i
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN BÙI THỊ MINH NGUYỆT
CHÍNH SÁCH CHO THUÊ MÔI TRƯỜNG RỪNG
TẠI CÁC VƯỜN QUỐC GIA Ở KHU VỰC PHÍA BẮC VIỆT NAM
– NGHIÊN CỨU TẠI VƯỜN QUỐC GIA BA VÌ, TAM ĐẢO, BẾN EN CHUYÊN NGÀNH: KINH TẾ NÔNG NGHIỆP
MÃ SỐ: 62.62.01.15 LUẬN ÁN TIẾN SỸ KINH TẾ
LỜI CẢM ƠN
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc và chân thành cảm ơn PGS.TS Vũ Đình
Thắng và PGS. TS Trần Quốc Khánh - những người Thầy đã chỉ bảo, hướng dẫn và
giúp đỡ tôi rất tận tình trong suốt thời gian thực hiện và hoàn thành Luận án.
Tôi xin chân thành cảm ơn Trường Đại học Kinh tế quốc dân, Viện Đào tạo
sau Đại học, Khoa Bất động sản và Kinh tế tài nguyên, Trường Đại học Lâm
nghiệp, Khoa Kinh tế và Quản trị kinh doanh, Bộ Nông nghiệp và PTNT, VQG Ba
Vì, Tam Đảo, Bến En đã tạo điều kiện và giúp đỡ tôi thực hiện Luận án.
Tôi xin chân thành cảm ơn các đồng nghiệp và bạn bè vì sự ủng hộ và những
ý kiến đóng góp quí báu giúp tôi hoàn thành Luận án.
Cuối cùng tôi xin cảm ơn các thành viên trong gia đình đã động viên, ủng hộ,
chia sẻ và là chỗ dựa tinh thần giúp tôi tập trung nghiên cứu và hoàn thành bản luận
án của mình.
Chân thành cảm ơn !
Hà Nội, ngày 5 tháng 03 năm 2014
Tác giả BÙI THỊ MINH NGUYỆT iv
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
BQL
Ban quản lý
TB
Thông báo
TNR
Tài nguyên rừng
UBND
Uỷ ban nhân dân
VQG
Vườn quốc gia
XDHT
Xây dựng hạ tầng
WTP
Willingness to pay (sẵn lòng chi trả)
v
MỤC LỤC
Mục lục i
Danh mục các bảng viii
Danh mục các hình ix
MỞ ĐẦU 1
1. Sự cần thiết nghiên cứu của đề tài luận án 1
2. Mục tiêu nghiên cứu, đối tượng, phạm vi nghiên cứu 3
3. Đóng góp mới của luận án 4
4. Phương pháp nghiên cứu 5
5. Kết cấu của Luận án 9
Chương 1. TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU 10
1.1. Tình hình nghiên cứu trên thế giới 10
1.1.1. Các nghiên cứu về giá trị của rừng, giá trị dịch vụ môi trường rừng 10
1.1.2. Các nghiên cứu về khai thác dịch vụ DLST tại VQG 12
1.1.3. Các công trình nghiên cứu về chính sách cho thuê môi trường rừng kinh
doanh DLST tại VQG. 14
3.2.1. Lịch sử hình thành các VQG nghiên cứu 62
3.2.2. Hiện trạng đất đai, tài nguyên du lịch tại VQG Ba Vì, Tam Đảo, Bến En 64
3.2.3. Đánh giá kết quả khai thác tiềm năng tự có để phát triển DLST tại VQG
Tam Đảo, Ba Vì, Bến En 67
3.2.4. Các hoạt động cơ bản tại VQG nghiên cứu 70
3.3. Chính sách cho thuê môi trường rừng tại VQG được áp dụng tại các VQG nghiên
cứu trong thời gian qua 73
3.3.1. Hoàn cảnh ra đời của chính sách cho thuê môi trường rừng tại VQG 74
3.3.2. Chủ trương, quan điểm của Đảng và Nhà nước về cho thuê môi trường
rừng tại VQG 75
3.3.3. Mục tiêu của chính sách thuê môi trường rừng kinh doanh DLST tại
VQG 78
3.3.4. Hệ thống văn bản pháp lý liên quan đến cho thuê môi trường rừng VQG 78
3.4. Thực trạng thực hiện chính sách cho thuê môi trường rừng tại VQG Ba Vì,
Tam Đảo, Bến En 84
3.4.1. Công tác tuyên truyền phổ biến, xây dựng phương án cho thuê môi
trường rừng tại VQG nghiên cứu 84
3.4.2. Xác định, lựa chọn các tổ chức thuê môi trường rừng tại VQG nghiên
cứu 86
vii
3.4.3. Xác định giá thuê, các điều khoản trong hợp đồng thuê môi trường rừng và
ký kết hợp đồng thuê môi trường rừng tại các VQG nghiên cứu 88
3.4.4. Công tác kiểm tra, giám sát tình hình thực hiện hợp đồng thuê môi
trường rừng tại VQG nghiên cứu 100
3.4.5. Kết quả thực hiện chính sách cho thuê môi trường rừng tại VQG Ba Vì,
Tam Đảo, Bến En 100
3.5. Đánh giá tác động của chính sách cho thuê môi trường rừng tại VQG Ba Vì, Tam
Đảo, Bến En 114
3.5.1. Những tác động tích cực 114
Bảng 3.2. Số lượng loài động, thực vật ở các VQG nghiên cứu 65
Bảng 3.3. Tổng hợp kết quả tính giá thuê môi trường rừng tại VQG Ba Vì 89
Bảng 3.4. Số lượng đơn vị được phép thuê môi trường rừng tại VQG Ba Vì 101
Bảng 3.5: Bảng tổng hợp diện tích cho các doanh nghiệp thuê môi trường rừng tại
VQG Ba Vì 102
Bảng 3.6: Diễn biến tài nguyên rừng sau khi thuê môi trường tại VQG Ba Vì 106
Bảng 3.7. Mức đầu tư bảo vệ rừng của các đơn vị thuê môi trường rừng năm 2010 107
Bảng 4.1. Dự báo giá trị dịch vụ môi trường (triệu USD) 126
Bảng 4.2. Ý kiến đánh giá về chính sách cho thuê môi trường rừng tại VQG Ba Vì 135
Bảng 4.3. Nội dung cơ bản của phương án cho thuê rừng 148
ix
DANH MỤC CÁC HÌNH
Hình 1.1. Phân loại phương pháp lượng giá không dựa vào thị trường 21
Hình 3.1. Diện tích đất đai của các VQG nghiên cứu 65
Hình 3.2. Tình hình thu hút khách du lịch đến VQG nghiên cứu 68
Hình 3.3. Doanh thu từ bán vé tại VQG nghiên cứu 68
Hình 3.4. Doanh thu bán vé theo các tháng tại VQG Ba Vì 70
Hình 3.5. Số lượng khách theo các tháng tại VQG Tam Đảo 70
Hình 3.6. Doanh thu từ hoạt động cho thuê môi trường rừng tại VQG Ba Vì 103
Hình 3.7. Tổng doanh thu của các khu du lịch tại VQG Ba Vì 104
Hình 3.8. Doanh thu từ DLST của VQG Ba Vì và các đơn vị thuê môi trường rừng . 104
Hình 3.9. Cơ cấu nguồn thu của KDL Thiên Sơn - Suối Ngà và KDL Thác Đa 105
Hình 3.10. Tình hình thu hút khách du lịch tại VQG Ba Vì 108
Hình 3.11. Tình hình thu hút khách du lịch tại các đơn vị nhận thuê môi trường rừng
Một xu thế phát triển mới trong thời gian gần đây là các công ty, tổ chức, cá
nhân có nhu cầu thuê môi trường rừng tại các VQG để kinh doanh DLST. Mặc dù mới
được hình thành, nhưng đây là một hướng phát triển có tiềm năng và nhận được sự
2
đồng thuận của xã hội, vì nó tạo ra sự liên kết mật thiết, chặt chẽ thúc đẩy lẫn nhau của
hai hoạt động phát triển kinh tế-xã hội và bảo vệ phát triển nguồn tài nguyên rừng. Thuê
môi trường rừng còn là 1 phương thức nhằm xã hội hóa dịch vụ môi trường rừng từ đó
góp phần tạo nguồn thu để đầu tư lại BV&PTR bằng nguồn vốn tự có, giảm đầu tư của
Nhà nước đối với các khu rừng có nhiều dịch vụ môi trường rừng trong đó có VQG.
Ở Việt Nam, thuê môi trường rừng kinh doanh DLST được thể hiện trong các
chủ trương của Đảng và Nhà nước, đã được thí điểm áp dụng ở VQG Ba Vì, Bidup Núi
Bà, Ba Bể từ năm 2002. Thực tế triển khai chính sách cho thuê môi trường rừng kinh
doanh DLST hiện đang được tổ chức khá thành công tại các VQG trên. Năm 2009, Bộ
NN&PTNT đã tổ chức đánh giá mô hình "Thuê môi trường rừng làm DLST" ở một số
tỉnh, thành phố, các ý kiến tại hội nghị đều ghi nhận: "Thuê môi trường rừng không chỉ
mang lại hiệu quả kinh tế, mô hình này còn tạo lợi ích cho cả "ba nhà" (Nhà nước,
doanh nghiệp và nông dân) và đặc biệt đã thực hiện xã hội hoá nghề rừng" [6].
Mặc dù Nhà nước đã có chủ trương cho thuê môi trường rừng để kinh doanh
DLST và được đánh giá khá thành công ở VQG thí điểm nhưng thực tế triển khai còn
chậm, một trong những lý do chính là chính sách cho thuê môi trường rừng chưa hoàn
chỉnh, quy định tản mạn ở một số văn bản pháp luật khác nhau, thiếu những quy định
cần thiết, hoặc một số quy định còn bất cập gây khó khăn cho quá trình triển khai như:
trình tự, thủ tục, thẩm quyền cho thuê môi trường rừng chưa rõ, giá cho thuê môi
trường rừng mới xác định được ở một số VQG, thiếu quy định thống nhất về quản lý
sử dụng tiền thuê, xử lý tranh chấp, quyền và trách nhiệm của bên thuê và cho thuê, cơ
chế chuyển nhượng, góp vốn trong hợp đồng cho thuê môi trường rừng [6].
Chính vì vậy, các phương án quản lý, khung pháp chế, chính sách cho thuê môi
trường rừng vẫn là những câu hỏi mở cần có các định hướng của các cấp quản lý và
ngành lâm nghiệp. Xuất phát từ những vấn đề trên việc nghiên cứu hoàn thiện chính
2.2. Đối tượng nghiên cứu
Luận án tập trung nghiên cứu chính sách cho thuê môi trường rừng cho mục
đích kinh doanh DLST tại một số VQG ở khu vực phía Bắc Việt Nam.
2.3. Phạm vi nghiên cứu
- Không gian: Các VQG ở khu vực phía Bắc Việt Nam, đề tài lựa chọn nghiên
4
cứu điểm tại 3 VQG Ba Vì (Hà Nội), Tam Đảo (Vĩnh Phúc) và Bến En (Thanh Hóa).
- Thời gian: Nghiên cứu từ năm 2002, bắt đầu có Đề án thí điểm cho thuê
môi trường rừng tại một số VQG của Việt Nam.
- Nội dung nghiên cứu:
(1) Cơ sở lý luận và thực tiễn về chính sách cho thuê môi trường rừng tại VQG
+ Cơ sở lý luận về chính sách cho thuê môi trường rừng và cho thuê với mục
đích kinh doanh DLST tại VQG.
+ Căn cứ thực tiễn về chính sách cho thuê môi trường rừng kinh doanh
DLST tại VQG trên thế giới và bài học kinh nghiệm cho Việt Nam.
(2) Nghiên cứu thực trạng chính sách và tổ chức thực hiện chính sách cho thuê môi
trường rừng tại VQG Ba Vì, Tam Đảo, Bến En, những kết quả, hạn chế và nguyên nhân
- Đánh giá hiện trạng tài nguyên rừng và khả năng phát triển DLST tại VQG
Tam Đảo, Ba Vì, Bến En.
- Thực trạng chính sách cho thuê môi trường rừng tại VQG ở Việt Nam.
- Kết quả thực hiện chính sách cho thuê môi trường rừng kinh doanh DLST
tại VQG Tam Đảo, Ba Vì, Bến En.
- Đánh giá những khó khăn, hạn chế và nguyên nhân trong tổ chức thực hiện
chính sách cho thuê môi trường rừng tại VQG Ba Vì, Tam Đảo, Bến En.
- Bài học kinh nghiệm được rút ra từ thực tiễn tổ chức triển khai thực hiện chính
sách cho thuê môi trường rừng tại VQG Ba Vì, Tam Đảo, Bến En.
(3)Giải pháp hoàn thiện chính sách cho thuê môi trường rừng tại VQG khu
vực phía Bắc Việt Nam
- Cơ sở đề xuất giải pháp.
như trên Luận án sẽ tìm hiểu quá trình triển khai chính sách ở các VQG, nhưng thuận
lợi, những khó khăn của từng Vườn và nguyên nhân chậm triển khai chính sách.
4.2. Phương pháp thu thập thông tin
* Thông tin thứ cấp: Thông tin thứ cấp được thu thập thông qua phương
pháp kế thừa, nghiên cứu tại bàn, bao gồm các tài liệu sau:
- Các văn bản pháp luật có liên quan đến thuê môi trường rừng kinh doanh
DLST tại VQG để tìm hiểu chính sách cho thuê môi trường rừng tại các VQG của
6
Việt Nam hiện nay như thế nào, đề cập trong các văn bản pháp luật nào, mức độ
đầy đủ của chính sách ở Việt Nam làm cơ sở gợi ý cho việc hoàn thiện chính sách.
- Thông tin trên các trang thông tin của Tổng cục Lâm nghiệp, cục Kiểm lâm
về diễn biến rừng, các chủ trương của ngành trong quản lý VQG và cho thuê môi
trường rừng tại VQG.
- Các tài liệu, kết quả nghiên cứu liên quan đến thuê môi trường rừng và
chính sách sách cho thuê môi trường rừng để hệ thống cơ sở lý luận cho Luận án và
có những thông tin bước đầu phục vụ cho nghiên cứu.
- Báo cáo của các cấp chính quyền địa phương, các cơ quan quản lý nhà
nước về lâm nghiệp, các VQG nghiên cứu… để phục vụ cho đánh giá thực trạng
triển khai chính sách tại cơ sở, đánh giá các các tác động về kinh tế - xã hội - môi
trường của chính sách trên thực tiễn.
* Thông tin sơ cấp:
- Phỏng vấn trực tiếp cán bộ quản lý, chủ thể cho thuê và đi thuê để có thông
tin dùng cho việc nghiên cứu đánh giá chính sách và thực hiện chính sách cho thuê
môi trường rừng kinh doanh DLST, gợi ý cho việc hoàn thiện chính sách, xem xét
các quan điểm của các bên liên quan đối với chính sách, nhận biết được những khó
khăn trong triển khai chính sách.
Đề tài tiến hành phỏng vấn trực tiếp cán bộ tại VQG đã triển khai chính sách
cho thuê môi trường rừng thông qua các mẫu phiếu phỏng vấn để nhằm thu thập các
ý kiến đánh giá của cán bộ quản lý về mục tiêu chính sách, về nội dung chính sách,
DLST tại VQG. Trong mẫu phỏng vấn bao gồm cả câu hỏi đóng và câu hỏi mở
nhằm đánh giá và có định hướng hoàn thiện chính sách cho thuê môi trường rừng
kinh doanh DLST tại VQG.
- Các thông tin được thu thập tại các VQG lựa chọn nghiên cứu, bao gồm:
+ Thông tin về đặc điểm cơ bản của VQG, tiềm năng của VQG để phát triển
DLST và các yếu tố đầu vào để thực hiện cho thuê môi trường rừng.
+ Thông tin về tình hình quản lý VQG, quản lý các hoạt động DLST, quản lý
các hoạt động cho thuê môi trường rừng tại VQG. Thông tin này thu thập từ các nhà
quản lý tại VQG.
8
+ Thông tin về tình hình triển khai chính sách cho thuê môi trường rừng tại các
VQG như kết quả hoạt động kinh doanh của các đơn vị sau khi ký hợp đồng thuê môi
trường rừng (doanh thu, chi phí, lợi nhuận ), kết quả đạt được từ việc thực hiện chính
sách (nguồn thu từ cho thuê, sử dụng kinh phí thuê, ). Thông tin này thu thập từ ban
quản lý Vườn, các chủ doanh nghiệp đang tiến hành thuê môi trường rừng tại các VQG.
+ Thông tin về tình hình xây dựng và thực hiện chính sách tại VQG, sự đầy đủ,
phù hợp của chính sách. Thông tin này thu thập từ nhà quản lý VQG, chủ doanh nghiệp.
+ Thông tin về sự tham gia của các bên trong việc triển khai thực hiện chính
sách cho thuê môi trường rừng cũng như những tác động của chính sách đến từng bên.
Thông tin này thu thập từ các nhà quản lý, chính quyền địa phương, cộng đồng dân cư.
+ Thông tin đánh giá của các nhà quản lý về chính sách cho thuê môi trường
rừng đang áp dụng tại VQG.
4.3. Xử lý và phân tích thông tin
Thông tin, số liệu được tổng hợp và phân tích theo từng địa điểm và từng nội
dung nghiên cứu. Cụ thể:
- Các thông tin định lượng (biểu mẫu, số liệu…) sẽ được xử lý và tổng hợp
với sự hỗ trợ chương trình excel.
Các phương pháp phân tích được sử dụng:
+ Phương pháp thống kê kinh tế để phân tích đánh giá và tổng hợp kết quả
Chương 1
TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU
1.1. Tình hình nghiên cứu trên thế giới
Hiện nay, việc khai thác các giá trị dịch vụ môi trường rừng tại các VQG đang
nhận được sự quan tâm của nhiều nhà khoa học, nhà quản lý và những người trực tiếp
làm nghề rừng. Trong thời gian vừa qua, đã có một số công trình nghiên cứu về vấn
đề này ở các khía cạnh khác nhau. Các công trình nghiên cứu về chính sách cho thuê
môi trường rừng tại VQG chưa có nhiều, chủ yếu mới tập trung vào các công trình
nghiên cứu liên quan đến thuê rừng, xác định các giá trị của rừng và khai thác các giá
trị dịch vụ môi trường rừng kinh doanh DLST.
1.1.1. Các nghiên cứu về giá trị của rừng, giá trị dịch vụ môi trường rừng
Một số nghiên cứu đã bước đầu ước tính được các giá trị của rừng như nghiên
cứu của Sutherland (1985), Pearce (2001). Các nghiên cứu đã chỉ ra giá trị nhiều mặt
của rừng như là cung cấp gỗ, bảo vệ nguồn nước, bảo vệ và phục hồi đất, điều hòa
khí hậu, hấp thụ cacbon, tạo vẻ đẹp cảnh quan cho giải trí Những giá trị này của
rừng đã đem lại rất nhiều lợi ích khác nhau cả về kinh tế, sinh thái, môi trường. Việc
đánh giá đầy đủ giá trị của rừng và môi trường rừng là cơ sở để khai thác và quản lý
rừng bền vững. Mặc dù, đã nhận biết được giá trị nhiều mặt của rừng nhưng trong
một thời gian dài con người mới chỉ quan tâm đến giá trị từ khai thác gỗ. Chỉ đến khi
các vấn đề về ảnh hưởng của việc khai thác gỗ quá mức gây ra những ảnh hưởng tiêu
cực đến môi trường thì những vai trò của môi trường của rừng và dịch vụ môi trường
rừng mới được thực sự quan tâm [95], [88].
Do chưa nhận thức đầy đủ giá trị của rừng nên ngành lâm nghiệp được đánh giá
là ngành mang lại giá trị rất nhỏ cho nền kinh tế và nhiều giá trị của rừng đang chưa
được thừa nhận. Nguyên nhân của những đánh giá trên là do đặc thù của ngành Lâm
nghiệp, do nhận thức về giá trị của rừng chưa đầy đủ, nhiều lợi ích kinh tế của rừng
chưa xác định được giá trị vì các lợi ích này không được đem bán ra thị trường.
Chính do quan niệm như vậy nên nhiều người làm nghề rừng không thể sống được
11
12
giai đoạn I này đã dẫn đến những thay đổi về chính sách trong giai đoạn II. Giai
đoạn II bắt đầu từ 1964 đến 1990, các bộ luật và chính sách được xây dựng nhằm
hạn chế những vấn đề về môi trường thông qua việc ngăn chặn khai thác kiệt quệ tài
nguyên thiên nhiên, bảo vệ không khí và nước, bảo tồn sinh cảnh và loài quý hiếm.
Tuy nhiên cũng giống như trong giai đoạn I, việc quản lý và sử dụng các nguồn tài
nguyên thiên nhiên chỉ bao gồm việc khai thác khoáng sản, chặt gỗ và chăn nuôi
kèm theo các quy định bảo vệ môi trường khác. Tuy nhiên đến giai đoạn III, con
người được chứng kiến sự thay đổi căn bản từ bảo vệ môi trường tới bảo tồn và giải
trí. Việc khai thác các nguồn tài nguyên như khoáng sản, dầu mỏ và gỗ đã không
còn là vấn đề căn bản trong quản lý tài nguyên nữa mà được thay bằng các vấn đề
bảo tồn và du lịch, giải trí [77].
Công trình nghiên cứu của Sven Wunder (2005) chỉ ra rằng, giá trị của rừng là
rất lớn, đặc biệt là giá trị môi trường và dịch vụ môi trường của rừng. Với tầm quan
trọng này nhiều tổ chức, quốc gia đã hình thành các cơ chế khác nhau nhằm quản lý
dịch vụ môi trường rừng trên quan điểm coi dịch vụ môi trường là một loại hàng hoá.
Một số quốc gia đã tiến hành nghiên cứu và xây dựng cơ chế chi trả cho dịch vụ môi
trường rừng - PES (Payment for Environment Services) nhằm quản lý bền vững các
dịch vụ môi trường rừng. Theo đó, các khái niệm và thuật ngữ được thừa nhận để chỉ
sự thương mại các dịch vụ môi trường như: chi trả, đền đáp, thị trường, bồi thường
[96]. Đây được coi là những xu hướng mới nhằm quản lý dịch vụ môi trường rừng
và hướng tới phát triển bền vững.
1.1.2. Các nghiên cứu về khai thác dịch vụ DLST tại VQG
Riera và cộng sự (2012) đã chỉ ra rằng, ở những nước phát triển khi giá thuê đất
cao, kinh doanh gỗ có chu kỳ dài sẽ tạo ra những áp lực lớn với Nhà nước và những
người làm nghề rừng. Vì vậy, những nhà quản lý rừng cần suy nghĩ để tìm ra những
nguồn thu nhập khác để tăng giá trị của rừng, bù đắp sự tăng giá thuê đất và chi phí sử
dụng vốn. Ở một vài nước Chính phủ vẫn có các chính sách hỗ trợ ngành sản xuất và
chế biến gỗ nhưng đây chỉ được coi như là một cách để gìn giữ vùng nông thôn, thay
[98]. Tuy nhiên, các công trình nghiên cứu này mới dừng lại ở việc nghiên cứu các
chính sách quản lý hoạt động DLST ở các VQG nhưng chưa đề cập đến hình thức thực
14
hiện và đánh giá được các hình thức đó để cung cấp các kinh nghiệm cũng như giải
pháp nhằm hoàn thiện được chính sách cho thuê môi trường rừng.
Theo Riera và cộng sự (2012), để thực hiện các hoạt động kinh doanh DLST
các chủ rừng có thể tiến hành bằng nhiều cách khác nhau. Hiện nay, một số chủ rừng
có thể tự thực hiện việc kinh doanh hoặc có thể cho thuê một phần hay toàn bộ công
việc kinh doanh DLST. Cho thuê môi trường rừng kinh doanh DLST đã được xem
như một trong những nội dung quan trọng của quản lý rừng trong giai đoạn hiện nay.
Các chủ rừng khi cung cấp các tiện ích cho du lịch và giải trí phải quan tâm đến chi
phí xây dựng, duy trì các tiện nghi, dịch vụ, cơ sở hạ tầng Duy trì tiện nghi và sự
hài lòng của khách hàng phải được gắn chặt với trách nhiệm và nghĩa vụ xã hội [89].
Tại Châu Âu, công trình nghiên cứu của Hultala (2004) đã cho thấy, cơ bản việc
kinh doanh du lịch và giải trí cũng được thực hiện trên cả rừng công cộng sở hữu của
Nhà nước cũng như rừng sở hữu tư nhân. Tuy nhiên, nhiều nước thuộc vùng Bắc Âu có
chính sách miễn phí sử dụng các dịch vụ giải trí cơ bản tại các khu rừng thuộc quản lý
của Nhà nước và các VQG. Ngoài ra, người dân cũng có quyền tự do tham quan tất cả
các vùng tự nhiên chưa phát triển. Tại các VQG, Chính phủ chi trả trực tiếp từ ngân
sách nhà nước cho các dịch vụ cơ bản (củi để đốt, vệ sinh, thu dọn rác …) và người dân
được miễn phí vào cổng. Do vậy, các chi phí này không được tính vào khi xây dựng
các kế hoạch phát triển dịch vụ giải trí tại các VQG [70]. Đối với các khu vực giải trí
thuộc sở hữu Nhà nước, chính phủ cũng dành một phần từ thuế để hỗ trợ sự duy trì và
phát triển chúng. Xuất phát từ những quy định đó, như một truyền thống người dân tại
các nước này là không phải chi trả lệ phí đường vào tất cả những khu vực có xây dựng
đường xá dù nó thuộc sở hữu tư nhân hay công cộng. Các loại chi phí chủ yếu mà
người dân phải chi trả khi tham gia các dịch vụ du lịch và giải trí gồm có phí hướng
dẫn du lịch, thuê lều/nhà gỗ, thuê môi trường để cắm trại, câu cá và săn bắn [70].
1.1.3. Các công trình nghiên cứu về chính sách cho thuê môi trường rừng kinh
tiêu mà các nước khác nhau đã theo đuổi với các chính sách của họ nhằm khuyến
khích sự tham gia nhiều hơn của khu vực tư nhân vào trong lĩnh vực lâm nghiệp và
các phương án điển hình sẵn có đối với các Chính phủ. Phần 4 thảo luận về các khía
cạnh kinh tế của thuê rừng như phương pháp xác định giá thuê trong các hợp đồng thuê
16
rừng. Phần 5 thảo luận các khía cạnh về thể chế của việc thuê rừng như phương pháp
tập hợp chi phí và sự giám sát việc cho thuê. Phần cuối cùng trình bày các nhân tố tài
chính và kinh tế chủ yếu nên được xem xét khi thiết lập các hoạt động thuê rừng. Công
trình nghiên cứu này mới tập trung vào nghiên cứu các chính sách liên quan đến thuê
rừng sản xuất với mục đích kinh doanh lâm sản [26].
Tuy nhiên, ngày này vai trò của rừng và các chức năng của rừng đã được
đánh giá một cách toàn diện hơn. Theo đánh giá của FAO (2003), rừng được coi là
bộ phận không thể thay thế của môi trường sinh thái, giữ vai trò quan trọng trong
đời sống con người và là cơ sở để phát triển nhiều ngành kinh tế khác [67]. Vì vậy,
giá trị của rừng không chỉ là giá trị trực tiếp mà còn giá trị gián tiếp (giá trị dịch vụ
môi trường rừng). Trong báo cáo của tổ chức Liên hợp quốc (1992) đã chỉ ra, trong
những thập kỷ gần đây người ta mới nhận thức được rằng một trong những nguyên
nhân cơ bản của suy thoái rừng là không xác định được giá trị môi trường của rừng
bên cạnh sự phá rừng của cộng đồng địa phương [100]. Những sự thay đổi về nhận
thức giá trị môi trường rừng được thể hiện rõ nét thông qua những thay đổi về chính
sách và luật về lâm nghiệp của nhiều nước trên thế giới.
Tại Châu Âu, Font & Tribe (2000) cho rằng, để quản lý và sử dụng bền vững tài
nguyên rừng phải đảm bảo chức năng kinh tế - xã hội của rừng. Công trình nghiên
cứu đã chỉ ra việc quản lý rừng hiện tại ở khu vực này không chỉ đơn thuần là quản lý
để khai thác các giá trị sử dụng trực tiếp của rừng (giá trị thị trường), mà còn phải bao
gồm việc quản lý để khai thác các giá trị sử dụng gián tiếp (giá trị dịch vụ môi trường
rừng) hay giá trị phi thị trường. Sự bền vững trong quản lý sử dụng rừng chỉ có được
thông qua việc khai thác gỗ và các sản phẩm không phải gỗ cũng như là thu lợi nhuận
từ việc cho thuê hoặc cung cấp trực tiếp các dịch vụ du lịch và giải trí. Điều này thể