Phần I: Mở Đầu
1. Lý do chọn đề tài:
Bò sát là nhóm Động vật có xương sống đầu tiên thích nghi với đời sống
trên cạn hoàn toàn. Chúng cũng như nhiều động vật khác trong tự nhiên là một
mắt xích rất quan trọng trong mạng lưới thức ăn của quần xã, góp phần tạo nên
sự đa dạng sinh học, điều chỉnh sự cân bằng trong hệ sinh thái. Với Bò sát,
chúng cũng có vai trò quan trọng trong tự nhiên, trong sự phát triển kinh tế-xã
hội của loài người.
Đa số các loài Bò sát có khả năng tiêu diệt côn trùng, thân mềm, gặm nhấm
gây hại trong nông nghiệp, những vật chủ trung gian lây truyền bệnh cho con
người và gia súc. Ngược lại, nhiều loài Bò sát là nguồn thức ăn cho các nhóm
động vật khác như chim, thú và cả các loại Bò sát lớn.
Nhiều loài Bò sát làm thực phẩm giá trị đối với sức khỏe của con người
như: rùa, ba ba, rắn, các loài trăn… Đặc biệt thịt rùa, ba ba, vích, đồi mồi là thực
phẩm đặc sản cao cấp. Không những vậy, chúng còn là nguyên liệu để bào chế
ra những dược liệu quý chữa bệnh như bện suy nhược thần kinh, bồi bổ cơ thể,
bệnh còi xương ở trẻ em… Trong phòng thí nghiệm thì Bò sát là một đối tượng
nghiên cứu.
Mặc dù Bò sát có những ý nghĩa kinh tế rất lớn nhưng việc khai thác chúng
hiện nay vẫn chưa có kế hoạch, quy mô khai thác đúng mức dẫn đến việc nhiều
loài đang ở mức nguy cơ tuyệt chủng gần như hoàn toàn, làm giảm đáng kể về
số lượng loài Bò sát trong tự nhiên.
Vườn quốc gia Ba Vì là vùng núi trung bình và thấp, đồi tiếp giáp với vùng
bán sơn địa. Có độ dốc khá lớn, sườn phía Tây đổ xuống sông Đà dốc hơn sườn
phia Tây Bắc và Đông Nam. Khu vực này có khí hậu phong phú và đa dạng,
chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tố sinh khí hậu đặc thù. Nằm trong khu vực khí
hậu nhiệt đới ẩm với 2 mùa điển hình là mùa hè nóng ẩm và mùa đông lạnh,
lượng mưa trung bình hằng năm tương đối cao và không đồng đều.[9]
Do vậy, nhờ các đặc điểm địa hình và sự phân tính của khí hậu đó đã tạo nên
sự phong phú đa dạng về thành phần loài, sự phân bố và nơi sinh sống cùng với
những đặc điểm thích nghi phù hợp với môi trường của các loài Bò sát ở Ba Vì.
Thời kỳ này, phần lớn các nghiên cứu do các tác giả người nước ngoài thực
hiện. Năm 1878, J.Andeson mô tả một số loài Bò sát ở Bắc bộ. G.Bouleger
nghiên cứu Bò sát vùng Myanma ở Anh, trong đó có những loài thu ở Việt Nam
(1882). G.Tirant công bố thành phần loài Bò sát ở Nam bộ và Campuchia
(1885). E.SchenKel và O.Boeetger thông báo kết quả nghiên cứu về một số loài
Bò sát ở Nam bộ và Đà Nẵng (1901). L.Vaillant nghiên cứu về Bò sát vùng Tây
bắc Việt Nam (1904) và một số nghiên cứu khác. Ở thời kỳ này, tổng kết đấy đủ
nhất về Bò sát là công trình nghiên cứu của R.Bourret (1924 - 1944) ở một số
địa điểm của Việt Nam và toàn Đại dương. Ông đã thống kê và ghi nhận được
177 loài thằn lằn, 245 loài và phân loài rắn, 45 loài và phân loài rùa, trong đó có
các loài ở Việt Nam (Bourret.R, 1936,1941, 1942). Ông đã công bố và bổ sung
nhiều loài cho danh lục Bò sát và Ếch nhái (Bourret, 1934, 1937, 1939, 1940,
1943).
2.1.2. Thời kỳ 1954 – 1975:[5]
Thời kỳ này đã có nhiều nhà nghiên cứu, các đoàn trong nước tiến hành
trên các vùng khác nhau cụ thể như: Công trình nghiên cứu của Đào Văn Tiến
và cộng sự. Tại Linh – Quảng Trị (1959), thống kê được 7 loài thằn lằn, 4 loài
rắn, 2 loài rùa, trong đó có thêm 2 loài mới. Tại Đình Cả - Thái Nguyên (1962),
bổ sung thêm 2 loài trăn đất (Python molusus) và ba ba gai (Trionyx
Steindachneri).
Kể đến công trình nghiên cứu của V.Suntov ở Vịnh Bắc bộ, thống kê được
7 loại rắn biển (Suntov.V.P, 1962); các nghiên cứu của trường đại học tổng hợp
Hà Nội về động vật ở Bắc Thái Bình (1961,1962). Ở rừng quốc gia Cúc Phương
có các nghiên cứu của Đào Văn Tiến (1963), Lê Hiền Hào (1971). Phòng động
vật Viện Khoa học Việt Nam, từ năm 1968 – 1978, đã tiến hành nhiều đợt khảo
sát tại các tỉnh Hà Bắc (1968), Quảng Ninh (1969 – 1971), Hòa Bình (1972 –
3
1973), Hà Tĩnh (1974 – 1975), Lạng Sơn (1974), Vĩnh Phúc (1975), và vườn
quốc gia Cúc Phương (1975).
Ngoài ra, còn có các nghiên cứu của nhiều nhà khoa học: Võ Quý (1961), Lê
Sáng, Nguyễn Quảng Trường (2007) đã công bố 79 loài Ếch nhái, Bò sát ở tỉnh
Lạng Sơn… Nguyễn Quảng Trường, Nguyễn Văn Sáng, Đặng Tất Thế, Nguyễn
4
Thiên Tạo (2009) đã nghiên cứu về đa dạng các loài rắn độc ở Việt Nam, thống
kê 193 loài thuộc phân bộ rắn, trong số đó ghi nhận có 53 loài rắn độc gồm 35
loài (15 giống) thuộc Họ Rắn hổ và 18 loài ( 8 giống) thuộc Họ Rắn lục. Năm
2011, Rasmussen A. R. và cộng sự đã thống kê, xây dựng khóa định loại cho
các loài rắn biển ở Việt Nam…
-Sinh học và sinh thái học có các nghiên cứu như:
Bên cạnh, những công trình công bố về thành phần loài thì hướng nghiên
cứu về sinh học, sinh thái bò sát cũng được quan tâm nghiên cứu rất nhiều. Các
công trình tiêu biểu như: Đặc điểm hình thái Nhông cát của Ngô Đắc Chứng
(1994). Đặc điểm hình thái Rắn cạp nong, Rắn cạp nia của Hoàng Nguyễn Bình,
Trần Kiên (1988). Ngô Thái Lan (2007) tìm hiểu mùa sinh sản của Thạch sùng
đuôi sần ở tỉnh Vĩnh Phúc. Nghiên cứu đặc điểm dinh dưỡng và sinh sản của rắn
lục xanh (Trimeresurus stejnegeri) ở vùng Tây Nam Thừa Thiên Huế của Ngô
Đắc Chứng, Nguyễn Văn Lanh (2009)… Nguyên cứu một số đặc điểm dinh
dưỡng và sinh sản cảu Ếch gai sần ở Thừa Thiên Huế của Ngô Văn Bình và Ngô
Đắc Chứng (2011).
-Ứng dụng Bò sát trong y học và đời sống có công trình nghiên cứu của Trần
Kiên , Nguyễn Quốc Thắng (1980), Võ Văn Chi và Nguyễn Đức Minh
(1993,1998,2000)…
2.2.Tình hình nghiên cứu Bò sát ở vườn quốc gia Ba Vì
Hầu như chưa có công trình nghiên cứu nào về thành phần loài Bò sát ở
vườn quốc gia Ba Vì. Trước 1975, những dẫn liệu về Bò sát của vùng phần lớn
được công bố chung trong báo cáo khoa học nghiên cứu về hệ động vật của
nước ngoài. Năm 1993, qua điều tra của Viện sinh thái và tài nguyên sinh vật
cho thấy ở đây còn có 49 loài Bò sát thuộc 12 họ và 3 bộ.
2.3. Đặc điểm tự nhiên, xã hội của vườn quốc gia Ba Vì
2.3.1. Vị trí địa lý:
các thủy vực. Vùng núi Ba Vì có độ dốc tương đối cao, sườn phía Tây đổ xuống
sông Đà , dốc hơn so với sườn Tây bắc và Đông Nam, độ dốc trung bình khu
vực là 250, càng lên cao độ dốc càng tăng, từ độ cao 400m trở lên,, độ dốc trung
bình là 350,
Dãy núi Ba Vì gồm 2 dải dông chính: Dải dông thứ nhất chạy theo hướng
Đông – Tây từ suối Ổi đến cầu Lặt qua đỉnh Tản Viên và đỉnh Hang Hùm dài
9km. Dải dông thứ hai chạy theo hướng Tây – Bắc – Đông – Nam từ Yên Sơn
qua đỉnh Tản Yên đến núi Quýt dài 11km, sau đó dải này chạy tiếp sang Viên
nam tới dốc Kẽm (Hòa Bình).
2.3.3. Khí hậu và thủy văn:
-Khí hậu:
Khu vực VQGBV có khí hậu phong phú và đa dạng, chịu ảnh hưởng của
nhiều yếu tố sinh khí hậu đặc thù. Do nằm ở vĩ độ 221 độ Bắc và chịu tác động
của chế độ gió mùa, khí hậu thuộc loại khí hậu nhiệt đới ẩm với 2 mùa điển
hình là mùa hè nóng ẩm. mùa đông lạnh. Tuy nhiên, do địa hình núi cao đã làm
khí hậu điển hình trên bị phân hóa thành các vi khí hậu, đặc biệt thuận lợi cho
hoạt động du lịch, nghỉ ngơi vào mùa hè.
6
Nhiệt độ bình quân năm trong khu vực là 23,4
0
C. Ở độ cao 400m nhiệt độ
trung bình năm 20,6
0
C,từ độ cao 1000m trở lên nhiệt độ chỉ còn 16
0
C. Nhiệt độ
thấp tuyệt đối thể xuống 0,2
0
c. Lượng mưa trung bình năm 2500mm, phân bố
không đều trong năm, tập trung nhiều vào tháng 7, tháng 8. Độ ẩm không khí là
2.3.6. Hệ động vật:
Động vật hoang dã gồm 45 loài động vật có vú. Khỉ vàng, sơn dương, gấu
sống chủ yếu ở sườn phía Tây. Hoẵng và lợn rừng chủ yếu ở sườn Đông. Ở
đây phân bố nhiều loài thú quý hiếm khoảng 66 loài (2008) như: Cu li lớn,
Chồn bạc má, Gấu ngựa, Cầy vằn, Cầy mực, Sơn dương, Tê tê vàng, sóc bay
trâu, sóc đen…[9]
8
Phần 3: Đối tượng, thời gian và phương pháp nghiên cứu
3.1.Đối tượng và thời gian nghiên cứu
3.1.1. Đối tượng nghiên cứu:
Nghiên cứu các nhóm Bò sát thuộc khu vực vườn quốc gia Ba Vì.
3.1.2.Thời gian nghiên cứu:
Đề tài được tiến hành từ tháng 12/2013 đến tháng 10/2014 gồm 3 giai
đoạn:
-Giai đoạn I (T12/2013 – T2/2014): Tìm và thu thập các tài liệu có liên quan về
đối tượng nghiên cứu và đặc điểm khu vực nghiên cứu.
-Giai đoạn II (T3/2014 – T8/2014): Tiến hành điều tra, thực địa, khảo sát, thu
mẫu, phân tích và định loại đối tượng. Thời gian khảo sát, thu mẫu theo các
tuyến được phân thành 3 đợt:
+.Đợt I: T3/2014 - T4/2014
+. Đợt II: T5/2014 – T6/2014
+.Đợt III: T7/2014 – T8/2014
-Giai đoạn III (T9/2014 – T10/2014): Tổng hợp tài liệu, phân tích thống kê tài
liệu và viết báo cáo.
3.2.Phương pháp nghiên cứu
3.3.Phương pháp nghiên cứu ngoài thực địa
3.3.1.Công tác chuẩn bị:
-Lập các tuyến khảo sát.
-Lập bảng thống kê những loài Bò sát (kèm ảnh chụp) đã biết phân bố ở khu
vực nghiên cứu thông qua các tài liệu tham khảo.
của các loài. Nội dung phỏng vấn được lặp đi lặp lại nhiều lần ở nhiều người và
nhiều vùng thu mẫu khác nhau.
3.3.5.Phương pháp nghiên cứu trong phòng thí nghiệm
-Tiến hành đo, đếm, phân tích số liệu về hình thái: Phân tích các số liệu về đặc
điểm hình thái theo quy định riêng của từng nhóm.
10
-Định tên khoa học các loài.
-Các mẫu vật sau khi phân tích nghiên cứu được tích trữ tại khoa Sinh học
trường Đại học Sư phạm Hà Nội.
-Các mẫu vật nghiên cứu đều được ghi nhãn bằng giấy không thấm nước hoặc
mica. Nhãn được buộc vào chân hoặc cổ con vật.
-Các chỉ tiêu hình thái được phân tích thuộc các nhóm sau đây (Rraig Adler,
R.Bourret Er and Mizhao).
3.4. Nhóm thằn lằn: đo kích thước các phần cơ thể (mm) theo chỉ số sau:
L: Dài thân,từ mút mõm đến khe huyệt
L.cd: Dài đuôi, từ khe huyệt đến mút đuôi
L.t: Dài chi sau, từ gốc đùi đến mút ngón
F.t: số lượng lỗ đùi ở 1 bên đùi
1.t.I: Số bản mỏng dưới ngón tay I
1.t.IV: số bản mỏng dưới ngón chân IV
C: Số hàng vảy thân
L.bs: Số tấm môi trên ở 1 bên
L.bi: Số tấm môi dưới ở 1 bên
S.pp: Số vảy trên mí mắt ở 1 bên
3.5. Nhóm Rắn :
L: Dài thân
L.cd : Dài đuôi
C : Vảy bụng, gồm số hàng vảy thân ở cổ, giữa thân và trước huyệt
V : Vảy bụng, từ cổ đến vảy tiếp giáp hậu môn
A : Tấm hậu môn, có thể chia 2 theo rãnh chéo hoặc không chia
Nếu:
R: -1 -0,7 : Quan hệ gần gũi
R: -0,69 -0,35 : Quan hệ gần nhau
R : -0,34 0 : Quan hệ gần ít
R : 0 0,34 : Quan hệ khác nhau ít
R : 0,35 0,69 : Quan hệ khác nhau
13
Phần 4: Dự kiến kết quả nghiên cứu
4.1. Thành phần loài:
4.1.1. Danh sách thành phần loài Bò sát ở Vườn quốc gia Ba Vì
Từ nguồn dữ liệu thu được từ thực địa kết hợp điểu tra người dân và tổng
hợp các tài liệu liên quan, bước đầu xác định được 61 loài Bò sát thuộc 15 họ và
2 bộ
Danh lục các loài trong bảng 4.1:
Bảng 4.1: Danh mục các loài trong Vườn quốc gia Ba Vì.
Số
TT
Tên khoa học Tên Việt
Nam
Nguồn
mẫu
vật
Mức
độ gặp
Phân bố
Theo sinh
cảnh
Theo tầng
(nước,
hang, đất)
4.4. So sánh thành phần Bò sát của vườn quốc gia Ba Vì với một số vườn
quốc gia khác.
Tam Đảo Cúc
Phương
Ba Bể Cát Tiên Cát Bà
Tổng số
loài
39 76 27 79 20
Số loài
chung
20 49 12 10 8
Hệ số
tương quan
(R)
0.33 0.31 0.46 0.55 0.52
Qua bảng trên ta thấy :
Thành phần loài Bò sát ở vườn quốc gia Ba Vì có quan hệ gần gũi với vườn
quốc gia Cúc Phương (R = 0.31), Côn Đảo (R = 0.33), sai khác rõ ràng với Ba
Bể (R = 0.46), Cát Tiên (R = 0.55) và Cát Bà (R = 0.52). Kết quả nghiên cứu
này hoàn toàn phù hợp khi xét về khoảng cách địa lý, đặc điểm khí hậu giữa các
vùng. Kết quả chỉ mang tính tương đối do sự sai khác về diện tích các vùng, thời
gian nghiên cứu.
15
Phần 5: Định loại, mô tả Bò sát ở Vườn quốc gia Ba Vì
Phần 6 : Sự phân bố và hiện trạng Bò sát ở Vườn quốc gia Ba Vì
6.1.Sự phân bố :
Sự phân bố khu hệ động vật nói chung cũng như Bò sát nói riêng phụ
thuộc rất nhiều vào đặc điểm địa hình và hệ sinh thái của các đai khác nhau.
-Ở địa hình đồi cốt từ 15m đến cốt 250m thường xuất hiện các loài động vật
không xương sống như côn trùng, giun đất, vắt, chuột, chim nhỏ…[9]
sinh thái gây ra.
17
Tài liệu tham khảo
1, Bộ Khoa học và Công nghệ, Viện Khoa học và Công nghệ Việt Nam, ‘sách
đỏ Việt Nam, Phần I - Động vật’, Nxb Khoa học Tự nhiên và Công nghệ, Hà
Nội, 2007.
2, Trần Kiên, (1983), ‘Đời sống các loài Bò sát’, Nxb Khoa học – Kĩ thuật, Hà
Nội.
3, Trần Kiên, Hoàng Xuân Quang, (1992), ‘Về phân khu động vật, địa lý học Bò
sát, ếch nhái Việt Nam’. Tạp chí sinh học, Hà Nội.
4, Vũ Tự Lập, (2003), ‘Địa lý tự nhiên Việt Nam’, Nxb ĐHSPHN, Hà Nội.
5, Hoàng Thị Nghiệp, (2012), ‘ Khu hệ Lưỡng cư – Bò sát ở vùng An Giang và
Đồng Tháp’, Luận văn tiến sĩ Khoa học sinh học, Đại học Huế.
6, Lê Nguyên Ngật, Nguyễn Thị Quy, Lê Thị Thanh, (2012). ‘Thành phần loài
Lưỡng cư, Bò sát ở vùng rừng Cà Đam, tỉnh Quảng Ngãi’, Tạp chí Khoa học.
Đại học Huế, tập 75A, số 6, trang 101 – 108.
7, Nghị định 48/2002/NĐ – CP, ký ngày 22/04/2002 của chính phủ sửa đổi bổ
sung ‘Danh mục Thực vật, Động vật hoang dã quý hiếm’.
8, Đào Văn Tiến, (1978), ‘Về định loại rùa và cá sấu Việt Nam’. Tạp chí sinh
vật – địa học, Hà Nội.
9, ‘hp://vuonquocgiabavi.com.vn/Default.aspx”, truy cập cuối cùng ngày
29/11/2013.
18