba: Một số kiến nghị và giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động
cho vay Doanh nghiệp vừa và nhỏ tại Ngân hàng TMCP Công thương chi
nhánh Thanh Xuân.
cứ vào quy mô đó là doanh nghiệp siêu nhỏ (micro), doanh nghiệp nhỏ và
doanh nghiệp vừa, theo tiêu chí của Ngân hàng Thế giới (World Bank).
Trong đó :
- Doanh nghiệp siêu nhỏ là doanh nghiệp có số lượng lao động dưới 10
người (tổng tài sản có trị giá không quá 100.000 USD và tổng doanh thu hàng
năm không quá 100.000 USD) 9
- Doanh nghiệp nhỏ có số lượng lao động từ 10 đến dưới 50 người (tổng
tài sản có trị giá không quá 3.000.000 USD và tổng doanh thu hàng năm không
quá 3.000.000 USD)
- Doanh nghiệp vừa có từ 50 đến 300 lao động (tổng tài sản có trị giá
không quá 15.000.000 USD và tổng doanh thu hàng năm không quá
15.000.000 USD)
Ở mỗi quốc gia, vùng lãnh thổ, người ta có những tiêu chí riêng để phân
loại, xác định Doanh nghiệp vừa và nhỏ .
* Tại Thái Lan, Nhật Bản, Malaisia, việc đánh giá Doanh nghiệp vừa và
nhỏ phải gắn với đặc điểm của từng ngành, phải tính tới số lượng Vốn và Lao
động thu hút được trong hoạt động sản xuất kinh doanh.
Ở Nhật Bản, tiêu chí xác định DNVVN được phân chia theo vốn và số lao
động, căn cứ vào lĩnh vực hoạt động cụ thể:
Bảng1.1: Tiêu chí xác định DNVVN ở Nhật Bản
Số lao động Vốn (triệu USD)
Lĩnh vực sản xuất Không quá 300 Không quá 3
Lĩnh vực buôn bán Không quá 100 Không quá 1
Lĩnh vực bán lẻ Không quá 50 Không quá 0,5
Nguồn: Trung tâm hợp tác nguồn nhân lực Việt Nam – Nhật Bản (VJCC)
Ở Thái Lan, theo qui định của Bộ Công nghiệp nước này, DNVVN được
50
Không quá 50
(1,25 triệu
USD)
51 – 200
Từ 50 – 200
(1,25tr – 5tr USD)
Bán buôn
Không quá
25
Không quá 50
(1,25 triệu
USD)
26 – 50
Từ 50 – 100
(1,25tr – 2,5tr
USD)
Bán lẻ
Không quá
15
Không quá 30
(0,75 triệu
USD)
16 - 30
Từ 30 – 60
(0,75tr – 1,75tr
USD)
Nguồn: Ngân hàng phát triển DNVVN – Thái Lan (SME Bank)
Ở Malaysia, công ty phát triển doanh nghiệp công nghiệp vừa và nhỏ
(SMIDEC) - một cơ quan trực thuộc Bộ công nghiệp và thương mại quốc tế đã
Nguồn : Đổi mới cơ chế chính sách hỗ trợ Doanh nghiệp vừa và nhỏ
1.1.2. Đặc điểm của Doanh nghiệp vừa và nhỏ
Doanh nghiệp vừa và nhỏ hiện nay có trên 370000 Doanh nghiệp, chiếm
tới trên 96% tổng số các Doanh nghiệp hoạt động theo Luật Doanh nghiệp
2005 và có đóng góp hàng năm vào GDP là trên 30%, 31% tổng giá trị công
nghiệp.
DNVVN có những điểm khác biệt so với các loại hình khác trong nền
kinh tế
Về cơ bản, DNVVN có qui mô Vốn và số lượng lao động nhỏ, không
đòi hỏi người lao động phải có trình độ quá cao, hoạt động sản xuất kinh doanh
trong hầu khắp các lĩnh vực của nền kinh tế.
Các DNVVN thể hiện được mối quan hệ hợp tác lẫn nhau trong hoạt
động sản xuất, buôn bán, đảm bảo nguyên tắc bình đẳng, đôi bên cùng có lợi.
DNVVN là nơi thu hút được lao động với chi phí thấp, do không đòi hỏi
quá cao về trình độ, góp phần giải quyết việc làm cho những lao động thất
nghiệp tạm thời sau các mùa vụ.
12
DNVVN đảm bảo sự phát triển cân đối giữa các vùng miền, do số lượng
đông đảo, có cơ sở ở nhiều nơi, tham gia vào hầu khắp các lĩnh vực hoạt động
sản xuất kinh doanh, nhạy cảm cao với các hoạt động sản xuất kinh doanh.
DNVVN luôn gặp khó khăn trong vấn đề Vốn và Công nghệ. Khả năng
tiếp cận các nguồn vốn bên ngoài của DNVVN chưa được cao, gặp nhiều trở
ngại, trình độ khoa học công nghệ trong DNVVN còn thấp.
Với những đặc điểm trên, DNVVN có các ưu, nhược điểm sau:
* Ưu điểm của các DN VVN
- Năng động, hoạt động sản xuất kinh doanh trên nhiều lĩnh vực và luôn
tỏ ra nhạy bén, thích ứng kịp thời với những diễn biến, thay đổi của thị
trường, của nền kinh tế.
pháp luật. Và tại mỗi nền kinh tế, quốc gia hay vùng lãnh thổ, các DNVVN giữ
vai trò ở những mức độ khác nhau nhưng tựu chung lại đều có những vai trò
tương đồng sau : DNVVN giữ một vai trò quan trọng trong nền kinh tế
Giúp ổn định nền kinh tế, ổn định các vấn đề vĩ mô như: thất nghiệp, lạm
phát, đóng góp vào GDP, tăng trưởng kinh tế… DNVVN làm cho nền kinh tế
năng động hơn, do có quy mô nhỏ, nên dễ điều chỉnh (xét về mặt lý thuyết)
hoạt động. DNVVN thường thực hiện chuyên môn hóa vào sản xuất một vài
chi tiết được dùng để lắp ráp thành một sản phẩm hoàn chỉnh, góp phần tạo nên
ngành công nghiệp và dịch vụ phụ trợ quan trọng, tạo thêm nhiều hàng hóa,
dịch vụ. Việc tiến hành sản xuất như vậy sẽ khiến cho sự liên kết hợp tác giữa
các DNVVN với nhau, giữa DNVVN với các Doanh nghiệp khác sẽ được mở
rộng, do đó có tác dụng bôi trơn hoạt động của nền kinh tế. Sự phát triển của
DNVVN cũng sẽ đẩy nhanh được tốc độ phát triển của nền kinh tế.
Góp phần thúc đẩy quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo ngành,
theo khu vực và thành phần kinh tế, để có thể tạo ra được một cơ cấu kinh tế
có tính đổi mới hơn và thích ứng cao hơn. Do DNVVN hoạt động trong nhiều
ngành nghề khác nhau, khi trao đổi buôn bán sẽ tạo ra được sự chuyển dịch về
14
vốn, góp phần thúc đẩy quá trình công nghiệp hóa- hiện đại hóa. Giúp tăng tỷ
trọng đóng góp của các ngành thương mại, dịch vụ, chuyển dịch nền kinh tế
theo hướng công nghiệp phát triển. DNVVN đóng góp đáng kể vào việc duy trì
và phát triển các ngành nghề truyền thống, sản xuất ra được các sản phẩm
mang đậm bản sắc dân tộc. DNVVN có thể kịp thời đáp ứng được các nhu cầu
tiêu dùng, mua sắm ngày càng phong phú, đa dạng của người dân, của xã hội
mà các doanh nghiệp có quy mô hoạt động lớn hơn không thể đáp ứng ngay
với khả năng hoạt động tốt, lành mạnh đã tạo dần nếp suy nghĩ cho người dân
nên đầu tư vào sản xuất kinh doanh thay vì trước đây tiền nhàn rỗi chỉ biết giữ,
gửi tiết kiệm hoặc mua vàng cất trữ. DNVVN là trụ cột của kinh tế địa phương,
do các doanh nghiệp lớn thường đặt tại các trung tâm kinh tế, còn DNVVN có
mặt ở hầu hết các địa bàn, giúp giải quyết nhanh chóng việc làm cho lao động
địa phương, yếu tố sản xuất tại cơ sở.
Khi nền kinh tế gặp khó khăn, khủng hoảng, DNVVN có vai trò kích cầu
nền kinh tế 1 cách mạnh mẽ (vì các doanh nghiệp này thông thường ít bị ảnh
hưởng mạnh khi nền kinh tế biến động), bằng những đóng góp vào GDP, chi
tiêu cho sản xuất kinh doanh, kích thích tiêu dùng trong nước và xuất khẩu
thông qua việc bán các sản phẩm của mình.
1.1.4. Vấn đề đối với Doanh nghiệp vừa và nhỏ
* Nhu cầu vốn đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ
Vốn là một bài toán nan giải mà bất cứ doanh nghiệp nào cũng phải đối mặt,
giải quyết trong quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh của mình.
Nhu cầu về vốn để mở rộng hoạt động sản xuất kinh doanh, nâng cao năng
lực cạnh tranh và chủ động trong việc hội nhập kinh tế toàn cầu đang là vấn đề
cấp thiết cho các doanh nghiệp, đặc biệt là đối với các doanh nghiệp vừa và
nhỏ. Nếu không có vốn để đầu tư mua máy móc, thiết bị mới, đổi mới công
nghệ, đào tạo nguồn nhân lực có trình độ cao hơn thì sẽ không thể giảm chi phí
sản xuất, đa dạng hóa chủng loại, mẫu mã sản phẩm, nâng cao chất lượng và
tăng sức cạnh tranh trên thị trường hiện nay. Thiếu vốn sản xuất, không thực
hiện được mở rộng sản xuất, tìm kiếm các thị trường, nguồn vốn mới sẽ gây
ảnh hưởng đến sự phát triển sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp. Do đó
các phương thức huy động vốn của DNVVN cần được đa dạng hoá và các
16
DNVVN cần nhạy bén hơn trong việc tiếp cận các nguồn vốn bên ngoài để có
thể khai thác được mọi nguồn lực trong nền kinh tế.
doanh nghiệp. Phương thức huy động này không đòi hỏi phải có thế chấp, thủ
tục không phức tạp nhưng lãi suất thì thường cao, số lượng vốn vay thường hạn
chế về mặt lượng. Vì vậy, nguồn vốn huy động từ thị trường tự do thường tỏ ra
phù hợp với những doanh nghiệp có nhu cầu vốn gấp.
Nguồn vốn từ hỗ trợ của Chính Phủ và các tổ chức quốc tế
Nguồn vốn này được hình thành từ Quỹ bảo lãnh tín dụng cho DNVVN,
Quỹ hỗ trợ phát triển DNVVN, 1 số Quỹ khác, và từ sự hỗ trợ rất đáng kể (lãi
suất thấp, thời gian trả nợ dài ) của các tổ chức quốc tế như IMF (quỹ tiền tệ
thế giới), World Bank, ADB Tuy nhiên, không phải doanh nghiệp nào cũng
đều nhận được sự hỗ trợ đó mà chỉ có những doanh nghiệp làm ăn hiệu quả,
hoạt động trong lĩnh vực ưu đãi đầu tư, đáp ứng được những yêu cầu hỗ trợ
mới tiếp cận được nguồn vốn này.
Có thể thấy, mặc dù Chính phủ luôn có sự quan tâm đầu tư, hỗ trợ vốn, tạo
môi trường bình đẳng để dễ tiếp nhận và cạnh tranh cho DNVVN nhưng vấn
đề về vốn của các DNVVN hiện nay vẫn còn nhiều khó khăn, vướng mắc, chưa
thể giải quyết nhanh chóng được.
1.2.> Hoạt động cho vay đối với các Doanh nghiệp vừa và nhỏ
1.2.1. Khái niệm cho vay
Theo mục 1 Điều 3 quyết định 1627/QĐ- NHNN về quy chế cho vay của tổ
chức tín dụng với khách hàng :
Cho vay là sự chuyển nhượng từ người cho vay sang người đi vay một lượng
tài sản trong một thời gian nhất định và phải hoàn trả cả gốc và lãi vô điều kiện
khi đến hạn.
Trong các nghiệp vụ chính của Ngân hàng thì cho vay là nghiệp vụ mang lại
nhiều lợi nhuận, là nguồn thu chủ yếu cho Ngân hàng. Mặc dù vậy, khi tiến
hàng cho vay, vấn đề rủi ro, khó đòi của các khoản vay là luôn tồn tại, đòi hỏi
Ngân hàng phải thực hiện tốt quy trình cho vay, giám sát hiệu quả các khoản
vay, có như vậy mới nâng cao được hiệu quả cho vay.
Thời hạn cho vay:
19
- Thời hạn cho vay được xác định cho mỗi lần vay cụ thể, và được xác
định theo chu kỳ sản xuất kinh doanh của khách hàng vay.
- Ngân hàng xác định thời hạn cho vay dựa vào: dự báo lưu chuyển tiền tệ,
chu kỳ sản xuất kinh doanh, hạng rủi ro tín dụng của khách hàng. Theo từng kì
hạn nợ trong hợp đồng, ngân hàng sẽ thu gốc và lãi.
1.2.2.2. Cho vay Hạn mức tín dụng
Đây là nghiệp vụ tín dụng theo đó Ngân hàng thỏa thuận cấp cho khách
hàng hạn mức tín dụng. Hạn mức tín dụng có thể tính cho cả kì hoặc cuối kì.
Đó là số dư tối đa tại thời điểm tính.
Đặc điểm :
- Khách hàng: hoạt động kinh doanh ổn định; lập được kế hoạch sản xuất
kinh doanh cho từng kỳ; có nhu cầu vay và trả nợ Ngân hàng thường xuyên; là
khách hàng truyền thống và có tín nhiệm cao đối với Ngân hàng.
- Hạn mức tín dụng được cấp trên cơ sở kế hoạch sản xuất kinh doanh,
nhu cầu vốn và nhu cầu vay vốn của khách hàng.
- Định kỳ hạn nợ và thời hạn tín dụng Ngân hàng không xác định trước,
tùy theo thỏa thuận, hợp đồng với khách hàng. Khi khách hàng có thu nhập,
ngân hàng sẽ thu nợ, do đó tạo chủ động quản lí ngân quỹ cho khách hàng.
Xác định hạn mức tín dụng:
Hạn mức tín dụng = Nhu cầu VLĐ kỳ kế hoạch –Vốn tự có –Vốn khác
- Nhu cầu vay vốn kỳ kế hoạch.
- Giới hạn cho vay theo tài sản đảm bảo của khách hàng.
- Khả năng nguồn vốn của Ngân hàng.
Các giới hạn quy định khác của nhà nước.
1.2.2.3. Cho vay Thấu chi
Thấu chi là nghiệp vụ cho vay qua đó ngân hàng cho phép người vay
Lãi suất trung dài hạn thường cao hơn lãi suất ngắn hạn là do :
- Rủi ro cao, do thời hạn cho vay dài hơn.
- Số vốn cho vay nhiều hơn.
21
Đối tượng vay :
+ Các doanh nghiệp lớn, có nhu cầu vay vốn thời hạn dài.
+ Cho vay tài trợ dự án (Tài trợ cho việc đầu tư mua sắm TSCĐ và xây
dựng các công trình có thời gian trên 1 năm và được dự tính mang lại thu nhập
cao trong tương lai. Khách hàng yêu cầu được vay một khoản trọn gói, dựa
trên chi phí dự tính của dự án đã đề xuất và cam kết thanh toán khoản vay làm
nhiều lần, đúng thời gian thỏa thuận).
+ Tín dụng tuần hoàn
+ Cho vay đồng tài trợ
1.2.2.5. Cho vay trả góp
Khái niệm :
Cho vay trả góp là hình thức tín dụng, theo đó Ngân hàng cho phép khách hàng
trả gốc làm nhiều lần trong thời hạn tín dụng đã thỏa thuận.
Đặc điểm :
- Cho vay trả góp thường được áp dụng đối với các khoản vay trung và dài
hạn, tài trợ cho các TSCĐ hoặc hàng lâu bền.
- Số tiền trả mỗi lần được tính toán sao cho phù hợp với khả năng trả nợ
(thường là từ khấu hao và thu nhập sau thuế của dự án, hoặc từ thu nhập hàng
kì của người tiêu dùng).
- Ngân hàng thường áp dụng cho vay trả góp đối với người tiêu dùng thông
qua hạn mức nhất định.
- Cho vay trả góp rủi ro cao do khách hàng thường thế chấp bằng hàng hóa
mua trả góp. Khả năng trả nợ phụ thuộc vào thu nhập đều đặn của người vay.
Do vậy Lãi suất cho vay trả góp thường cao nhất trong khung lãi suất cho vay
thuận thời hạn hiệu lực của hạn mức tín dụng dự phòng, mức chi trả cho hạn
mức tín dụng dự phòng.
Đặc điểm :
- Tổ chức tín dụng sẵn sàng đáp ứng nhu cầu vốn cho khách hàng, bằng đồng
Việt Nam hoặc ngoại tệ.
23
- Trong thời hạn của hợp đồng, nếu khách hàng không sử dụng hoặc sử dụng
không hết hạn mức tín dụng dự phòng, khách hàng vẫn phải trả phí cam kết
tính cho hạn mức tín dụng dự phòng đó. Mức phí cam kết này được thỏa thuận
giữa khách hàng và tổ chức tín dụng.
1.2.2.8. Cho vay thông qua nghiệp vụ phát hành và sử dụng thẻ tín dụng
Khái niệm :
Là hình thức cho vay mà Tổ chức tín dụng chấp thuận cho khách hàng được
sử dụng số vốn vay trong phạm vi hạn mức tín dụng để thanh toán tiền mua
hàng hóa, dịch vụ và rút tiền mặt tại máy rút tiền tự động hoặc điểm ứng tiền
mặt là đại lý của tổ chức tín dụng
Đặc điểm :
- Việc cho vay thông qua nghiệp vụ phát hành và sử dụng thẻ tín dụng, Tổ
chức tín dụng và khách hàng phải tuân theo các quy định của Chính phủ và
Ngân hàng Nhà nước về phát hành và sử dụng thẻ tín dụng
- Khách hàng chỉ được phép sử dụng số vốn vay trong hạn mức tín dụng, nếu
muốn chi tiêu vượt quá, phải thông báo và đề đạt nguyện vọng với Ngân hàng,
để Ngân hàng có biện pháp xử lí và áp dụng mức lãi suất cho phù hợp.
1.2.2.9. Cho vay hợp vốn
Khái niệm :
Ngân hàng cùng một hoặc một số tổ chức tín dụng khác thực hiện cho vay
đối với một dự án vay vốn hoặc phương án vay vốn của khách hàng; trong đó,
ngân hàng hoặc một tổ chức tín dụng khác làm đầu mối dàn xếp. Cho vay hợp
sẵn có của Doanh nghiệp, và mất nhiều thời gian.
Khi DNVVN tiếp cận được nguồn vốn vay, sẽ chớp được thời cơ để tiến
hành sản xuất kinh doanh, tăng thu nhập, giải quyết vấn đề việc làm, tăng đóng
góp vào thu nhập quốc dân, giúp thực hiện được những chính sách kinh tế vĩ
mô như : giảm lạm phát, thất nghiệp…
25
Giúp DNVVN có thể thực hiện dịch chuyển vốn đầu tư từ ngành này
sang ngành khác. Việc Ngân hàng, tổ chức tín dụng cho vay DNVVN thuộc
các ngành, lĩnh vực sản xuất khác nhau sẽ giúp nền kinh tế phân phối vốn vào
các ngành phù hợp với yêu cầu sử dụng vốn của ngành, của nền kinh tế một
cách hiệu quả, thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu Công nghiệp hóa – Hiện đại hóa.
Tăng sức cạnh tranh giữa các DNVVN với nhau và với các doanh
nghiệp trong và ngoài nước khác. DNVVN sẽ phải có phương án sản xuất kinh
doanh hiệu quả, quản lý tài chính tốt, không ngừng nâng cao chất lượng nguồn
lao động, có thế mới tiếp cận và sử dụng được nguồn vốn vay một cách hiệu
quả, tăng doanh thu, lợi nhuận giữ lại.
Việc tiếp cận được nguồn vốn vay cũng đặt ra cho DNVVN luôn phải có
trách nhiệm với từng đồng vốn vay khi chịu sự giám sát và kiểm tra của Ngân
hàng, tổ chức tín dụng … Qua đó thúc đẩy DNVVN kinh doanh lành mạnh,
hiệu quả hơn.
1.3.> Hiệu quả Cho vay
1.3.1. Khái niệm
Hiệu quả cho vay là sự đáp ứng tốt các yêu cầu của khách hàng về vốn vay
phù hợp với định hướng phát triển kinh tế của địa phương, cũng như của nhà
nước, đảm bảo sự tồn tại và phát triển vững chắc của Ngân hàng, đáp ứng đầy
đủ kịp thời vốn cho nhu cầu vay vốn hợp lý của doanh nghiệp cũng như tạo
tâm lý thoải mái cho doanh nghiệp trước, trong và sau khi giao dịch với Ngân
hàng.