TIỂU LUẬN:
Giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động
cho vay đối với Doanh nghiệp vừa và
nhỏ tại Ngân hàng TMCP Công thương
chi nhánh Thanh Xuân Lời mở đầu
Kể từ khi thực hiện chính sách mở cửa nền kinh tế vào năm 1986 cho đến
nay, kinh tế Việt nam đã có những bước phát triển chóng mặt và đầy triển vọng.
GDP không ngừng được cải thiện, đời sống của người dân ngày càng nâng cao
hơn, và trên hết vị thế về kinh tế, chính trị của Việt nam đã được biết đến và khẳng
định trong mắt các nước ở khu vực và trên thế giới. Trong bước chuyển mình và
phát triển đó, thì sự đóng góp của các Doanh nghiệp tư nhân, Doanh nghiệp nhà
nước và các Doanh nghiệp vừa và nhỏ là rất đáng kể. Đặc biệt là các Doanh nghiệp
vừa và nhỏ, với sự năng động, hoạt động trong nhiều lĩnh vực, và số lượng đông
chọn đề tài: “Giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động cho vay đối với Doanh
nghiệp vừa và nhỏ tại Ngân hàng TMCP Công thương chi nhánh Thanh Xuân”
cho bài viết chuyên đề tốt nghiệp này.
Nội dung chuyên đề tốt nghiệp, ngoài phần Lời mở đầu và Kết luận bài viết
chuyên đề gồm 3 phần:
- Phần một: Những lý luận cơ bản về hiệu quả cho vay đối với các Doanh
nghiệp vừa và nhỏ của Ngân hàng Thương mại.
- Phần hai: Thực trạng hoạt động cho vay đối với Doanh nghiệp vừa và nhỏ
tại Ngân hàng TMCP Công thương chi nhánh Thanh Xuân.
- Phần ba: Một số kiến nghị và giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động cho
vay Doanh nghiệp vừa và nhỏ tại Ngân hàng TMCP Công thương chi nhánh Thanh
Xuân. Mục lục
Lời mở đầu 1
Danh mục từ viết tắt 7
Chương I : Những lí luận cơ bản về hiệu quả cho vay đối với các Doanh
1.3.2.2. Các chỉ tiêu định lượng 25
1.3.3> Các nhân tố ảnh hưởng hiệu quả Cho vay 28
1.3.3.1. Các nhân tố thuộc về Ngân hàng 28
1.3.3.2. Các nhân tố thuộc về Doanh nghiệp vừa và nhỏ 31
1.3.3.3. Các nhân tố khác 32
1.3.4> Ý nghĩa của việc nâng cao hiệu quả Cho vay 33
1.3.4.1. Đối với Ngân hàng 33
1.3.4.2. Đối với Doanh nghiệp vừa và nhỏ 34
1.3.4.3. Đối với toàn bộ nền kinh tế 34
Chương II : Thực trạng hoạt động cho vay đối với Doanh nghiệp vừa và nhỏ
tại Ngân hàng TMCP Công Thương chi nhánh Thanh Xuân 35
2.1> Khái quát quá trình hình thành, phát triển và hoạt động của Ngân
hàng TMCP Công Thương chi nhánh Thanh Xuân 35
2.1.1. Quá trình hình thành và phát triển của Ngân hàng TMCP Công thương
Thanh Xuân 35
2.1.2. Cơ cấu tổ chức của Ngân hàng TMCP Công thương Thanh Xuân 38
2.1.3. Tình hình hoạt động kinh doanh của Ngân hàng TMCP Công thương
chi nhánh Thanh Xuân 41
2.1.3.1. Hoạt động huy động vốn 41
2.1.3.2. Hoạt động cho vay 44
2.1.3.3. Hoạt động Tài trợ thương mại 47
2.1.3.4. Hoạt động khác 48
2.1.4. Kết quả hoạt động kinh doanh 49
2.2> Thực trạng hoạt động cho vay các Doanh nghiệp vừa và nhỏ tại Ngân
hàng TMCP Công thương chi nhánh Thanh Xuân 50
2.2.1. Doanh số cho vay 51
2.2.2. Doanh số thu nợ 52
2.2.3. Dư nợ cho vay và Cơ cấu dư nợ 54
2.2.4. Tình hình nợ quá hạn 59
3.3.3. Đối với Ngân hàng TMCP Công thương Việt Nam 81
Kết Luận 82
Danh mục tài liệu tham khảo 83 Danh mục từ viết tắt
Từ viết tắt
1>. DNVVN
2>. DNNN
3>. TSĐB
4>. LN
5>.NHNN
6>. VLĐ
7>. TSCĐ
8>. TSLĐ
9>. NHTMCP CT
10>. TMCP
11>. NHTM Doanh nghiệp vừa và nhỏ
Doanh nghiệp Nhà nước
Tài sản đảm bảo
Lợi nhuận
vừa, theo tiêu chí của Ngân hàng Thế giới (World Bank).
Trong đó :
- Doanh nghiệp siêu nhỏ là doanh nghiệp có số lượng lao động dưới 10 người
(tổng tài sản có trị giá không quá 100.000 USD và tổng doanh thu hàng năm không
quá 100.000 USD)
- Doanh nghiệp nhỏ có số lượng lao động từ 10 đến dưới 50 người (tổng tài
sản có trị giá không quá 3.000.000 USD và tổng doanh thu hàng năm không quá
3.000.000 USD)
- Doanh nghiệp vừa có từ 50 đến 300 lao động (tổng tài sản có trị giá không
quá 15.000.000 USD và tổng doanh thu hàng năm không quá 15.000.000 USD)
Ở mỗi quốc gia, vùng lãnh thổ, người ta có những tiêu chí riêng để phân loại,
xác định Doanh nghiệp vừa và nhỏ .
* Tại Thái Lan, Nhật Bản, Malaisia, việc đánh giá Doanh nghiệp vừa và nhỏ
phải gắn với đặc điểm của từng ngành, phải tính tới số lượng Vốn và Lao động thu
hút được trong hoạt động sản xuất kinh doanh.
Ở Nhật Bản, tiêu chí xác định DNVVN được phân chia theo vốn và số lao động,
căn cứ vào lĩnh vực hoạt động cụ thể:
Bảng1.1: Tiêu chí xác định DNVVN ở Nhật Bản
Số lao động Vốn (triệu USD)
Lĩnh vực sản xuất Không quá 300 Không quá 3
Lĩnh vực buôn bán Không quá 100 Không quá 1
Lĩnh vực bán lẻ Không quá 50 Không quá 0,5
Nguồn: Trung tâm hợp tác nguồn nhân lực Việt Nam – Nhật Bản (VJCC)
Ở Thái Lan, theo qui định của Bộ Công nghiệp nước này, DNVVN được xác
định theo qui mô về số lao động và giá trị tài sản cố định, không kể đất đai. Theo
Từ 50 – 200
(1,25tr – 5tr USD)
Bán buôn
Không quá
25
Không quá 50
(1,25 triệu USD)
26 – 50
Từ 50 – 100
(1,25tr – 2,5tr USD)
Bán lẻ
Không quá
15
Không quá 30
(0,75 triệu USD)
16 - 30
Từ 30 – 60
(0,75tr – 1,75tr USD)
Nguồn: Ngân hàng phát triển DNVVN – Thái Lan (SME Bank)
Ở Malaysia, công ty phát triển doanh nghiệp công nghiệp vừa và nhỏ
(SMIDEC) - một cơ quan trực thuộc Bộ công nghiệp và thương mại quốc tế đã đưa
ra một định nghĩa về DNVVN, dần dần được chấp nhận một cách rộng rãi. Theo
đó DNVVN được định nghĩa chung là một công ty, một xí nghiệp hay một doanh
nghiệp có doanh thu hàng năm vào khoảng 25 triệu Ringit (tương đương 6,6 triệu
USD) và không có quá 150 công nhân làm việc cả ngày.
* Ở Trung quốc, DNVVN không căn cứ vào số lao động mà dựa trên hoạt
động hàng năm của doanh nghiệp hoặc tổng tài sản của doanh nghiệp đó. Một
DNVVN có những điểm khác biệt so với các loại hình khác trong nền kinh tế
Về cơ bản, DNVVN có qui mô Vốn và số lượng lao động nhỏ, không đòi
hỏi người lao động phải có trình độ quá cao, hoạt động sản xuất kinh doanh trong
hầu khắp các lĩnh vực của nền kinh tế.
Các DNVVN thể hiện được mối quan hệ hợp tác lẫn nhau trong hoạt động
sản xuất, buôn bán, đảm bảo nguyên tắc bình đẳng, đôi bên cùng có lợi.
DNVVN là nơi thu hút được lao động với chi phí thấp, do không đòi hỏi
quá cao về trình độ, góp phần giải quyết việc làm cho những lao động thất nghiệp
tạm thời sau các mùa vụ.
DNVVN đảm bảo sự phát triển cân đối giữa các vùng miền, do số lượng
đông đảo, có cơ sở ở nhiều nơi, tham gia vào hầu khắp các lĩnh vực hoạt động sản
xuất kinh doanh, nhạy cảm cao với các hoạt động sản xuất kinh doanh.
DNVVN luôn gặp khó khăn trong vấn đề Vốn và Công nghệ. Khả năng tiếp
cận các nguồn vốn bên ngoài của DNVVN chưa được cao, gặp nhiều trở ngại, trình
độ khoa học công nghệ trong DNVVN còn thấp.
Với những đặc điểm trên, DNVVN có các ưu, nhược điểm sau:
* Ưu điểm của các DN VVN
- Năng động, hoạt động sản xuất kinh doanh trên nhiều lĩnh vực và luôn tỏ
ra nhạy bén, thích ứng kịp thời với những diễn biến, thay đổi của thị trường, của
nền kinh tế.
- Luôn thu hút được một lực lượng đông đảo lao động, giúp giải quyết vấn
đề thất nghiệp tạm thời sau các mùa vụ ở các địa phương.
- DNVVN có thể nhanh chóng tiến hành đổi mới thiết bị công nghệ để có
thể cạnh tranh được với các doanh nghiệp khác.
- Hệ thống, cơ cấu tổ chức gọn nhẹ, năng động nên tiết kiệm được chi phí
quản lý của doanh nghiệp, góp phần làm tăng lợi nhuận cho doanh nghiệp.
DNVVN giữ một vai trò quan trọng trong nền kinh tế
Giúp ổn định nền kinh tế, ổn định các vấn đề vĩ mô như: thất nghiệp, lạm
phát, đóng góp vào GDP, tăng trưởng kinh tế… DNVVN làm cho nền kinh tế năng
động hơn, do có quy mô nhỏ, nên dễ điều chỉnh (xét về mặt lý thuyết) hoạt động.
DNVVN thường thực hiện chuyên môn hóa vào sản xuất một vài chi tiết được
dùng để lắp ráp thành một sản phẩm hoàn chỉnh, góp phần tạo nên ngành công
nghiệp và dịch vụ phụ trợ quan trọng, tạo thêm nhiều hàng hóa, dịch vụ. Việc tiến
hành sản xuất như vậy sẽ khiến cho sự liên kết hợp tác giữa các DNVVN với nhau,
giữa DNVVN với các Doanh nghiệp khác sẽ được mở rộng, do đó có tác dụng bôi
trơn hoạt động của nền kinh tế. Sự phát triển của DNVVN cũng sẽ đẩy nhanh được
tốc độ phát triển của nền kinh tế.
Góp phần thúc đẩy quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo ngành,
theo khu vực và thành phần kinh tế, để có thể tạo ra được một cơ cấu kinh tế có
tính đổi mới hơn và thích ứng cao hơn. Do DNVVN hoạt động trong nhiều ngành
nghề khác nhau, khi trao đổi buôn bán sẽ tạo ra được sự chuyển dịch về vốn, góp
phần thúc đẩy quá trình công nghiệp hóa- hiện đại hóa. Giúp tăng tỷ trọng đóng
góp của các ngành thương mại, dịch vụ, chuyển dịch nền kinh tế theo hướng công
nghiệp phát triển. DNVVN đóng góp đáng kể vào việc duy trì và phát triển các
ngành nghề truyền thống, sản xuất ra được các sản phẩm mang đậm bản sắc dân
tộc. DNVVN có thể kịp thời đáp ứng được các nhu cầu tiêu dùng, mua sắm ngày
càng phong phú, đa dạng của người dân, của xã hội mà các doanh nghiệp có quy
mô hoạt động lớn hơn không thể đáp ứng ngay lập tức được.
Đóng vai trò quan trọng trong lưu thông hàng hoá và cung ứng dịch vụ.
DNVVN có mặt ở nhiều địa phương, là nơi sẵn có các nguồn nguyên liệu như :
nông sản, dược liệu, lợi thế về các ngành nghề thủ công truyền thống… đã tạo ra
được số lượng hàng hóa lớn, đa dạng, nhiều chủng loại, không những đáp ứng
Khi nền kinh tế gặp khó khăn, khủng hoảng, DNVVN có vai trò kích cầu nền
kinh tế 1 cách mạnh mẽ (vì các doanh nghiệp này thông thường ít bị ảnh hưởng
mạnh khi nền kinh tế biến động), bằng những đóng góp vào GDP, chi tiêu cho sản
xuất kinh doanh, kích thích tiêu dùng trong nước và xuất khẩu thông qua việc bán
các sản phẩm của mình.
1.1.4. Vấn đề đối với Doanh nghiệp vừa và nhỏ
* Nhu cầu vốn đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ
Vốn là một bài toán nan giải mà bất cứ doanh nghiệp nào cũng phải đối mặt, giải
quyết trong quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh của mình.
Nhu cầu về vốn để mở rộng hoạt động sản xuất kinh doanh, nâng cao năng lực
cạnh tranh và chủ động trong việc hội nhập kinh tế toàn cầu đang là vấn đề cấp
thiết cho các doanh nghiệp, đặc biệt là đối với các doanh nghiệp vừa và nhỏ. Nếu
không có vốn để đầu tư mua máy móc, thiết bị mới, đổi mới công nghệ, đào tạo
nguồn nhân lực có trình độ cao hơn thì sẽ không thể giảm chi phí sản xuất, đa dạng
hóa chủng loại, mẫu mã sản phẩm, nâng cao chất lượng và tăng sức cạnh tranh trên
thị trường hiện nay. Thiếu vốn sản xuất, không thực hiện được mở rộng sản xuất,
tìm kiếm các thị trường, nguồn vốn mới sẽ gây ảnh hưởng đến sự phát triển sản
xuất kinh doanh của các doanh nghiệp. Do đó các phương thức huy động vốn của
DNVVN cần được đa dạng hoá và các DNVVN cần nhạy bén hơn trong việc tiếp
cận các nguồn vốn bên ngoài để có thể khai thác được mọi nguồn lực trong nền
kinh tế.
* Các nguồn cung cấp vốn cho doanh nghiệp vừa và nhỏ
DNVVN ở nước ta chiếm 96% trong tổng số trên 370.000 doanh nghiệp
hoạt động theo Luật doanh nghiệp 2005, đóng góp hàng năm trên 30% GDP, tạo ra
khoảng 53% việc làm phi nông nghiệp ở nông thôn và 30% lực lượng lao động
trong cả nước. Mặc dù thể hiện được vai trò quan trọng của mình đối với nền kinh
thời gian trả nợ dài ) của các tổ chức quốc tế như IMF (quỹ tiền tệ thế giới), World
Bank, ADB Tuy nhiên, không phải doanh nghiệp nào cũng đều nhận được sự hỗ
trợ đó mà chỉ có những doanh nghiệp làm ăn hiệu quả, hoạt động trong lĩnh vực ưu
đãi đầu tư, đáp ứng được những yêu cầu hỗ trợ mới tiếp cận được nguồn vốn này.
Có thể thấy, mặc dù Chính phủ luôn có sự quan tâm đầu tư, hỗ trợ vốn, tạo môi
trường bình đẳng để dễ tiếp nhận và cạnh tranh cho DNVVN nhưng vấn đề về vốn
của các DNVVN hiện nay vẫn còn nhiều khó khăn, vướng mắc, chưa thể giải quyết
nhanh chóng được.
1.2.> Hoạt động cho vay đối với các Doanh nghiệp vừa và nhỏ
1.2.1. Khái niệm cho vay
Theo mục 1 Điều 3 quyết định 1627/QĐ- NHNN về quy chế cho vay của tổ
chức tín dụng với khách hàng :
Cho vay là sự chuyển nhượng từ người cho vay sang người đi vay một lượng tài
sản trong một thời gian nhất định và phải hoàn trả cả gốc và lãi vô điều kiện khi
đến hạn.
Trong các nghiệp vụ chính của Ngân hàng thì cho vay là nghiệp vụ mang lại
nhiều lợi nhuận, là nguồn thu chủ yếu cho Ngân hàng. Mặc dù vậy, khi tiến hàng
cho vay, vấn đề rủi ro, khó đòi của các khoản vay là luôn tồn tại, đòi hỏi Ngân
hàng phải thực hiện tốt quy trình cho vay, giám sát hiệu quả các khoản vay, có như
vậy mới nâng cao được hiệu quả cho vay.
1.2.2. Các hình thức cho vay đối với Doanh nghiệp vừa và nhỏ
- Căn cứ vào thời hạn vay có các hình thức : Cho vay ngắn hạn, Cho vay Trung
và dài hạn
- Căn cứ vào hình thức cấp tín dụng có : Cho vay Thấu chi, Cho vay từng lần,
Cho vay theo hạn mức, Cho vay luân chuyển
- Căn cứ vào Tài Sản Đảm bảo có : Cho vay có TSĐB, Cho vay không có TSĐB
1.2.2.2. Cho vay Hạn mức tín dụng
Đây là nghiệp vụ tín dụng theo đó Ngân hàng thỏa thuận cấp cho khách
hàng hạn mức tín dụng. Hạn mức tín dụng có thể tính cho cả kì hoặc cuối kì. Đó là
số dư tối đa tại thời điểm tính.
Đặc điểm :
- Khách hàng: hoạt động kinh doanh ổn định; lập được kế hoạch sản xuất
kinh doanh cho từng kỳ; có nhu cầu vay và trả nợ Ngân hàng thường xuyên; là
khách hàng truyền thống và có tín nhiệm cao đối với Ngân hàng.
- Hạn mức tín dụng được cấp trên cơ sở kế hoạch sản xuất kinh doanh, nhu
cầu vốn và nhu cầu vay vốn của khách hàng.
- Định kỳ hạn nợ và thời hạn tín dụng Ngân hàng không xác định trước, tùy
theo thỏa thuận, hợp đồng với khách hàng. Khi khách hàng có thu nhập, ngân hàng
sẽ thu nợ, do đó tạo chủ động quản lí ngân quỹ cho khách hàng.
Xác định hạn mức tín dụng:
Hạn mức tín dụng = Nhu cầu VLĐ kỳ kế hoạch –Vốn tự có –Vốn khác
- Nhu cầu vay vốn kỳ kế hoạch.
- Giới hạn cho vay theo tài sản đảm bảo của khách hàng.
- Khả năng nguồn vốn của Ngân hàng.
Các giới hạn quy định khác của nhà nước.
1.2.2.3. Cho vay Thấu chi
Thấu chi là nghiệp vụ cho vay qua đó ngân hàng cho phép người vay được
chi trội (vượt) trên số dư tài khoản thanh toán của mình đến một giới hạn nhất định
và trong khoảng thời gian xác định. Giới hạn này được gọi là hạn mức thấu chi.
Đặc điểm thấu chi:
- Đối tượng khách hàng: là khách hàng truyền thống, có tình hình tài chính
cực kỳ lành mạnh, đáng tin cậy, có thu – chi thường xuyên, giao dịch thường
+ Cho vay tài trợ dự án (Tài trợ cho việc đầu tư mua sắm TSCĐ và xây dựng
các công trình có thời gian trên 1 năm và được dự tính mang lại thu nhập cao
trong tương lai. Khách hàng yêu cầu được vay một khoản trọn gói, dựa trên chi phí
dự tính của dự án đã đề xuất và cam kết thanh toán khoản vay làm nhiều lần, đúng
thời gian thỏa thuận).
+ Tín dụng tuần hoàn
+ Cho vay đồng tài trợ
1.2.2.5. Cho vay trả góp
Khái niệm :
Cho vay trả góp là hình thức tín dụng, theo đó Ngân hàng cho phép khách hàng trả
gốc làm nhiều lần trong thời hạn tín dụng đã thỏa thuận.
Đặc điểm :
- Cho vay trả góp thường được áp dụng đối với các khoản vay trung và dài hạn,
tài trợ cho các TSCĐ hoặc hàng lâu bền.
- Số tiền trả mỗi lần được tính toán sao cho phù hợp với khả năng trả nợ
(thường là từ khấu hao và thu nhập sau thuế của dự án, hoặc từ thu nhập hàng kì
của người tiêu dùng).
- Ngân hàng thường áp dụng cho vay trả góp đối với người tiêu dùng thông qua
hạn mức nhất định.
- Cho vay trả góp rủi ro cao do khách hàng thường thế chấp bằng hàng hóa mua
trả góp. Khả năng trả nợ phụ thuộc vào thu nhập đều đặn của người vay. Do vậy
Lãi suất cho vay trả góp thường cao nhất trong khung lãi suất cho vay của Ngân
hàng.
1.2.2.6. Chiết khấu thương phiếu
Khái niệm
Chiết khấu Thương phiếu là một nghiệp vụ tín dụng ngắn hạn, trong đó khách
Việt Nam hoặc ngoại tệ.
- Trong thời hạn của hợp đồng, nếu khách hàng không sử dụng hoặc sử dụng
không hết hạn mức tín dụng dự phòng, khách hàng vẫn phải trả phí cam kết tính
cho hạn mức tín dụng dự phòng đó. Mức phí cam kết này được thỏa thuận giữa
khách hàng và tổ chức tín dụng.
1.2.2.8. Cho vay thông qua nghiệp vụ phát hành và sử dụng thẻ tín dụng
Khái niệm :
Là hình thức cho vay mà Tổ chức tín dụng chấp thuận cho khách hàng được sử
dụng số vốn vay trong phạm vi hạn mức tín dụng để thanh toán tiền mua hàng hóa,
dịch vụ và rút tiền mặt tại máy rút tiền tự động hoặc điểm ứng tiền mặt là đại lý
của tổ chức tín dụng
Đặc điểm :
- Việc cho vay thông qua nghiệp vụ phát hành và sử dụng thẻ tín dụng, Tổ chức tín
dụng và khách hàng phải tuân theo các quy định của Chính phủ và Ngân hàng Nhà
nước về phát hành và sử dụng thẻ tín dụng
- Khách hàng chỉ được phép sử dụng số vốn vay trong hạn mức tín dụng, nếu muốn
chi tiêu vượt quá, phải thông báo và đề đạt nguyện vọng với Ngân hàng, để Ngân
hàng có biện pháp xử lí và áp dụng mức lãi suất cho phù hợp.
1.2.2.9. Cho vay hợp vốn
Khái niệm :
Ngân hàng cùng một hoặc một số tổ chức tín dụng khác thực hiện cho vay đối
với một dự án vay vốn hoặc phương án vay vốn của khách hàng; trong đó, ngân
hàng hoặc một tổ chức tín dụng khác làm đầu mối dàn xếp. Cho vay hợp vốn được
thực hiện theo quy chế đồng tài trợ của Ngân hàng Nhà nước và hướng dẫn của
ngân hàng .
Đặc điểm :
hành sản xuất kinh doanh, tăng thu nhập, giải quyết vấn đề việc làm, tăng đóng góp
vào thu nhập quốc dân, giúp thực hiện được những chính sách kinh tế vĩ mô như :
giảm lạm phát, thất nghiệp…
Giúp DNVVN có thể thực hiện dịch chuyển vốn đầu tư từ ngành này sang
ngành khác. Việc Ngân hàng, tổ chức tín dụng cho vay DNVVN thuộc các ngành,
lĩnh vực sản xuất khác nhau sẽ giúp nền kinh tế phân phối vốn vào các ngành phù
hợp với yêu cầu sử dụng vốn của ngành, của nền kinh tế một cách hiệu quả, thúc
đẩy chuyển dịch cơ cấu Công nghiệp hóa – Hiện đại hóa.
Tăng sức cạnh tranh giữa các DNVVN với nhau và với các doanh nghiệp
trong và ngoài nước khác. DNVVN sẽ phải có phương án sản xuất kinh doanh hiệu
quả, quản lý tài chính tốt, không ngừng nâng cao chất lượng nguồn lao động, có
thế mới tiếp cận và sử dụng được nguồn vốn vay một cách hiệu quả, tăng doanh
thu, lợi nhuận giữ lại.
Việc tiếp cận được nguồn vốn vay cũng đặt ra cho DNVVN luôn phải có
trách nhiệm với từng đồng vốn vay khi chịu sự giám sát và kiểm tra của Ngân
hàng, tổ chức tín dụng … Qua đó thúc đẩy DNVVN kinh doanh lành mạnh, hiệu
quả hơn.
1.3.> Hiệu quả Cho vay
1.3.1. Khái niệm
Hiệu quả cho vay là sự đáp ứng tốt các yêu cầu của khách hàng về vốn vay phù
hợp với định hướng phát triển kinh tế của địa phương, cũng như của nhà nước,
đảm bảo sự tồn tại và phát triển vững chắc của Ngân hàng, đáp ứng đầy đủ kịp thời
vốn cho nhu cầu vay vốn hợp lý của doanh nghiệp cũng như tạo tâm lý thoải mái
cho doanh nghiệp trước, trong và sau khi giao dịch với Ngân hàng.
Hiệu quả cho vay phải được xét ở cả hai mặt là hiệu quả kinh tế và lợi ích xã
hội:
khách hàng. Nếu các bước cho vay đơn giản thuận tiện, thời gian quyết định cho
vay nhanh chóng thì nhu cầu của khách hàng được đáp ứng đầy đủ, kịp thời, khách
hàng có thể chớp được thời cơ kinh doanh tốt, mang lại lợi ích kinh tế, hiệu quả
công tác tín dụng sẽ được đánh giá cao. Như vậy, thái độ của cán bộ tín dụng Ngân
hàng trước, trong và sau khi cho vay, quy trình tín dụng Ngân hàng là rất quan
trọng cho việc đánh giá, thỏa mãn của khách hàng.
b) Sự tuân thủ các Văn bản Pháp luật về hoạt động cho vay của Ngân hàng
Các Ngân hàng, tổ chức tín dụng khi tiến hành, thực hiện hoạt động cho vay
của mình, đều phải tuân theo Luật Ngân hàng và Luật các tổ chức tín dụng, các
quy chế, quy trình nghiệp vụ, chế độ thể lệ tín dụng và các văn bản chỉ đạo của
Ngân hàng Nhà nước cũng như của Chính phủ trong quá trình thực hiện quy trình
cho vay. Các văn bản này được thiết lập nhằm phòng chống, hạn chế rủi ro có thể
xảy ra trong hoạt động của Ngân hàng, giúp nâng cao hiệu quả của việc cho vay
nói riêng và hiệu quả hoạt động của Ngân hàng nói chung. Việc này càng đặc biệt
quan trọng đối với các Ngân hàng khi cho vay DNVVN vì cho vay đối tượng này
ẩn chứa nhiều rủi ro. Mặc dù vậy, việc thực thi các văn bản này còn phụ thuộc vào
trình độ năng lực chuyên môn nghiệp vụ của cán bộ tín dụng, cũng như năng lực
chỉ đạo, điều hành của cơ quan quản lý.
1.3.2.2. Các chỉ tiêu định lượng
a) Doanh số Cho vay
Chỉ tiêu này phản ánh giá trị các khoản cho vay trong năm, thể hiện khả năng
thu hút khách hàng và khả năng mở rộng tín dụng của Ngân hàng. Nếu hiệu quả
cho vay được nhìn nhận trên hai phương diện là khả năng cho vay và khả năng thu
hồi vốn vay thì doanh số cho vay nhiều và có tốc độ tăng trưởng cao mới chỉ cho
thấy Ngân hàng có khả năng thu hút khách hàng, khả năng luân chuyển vốn tốt,
nhưng chưa nói lên được khả năng thu hồi các khoản cho vay đó. Doanh số cho
vay cao mới chỉ đảm bảo cho sự mở rộng về tín dụng cho ngân hàng.
b) Doanh số Thu nợ