Download Đề tài Tác động của đầu tư trực tiếp nước ngoài tới tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam miễn phí
MỤC LỤC
MỤC LỤC . II
DANH MỤC ĐỒTHỊ. iii
GIỚI THIỆU.1
CHƯƠNG MỘT ĐẦU TƯTRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI ỞVIỆT NAM TỪ1988 ĐẾN NAY5
I. ĐẦU TƯTRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI TẠI VIỆT NAM VÀ VAI TRÒ CỦA KHU VỰC
CÓ VỐN ĐẦU TƯNƯỚC NGOÀI ĐỐI VỚI NỀN KINH TẾ.5
1.1. Tổng quan diễn biến thu hút và thực hiện FDI tại Việt Nam giai đoạn 1988-2003.5
1.1.1 Các giai đoạn phát triển .5
1.1.2. Một số đặc điểm của FDI tại Việt Nam.7
1.2. Vai trò của khu vực FDI với nền kinh tếViệt Nam.9
1.2.1. FDI đối với vốn dầu tưxã hội và tăng trưởng kinh tế.10
1.2.2. FDI với việc nâng cao năng lực sản xuất công nghiệp và xuất khẩu .11
1.2.3. FDI đối với việc làm và cải thiện nguồn nhân lực .12
1.2.4. FDI với nguồn thu ngân sách Nhà nước và các cân đối vĩmô.12
II. TỔNG QUAN CHÍNH SÁCH THU HÚT FDI ỞVIỆT NAM .13
2.1. Khung khổchính sách thu hút FDI .13
2.2. Chuyển biến vềnhận thức và quan điểm của Việt Nam vềvai trò của FDI .15
2.3. So sánh chính sách thu hút FDI hiện hành của Việt Nam với một sốnước.16
2.4. Những cam kết quốc tếcủa Việt Nam về đầu tưnước ngoài .20
CHƯƠNG HAI: KHUNG KHỔPHÂN TÍCH .22
I. CƠSỞLÝ THUYẾT VỀTÁC ĐỘNG CỦA FDI TỚI TĂNG TRƯỞNG .22
1.1. Các kênh tác động.22
1.2. Cơsởlý thuyết vềtác động của FDI tới tăng trưởng thông qua kênh đầu tư.23
1.3. Cơsởlý thuyết đánh giá tác động tràn của FDI.27
1.3.1. Cơchếsinh ra tác động tràn .27
1.3.2. Mô hình ước lượng .31
II. ĐIỂM QUA MỘT SỐNGHIÊN CỨU ĐỊNH LƯỢNG VỀTÁC ĐỘNG CỦA FDI TỚI
TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ.35
CHƯƠNG BA: TÁC ĐỘNG CỦA FDI TỚI TĂNG TRƯỞNG QUA KÊNH ĐẦU TƯ.38
I. MÔ HÌNH ĐÁNH GIÁ TÁC ĐỘNG .38
II. SỐLIỆU .38
III. KẾT QUẢ ĐÁNH GIÁ .39
CHƯƠNG BỐN: TÁC ĐỘNG TRÀN CỦA ĐẦU TƯTRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI .45
I. MỘT SỐPHÂN TÍCH ĐỊNH TÍNH .45
1.1. Thông tin chung vềmẫu điều tra .45
1.2. Lao động, vốn đầu tưvà kết quảsản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.46
1.3. Nhận dạng các biểu hiện của tác động tràn .49
II. ĐÁNH GIÁ ĐỊNH LƯỢNG TÁC ĐỘNG TRÀN .56
2.1. Sốliệu.56
2. 2. FDI và năng suất lao động của doanh nghiệp nói chung .58
2.2.1. Mô hình.58
2.2.2. Kết quảvà đánh giá .60
2.3. Tác động tràn của FDI tới năng suất lao động của doanh nghiệp trong nước .66
2.3.1. Mô hình.66
2.3.2. Kết quảvà đánh giá .69
2.3. Khảnăng hấp thụtác động tràn của doanh nghiệp trong nước .76
CHƯƠNG NĂM: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊCHÍNH SÁCH.81
5.1. Một sốkết luận.81
5.2. Kiến nghịchính sách .85
TÀI LIỆU THAM KHẢO .91
/tai-lieu/de-tai-ung-dung-tren-liketly-17153/
++ Ai muốn tải bản DOC Đầy Đủ thì Trả lời bài viết này, mình sẽ gửi Link download cho!Tóm tắt nội dung:
(3.41)
0.31***
(2.3)
0.41***
(4.42
0.42***
(4.4)
FDIt 0.16
(1.19)
0.33**
(2.51)
-8.1**
(-2.61)
26.35***
(3.02)
5.1***
(3.66)
thoinhapkt -0.005*** (-2.47)
-0.005***
(-2.55)
-0.006***
(-2.99)
-0.0008
(-0.54)
0.0004
(0.25)
(FDI* HS ) t 1.02**
(2.51)
25.88***
(2.74)
(FDI* HBC ) t -27.9***
(-2.99)
(FDI* HP ) t -18.7***
(-3.53)
R hiệu chỉnh 0.586 0.633 0.64 0.69 0.72 0.75
Số quan sát 60 60 60 60 60 60
Ghi chú:
1. Thống kê t được ghi trong dấu ngoặc.
2. Các dấu *, **, *** thể hiện hệ số có ý nghĩa về mặt thống kê ở mức ý nghĩa tương ứng 10%; 5% và 1%.
3. Tất cả các kiểm định sử dụng sai số chuẩn điều chỉnh phương sai không đồng đều White52.
Kiểm định mô hình với giả định nền kinh tế đóng53 (ước lượng I) cho thấy vốn con
người và FDI đều không có tác động rõ rệt tới tăng trưởng kinh tế, mặc dù cả hai hệ số đều
mang dấu dương. Hội nhập kinh tế của Việt Nam, đánh dấu bằng việc gia nhập ASEAN từ
quí III năm 1995, vừa có tác động tiêu cực, vừa tích cực tới tổng thể nền kinh tế, thể hiện ở
mô hình II đến IV. Tác động tích cực thể hiện qua sự tăng về số tuyệt đối của hệ số của
52 Phương sai không đồng đều (Heteroskedasticity) là hiện tượng một biến độc lập trong mô hình có quan hệ một
cách hệ thống với sai số của mô hình. Việc tồn tại phương sai không đồng đều trong mô hình tuy không làm ảnh
hưởng tới kết quả hệ số ước lượng tức là hệ số ước lượng vẫn thống nhất (consistent) và không chệch (unbiased)
nhưng lại làm ảnh hưởng tới phương sai của hệ số và vì vậy làm cho kiểm định F và kiểm định t ít có ý nghĩa.
Hiện tượng này khá phổ biến với chuối số liệu chéo.
53 Xin lưu ý, ý ở đây là chỉ nền kinh tế đóng cửa theo nghĩa “chính thức”. Vì trên thực tế Việt Nam đã mở cửa từ
trước, thể hiện qua ban hành Luật đầu tư nước ngoài và mở rộng kinh tế đối ngoại ngay sau khi tiến hành Đổi
mới.
TÁC ĐỘNG CỦA FDI TỚI TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ Ở VIỆT NAM
Trang 42
biến FDIt và ý nghĩa thống kê của hệ số ước lượng, tức là FDI có tác động tích cực tới tăng
trưởng kinh tế. Kết quả này khẳng định lại những đánh giá định tính trước đây cho rằng,
hội nhập mang lại cơ hội thuận lợi, nhưng cũng có khó khăn, thách thức cho nền kinh tế.
Theo kết quả ước lượng ở Bảng 3 thì tác động tiêu cực là rất nhỏ và tác động tích cực là
lớn, thể hiện qua hệ số dương và có ý nghĩa thống kê của biến FDI.
Ước lượng III kiểm định mối tương tác giữa FDI và vốn con người và tác động của
mối tương tác này tới tăng trưởng kinh tế, do vậy ước lượng này không kiểm soát biến
FDIt. Kết quả khẳng định tồn tại mối tương tác này đối với FDI ở Việt Nam cũng như tác
động của mối tương tác đó tới tăng trưởng kinh tế ở mức ý nghĩa 5%. Như vậy, kết quả
ước lượng cũng trùng với một số kết luận rút ra từ một số nghiên cứu khác trên thế giới. Ví
dụ Borensztein và đồng sự (1995) cũng đi đến mối quan hệ tích cực giữa FDI và vốn con
người trong một nghiên cứu cho 69 nước đang phát triển sử dụng số liệu hỗn hợp.
Ước lượng IV kiểm soát đồng thời tác động riêng của từng biến và mối tương tác
giữa FDI và vốn con người tới tăng trưởng. Kết quả cho thấy có sự đổi dấu của hệ số của
biến tHS và biến tFDI từ dương sang âm và cả hai đều có ý nghĩa thống kê, trong khi
mối tương tác tích cực giữa hai biến này tiếp tục được khẳng định. Điều này cho thấy,
trong trường hợp của Việt Nam, vốn con người là một đại lượng xác định đóng góp của
FDI vào tăng trưởng kinh tế. Sự đổi dấu của hệ số ước lượng cho hai biến tFDI và tHS
cho biết trình độ của lực lượng lao động Việt Nam đang là một yếu tố làm hạn chế đóng
góp của FDI tới tăng trưởng. Kết quả này trùng hợp với đánh giá của Borensztein (1995)
khi cho rằng lợi ích mà FDI mang lại cho nước nhận đầu tư, trước hết là đóng góp của FDI
vào tăng trưởng, còn phụ thuộc vào khả năng hấp thụ của một nước (đo bằng sự tương tác
giữa FDI và tHS ) và để tiếp thu được lợi ích đó (ví dụ công nghệ tiên tiến) thì vốn con
người cần đạt được một ngưỡng tối thiểu nhất định. Nói cách khác, trình độ lao động quá
thấp sẽ giới hạn tác động của FDI tới tăng trưởng.
Để tiếp tục kiểm định kết quả rút ra ở kiểm định IV, trong các ước lượng tiếp theo
các biến tHP và tHBC được lần lượt thay cho biến tHS , trong đó tHP biểu thị trình độ lao
động ở mức thấp hơn so với tHS , trong khi tHBC biểu thị vốn con người ở giác độ chung
cho cả nước (kể cả lực lượng lao động và dân số không đi làm) chỉ là để tham khảo. So
sánh kết quả ở ước lượng IV và ước lượng VI cho thấy, nếu xét riêng từng yếu tố thì vốn
con người (là tHP ) và tFDI đều đóng góp vào tăng trưởng, tuy nhiên sự tương tác giữa
TÁC ĐỘNG CỦA FDI TỚI TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ Ở VIỆT NAM
Trang 43
hai yếu tố này không có lợi cho tăng trưởng. Điều này khẳng định lại một lần nữa, trình độ
lao động thấp là một yếu tố hạn chế tác động của FDI tới tăng trưởng kinh tế. Ở một góc
độ khác có thể nói rằng, vốn FDI vẫn phát huy tác động trong trường hợp trình độ lao động
quá thấp, nhưng các tác động tràn tích cực (như chuyển giao công nghệ, di chuyển lao
động hay liên kết theo kiểu cung ứng và tiêu thụ sản phẩm trung gian) khó xảy ra hơn.
Đồng thời tác động tiêu cực (như gây áp lực cạnh tranh cho các doanh nghiệp trong nước
khi FDI xuất hiện) có thể mạnh hơn và hệ quả này là không tốt cho cả nền kinh tế. Một số
nhận xét này sẽ được kiểm định lại trong phần đánh giá tác động tràn ở Chương Bốn.
Để kiểm định sự xuất hiện cuả FDI lấn át hay bổ sung cho nguồn vốn đầu tư trong
nước cũng như đóng góp của FDI vào tăng trưởng cao hay thấp hơn so với đóng góp đầu
tư trong nước, hai ước lượng tiếp theo được thực hiện dựa vào phương pháp phân tích định
lượng trong nghiên cứu của Borenzstein và các đồng nghiệp. (1995). Mô hình thứ nhất
(mô hình I) đánh giá tác động của FDI tới tổng đầu tư xã hội so với GDP dựa vào hệ số
ước lượng của biến FDI. Do tổng đầu tư xã hội đã bao gồm FDI, nên hệ số ước lượng của
biến FDI dương và bằng 1 có nghĩa là FDI không có ảnh hưởng tới tổng đầu tư xã hội. Nếu
hệ số ước lượng dương và khác 1 thì có thể đó là bằng chứng cho tác động bổ sung vốn
cho đầu tư trong nước. Chúng tui cũng xem xét tác động của một số biến khác như vốn
con người và hội nhập kinh tế của Việt Nam tới tổng đầu tư qua biến thoinhapkt . Mô hình
thứ hai (mô hình II) cho phép kiểm định mức độ đóng góp của FDI so với đầu tư trong
nước tới tăng trưởng bằng cách so sánh hệ số ước lượng của hai biến FDI và tổng đầu tư
xã hội. Nếu hệ số của biến FDI cao hơn của biến tổng đầu tư và các hệ số có ý nghĩa thống
kê thì có thể đưa ra bằng chứng ủng hộ thêm về đóng góp tích cực của FDI tới tăng trưởng.
Kết quả kiểm định trình bày ở Biểu 4.
Theo Biểu 4 ở mô hình I, hệ số ước lượng của biến FDI d...