BỘ GIÁO DỤC VÀ ðÀO TẠO
TRƯỜNG ðẠI HỌC NÔNG NGHIỆP HÀ NỘI
ðẶNG BÍCH NGỌC NGHIÊN CỨU VÀ XÁC ðỊNH DƯ LƯỢNG KHÁNG SINH
TỒN DƯ TRONG THỊT LỢN, THỊT GÀ TẠI MỘT SỐ CƠ SỞ
GIẾT MỔ VÀ THỊ TRƯỜNG KHU VỰC PHÍA BẮC VIỆT
NAM LUẬN VĂN THẠC SĨ NÔNG NGHIỆP Chuyên ngành: THÚ Y
Mã số : 60.62.50
Người hướng dẫn khoa học: GS.TS. ðẬU NGỌC HÀO
PGS.TS. PHẠM NGỌC THẠCH HÀ NỘI - 2010
Trường ðại học Nông nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ nông nghiệp
Trường ðại học Nông nghiệp Hà Nội ñã tạo mọi ñiều kiện thuận lợi cho tôi
trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu.
Xin chân thành cảm ơn GðTT Kiểm tra vệ sinh thú y Trung ương I –
Bùi Thị Phương Hòa; các cán bộ phòng tồn dư - Trung tâm Kiểm tra vệ sinh
thú y Trung ương I ñã tạo ñiều kiện thuận lợi, giúp ñỡ về tinh thần và vật chất
cho quá trình nghiên cứu, hoàn thành luận văn này.
Xin chân thành cảm ơn Chi cục Thú y các tỉnh Hà Nội, Hải Dương,
Thái Bình, Nam ðịnh, Ninh Bình.
Tôi xin gửi lời cảm ơn tới gia ñình và bạn bè ñã luôn giúp ñỡ, ñộng
viên tôi trong thời gian hoàn thành bản luận văn này.
Hà Nội, ngày tháng năm 2010
ðặng Bích Ngọc
Trường ðại học Nông nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ nông nghiệp
iiiMỤC LỤC
Lời cam ñoan i
Lời cảm ơn ii
Mục lục iii
Danh mục chữ viết tắt
Danh mục bảng v
Danh mục biểu ñồ vii
1 MỞ ðẦU i
2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4
4.4.1 Tỷ lệ các mẫu thịt lợn dương tính phân chia theo nơi giết mổ (lò
mổ tập trung, ñiểm giết mổ nhỏ lẻ) 60
4.4.2 Tỷ lệ các mẫu thịt gà dương tính phân chia theo nơi giết mổ (lò
mổ tập trung, ñiểm giết mổ nhỏ lẻ) 62
4.5 ðề xuất biện pháp giảm thiểu sự tồn dư kháng sinh trong sản
phẩm chăn nuôi 65
5 KẾT LUẬN VÀ ðỀ NGHỊ 67
5.1 Kết luận 67
5.2 ðề nghị 68
TÀI LIỆU THAM KHẢO 69
PHỤ LỤC 73
Trường ðại học Nông nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ nông nghiệp
vDANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
- VSTY: Vệ sinh thú y
- VSATTP Vệ sinh an toàn thực phẩm
- Cs: Cộng sự
- WTO: World Trade Organization
- ADI: Acceptable Daily Intake
- MRL: Maximum Residue Limit
- FAO: Food Agricultural Organization
- WHO: World Health Organization
- HPLC High-performance liquid chromatography
4.6. Kết quả phân tích dư lượng kháng sinh trong thịt lợn tại Ninh Bình 47
4.7. Kết quả phân tích dư lượng kháng sinh trong thịt gà tại Hà Nội 50
4.8. Kết quả phân tích dư lượng kháng sinh trong thịt gà tại Hải Dương 51
4.9. Kết quả phân tích dư lượng kháng sinh trong thịt gà tại Thái Bình 52
4.10. Kết quả phân tích dư lượng kháng sinh trong thịt gà tại Nam ðịnh 53
4.11. Kết quả phân tích dư lượng kháng sinh trong thịt gà tại Ninh Bình 53
4.12. Tỷ lệ các mẫu thịt lợn dương tính phân chia theo nguồn gốc thịt
(nội tỉnh, ngoại tỉnh) 56
4.13. Tỷ lệ các mẫu thịt gà dương tính phân chia theo nguồn gốc thịt
(nội tỉnh, ngoại tỉnh) 58
4.14. Tỷ lệ các mẫu thịt lợn dương tính phân chia theo nơi giết mổ (lò
mổ tập trung, ñiểm giết mổ nhỏ lẻ) 60
4.15. Tỷ lệ các mẫu thịt gà dương tính phân chia theo nơi giết mổ (lò
mổ tập trung, ñiểm giết mổ nhỏ lẻ) 62Trường ðại học Nông nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ nông nghiệp
vii
Cùng với sự phát triển của nền kinh tế, ñời sống của con người ñược
cải thiện rõ rệt. Người tiêu dùng không chỉ quan tâm về mặt số lượng như
trước kia mà còn ñòi hỏi phải có một sản phẩm an toàn và ñảm bảo về mặt
chất lượng. Bên cạnh ñó, ñáp ứng các yêu cầu trong quá trình hội nhập khu
vực và kinh tế quốc tế khi tham gia một sân chơi lớn như WTO (World Trade
Organization - Tổ chức thương mại thế giới), một trong những thách thức mà
Việt Nam luôn luôn phải ñối mặt là cam kết ñảm bảo các biện pháp vệ sinh
kiểm dịch ñộng thực vật mà bản chất của nó là việc phòng chống các dịch
bệnh của ñộng thực vật, ñảm bảo an toàn vệ sinh thực phẩm bảo vệ sức khỏe
con người.
Sự phát triển mạnh của ngành chăn nuôi và nhu cầu ngày càng tăng
trong tiêu thụ thực phẩm có nguồn gốc ñộng vật ñồng thời cũng làm tăng
nguy cơ một số bệnh lây từ ñộng vật và do sử dụng thực phẩm nguồn gốc
ñộng vật không an toàn lây sang người tiêu dùng, ñặc biệt là việc tổ chức và
quản lý giết mổ ñộng vật và chế biến sản phẩm có nguồn gốc ñộng vật không
theo kịp sự phát triển của sản xuất chăn nuôi và tiêu dùng xã hội. Quản lý yếu
trong giết mổ ñộng vật và chế biến sản phẩm nguồn gốc ñộng vật là yếu tố
quan trọng làm lây lan các dịch bệnh của ñộng vật. Việc giết mổ ñộng vật bừa
bãi không có kiểm soát của Thú y còn là yếu tố quan trọng liên quan ñến vấn
ñề ngộ ñộc thực phẩm quy mô lớn và một số bệnh mãn tính của con người do
sử dụng thực phẩm nhiễm vi sinh vật ñộc hại, nấm mốc và các hóa chất ñộc
hại tồn dư khác.
Theo thống kê của Cục An toàn vệ sinh thực phẩm - Bộ y tế, mỗi năm
ở nước ta có khoảng 250- 500 ca ngộ ñộc thực phẩm với 7.000 - 10.000 nạn
nhân và 100 - 200 ca tử vong. Tình trạng ngộ ñộc thực phẩm thường xuyên
Trường ðại học Nông nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ nông nghiệp
2
phép hàng trăm lần.
Như vậy, có nguy cơ cao về tồn dư hoá chất ñộc hại trong thịt và thực
phẩm có nguồn gốc ñộng vật. Cho ñến nay, ở Việt Nam ñã có một số nghiên
cứu về tình hình ô nhiễm chất tồn dư trong thịt và một số thực phẩm có nguồn
gốc ñộng vật. Tuy nhiên những dữ liệu về hoá chất tồn dư trong thịt gia súc,
gia cầm ở các tỉnh phía Bắc như Hà Nội, Hải Dương, Thái Bình, Nam ðịnh,
Ninh Bình vẫn còn rất hạn chế. ðể góp phần giúp các nhà chức trách xây
dựng các chiến lược phòng ngừa chất tồn dư ñộc hại trong thực phẩm có
nguồn gốc ñộng vật, ñảm bảo cung cấp thực phẩm an toàn cho nguời tiêu
dùng, việc “Nghiên cứu và xác ñịnh dư lượng kháng sinh tồn dư trong thịt
lợn, thịt gà tại một số cơ sở giết mổ và thị trường khu vực phía Bắc Việt
Nam” là rất cần thiết.
Trường ðại học Nông nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ nông nghiệp
4
5ổn ñịnh, nhiều thời ñiểm giá xuống thấp khó tiêu thụ ñã ảnh hưởng ñến việc
phát triển quy mô ñàn và tăng nhanh hơn sản lượng xuất chuồng.
Chăn nuôi gia cầm: ñàn gia cầm phát triển nhanh với số lượng tổng
ñàn ñạt 280,18 triệu con, tăng 12,83% so với thời ñiểm 01/10/2008. Sản
lượng thịt gia cầm hơi xuất chuồng năm 2009 ước ñạt 502,8 nghìn tấn, tăng
12,16%; sản lượng trứng gia cầm các loại ước ñạt 5 952,1 triệu quả, tăng
8,98% so với năm 2008.[4]
Theo số liệu thống kê tại thời ñiểm 01/04/2010, ñàn trâu cả nước có 2,9
triệu con, tăng 0,5% so với cùng thời ñiểm năm trước; ñàn bò có 6 triệu con,
giảm 1,4%; ñàn lợn có 27,3 triệu con, tăng 3,1%; ñàn gia cầm có 277,4 triệu
con, tăng 8,1%. Sản phẩm chăn nuôi 6 tháng ñầu năm 2010 tăng khá so với
cùng kỳ năm trước do dịch bệnh ñã ñược khống chế kịp thời, trong ñó thịt lợn
hơi ñạt 1,79 triệu tấn, tăng 4,7%; thịt gia cầm hơi ñạt 330,7 nghìn tấn, tăng
17%; trứng gia cầm 3278,8 triệu quả, tăng 7,1%.[19]
Với quy mô ñàn lợn 27,63 triệu con, tốc ñộ tăng trưởng trung bình ở
mức 3 - 4%/năm; quy mô ñàn gia cầm hơn 280 nghìn con và tốc ñộ tăng
trưởng trung bình ở mức 9 - 11%/năm, Việt Nam hoàn toàn ñủ khả năng cung
ứng nguồn thịt sạch cho thị trường nội ñịa và thậm chí có ñiều kiện, thế mạnh
trong việc xuất khẩu thịt sạch, ñặc biệt là thịt gà và thịt lợn. Thế nhưng, quy
mô trang trại nhỏ, quỹ ñất hạn chế, phát triển thiếu ñịnh hướng, sức cạnh
tranh với sản phẩm nhập khẩu yếu khiến người chăn nuôi trong nước lỗ kéo
dài và không muốn tăng cường ñầu tư là những nguyên nhân cơ bản khiến
ngành chăn nuôi Việt Nam nhiều năm qua chưa thể vươn ra thị trường thế
giới. Thêm vào ñó, giá thành sản xuất thịt ở Việt Nam còn khá cao so với các
nước trong khu vực. Chi phí thức ăn chiếm khoảng 70% cơ cấu giá thành
trong khi nông dân thường xuyên phải mua thức ăn gia súc với giá cao do
nguồn nguyên liệu chủ yếu là nhập khẩu khiến sức ép từ chi phí ñầu vào vẫn
thịt bình quân ñầu người chỉ là 30 kg, trong khi tại các nước phát triển là trên
80 kg (Bùi Hữu ðoàn, 2009)[9].
Trường ðại học Nông nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ nông nghiệp
7 Trong những năm gần ñây, tốc ñộ phát triển kinh tế của nước ta khá
mạnh mẽ và luôn duy trì ổn ñịnh ở mức cao 7 - 8%/năm. ði ñôi với sự phát
triển kinh tế của ñất nước, thu nhập của người dân cũng tăng lên rõ rệt và chất
lượng cuộc sống ñược cải thiện. ðã có rất nhiều cuộc ñiều tra nghiên cứu trên
thế giới chỉ ra rằng khi chất lượng cuộc sống của con người ngày càng cao thì
nhu cầu ñối với các loại thực phẩm có giá trị dinh dưỡng cao ngày càng lớn.
ðiều ñó thể hiện rõ rệt ở cơ cấu bữa ăn thay ñổi. Cũng giống các nước ñang
phát triển khác, sản lượng tiêu thụ thịt, trứng, sữa ở Việt Nam tăng rất nhanh.
Tốc ñộ tăng trong vòng có 4 năm từ 2001 - 2005 tiêu thụ thịt tăng 37% và tôm
cá tăng 172%. Mặc dù tăng nhanh như vậy nhưng ở Việt Nam sản lượng sản
phẩm chăn nuôi tiêu thụ bình quân ñầu người vẫn còn thấp so với bình quân
của các nước ñang phát triển và nếu so với trung bình của thế giới và của các
nước ñã phát triển thì thấp hơn nhiều.
Năm 2009, tổng kim ngạch xuất khẩu thịt của Việt Nam ñạt 43,91 triệu
USD, chỉ tương ñương 38,85% kim ngạch nhập khẩu. Quy mô thị trường xuất
khẩu thịt của nước ta tương ñối nhỏ và ñơn giản với chỉ 29 nước nhập khẩu,
trong ñó riêng thị trường Hồng Kông - thị trường lớn nhất ñã chiếm 67,94%
tổng kim ngạch. Với một bối cảnh hoàn toàn trái ngược, nhập khẩu thịt của
Việt Nam liên tục tăng trong nhiều năm trở lại ñây bất chấp các sự cố về dịch
bệnh, mất vệ sinh an toàn thực phẩm, quá hạn sử dụng và thậm chí là cả cơn
khủng hoảng kinh tế quy mô rộng và tồi tệ nhất kể từ cuộc khủng hoảng 1929
- 1933. Số liệu thống kê của Tổng cục Hải quan Việt Nam cho hay nhập khẩu
các loại thịt của chúng ta trong năm 2009 ñạt trên 98,7 triệu USD, tăng 31,58
triệu USD, tương ñương tăng trên 47% so với năm 2007 - tức là thời ñiểm
soát giết mổ trên ñịa bàn của ngành thú y chưa kiểm soát ñược chặt chẽ. ða số
các ñiểm giết mổ nằm rải rác trong dân, số lượng giết mổ mỗi ñêm 2-3 con
lợn hoặc trâu bò.
Trường ðại học Nông nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ nông nghiệp
92.1.3.3 Tình hình giết mổ và kinh doanh thịt trên ñịa bàn tỉnh Thái Bình
Hiện nay Thái Bình có 3 cơ sở giết mổ xuất khẩu và sơ chế thực phẩm,
chủ yếu giết mổ lợn sữa xuất khẩu và sơ chế thực phẩm tiêu thụ trong nước có
sự kiểm soát của cơ quan thú y, ñảm bảo tiêu chuẩn vệ sinh thú y và vệ sinh
môi trường. Ước tính cả tỉnh có khoảng 1.615 hộ giết mổ cung cấp thịt cho
việc tiêu dùng tại ñịa phương. Hoạt ñộng giết mổ ñược thực hiện tại các hộ
gia ñình. Do ảnh hưởng của cơ chế thị trường, việc giết mổ, kinh doanh thịt
phát triển tự phát. Ở mỗi thôn, xóm, xã ñều có hộ giết mổ kinh doanh thực
phẩm. Công suất giết mổ: Lợn trâu bò: 1-3 con/ngày, hộ nhiều 5-10 con/ngày;
gia cầm 30-70 con/ngày, thậm chí >100 con/ngày. Trong tỉnh có khoảng
1.742 hộ kinh doanh, buôn bán thực phẩm tươi sống (thịt bò, lợn, gia cầm) tại
các chợ của ñịa phương. ðại ña số thực phẩm ñang lưu thông, kinh doanh trên
thị trường không ñược sự kiểm tra, kiểm soát của các cơ quan chức năng.
2.1.3.4 Tình hình giết mổ và kinh doanh thịt trên ñịa bàn tỉnh Nam ðịnh
Tại tỉnh Nam ðịnh tính ñến thời ñiểm 01/04/2008 tổng số có 706.531
ñầu lợn, trong ñó lợn nái 137.557 con, ñàn gia cầm có 5.079.146 con. Tỉnh có
2 cơ sở giết mổ lợn tập trung là Công ty cổ phần chế biến thực phẩm nông sản
xuất khẩu Nam ðịnh ñạt tiêu chuẩn HACCP và công ty trách nhiệm hữu hạn
Trường Huy xã Hải Phong huyện Hải Hậu. Hai cơ sở này chủ yếu giết mổ lợn
sữa xuất khẩu và lợn mảnh cung cấp cho khu công nghiệp phía Nam. Thịt tiêu
thụ trong tỉnh do 1.300 ñiểm giết mổ gia súc nhỏ lẻ cung cấp, công suất của
các ñiểm giết mổ từ 1-3 con/ngày, không có ñiểm giết mổ gia súc tập trung có
với nước ngoài có ñịnh hướng rõ rệt về chất lượng và ñầu tư về cơ sở hạ tầng
nhanh chóng tạo dựng ñược uy tín trên thị trường.
Theo báo cáo tháng 3 năm 2009 của Bộ Nông nghiệp và Phát triển
nông thôn: thuốc thú y sản xuất trong nước có tới 25% mẫu ở phía Nam và
hơn 33% mẫu ở phía Bắc không ñạt chất lượng. ðặc biệt ñáng ngại hơn khi
kết quả thanh kiểm tra cho thấy có tới 71% mẫu thuốc thú y nhập khẩu không
Trường ðại học Nông nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ nông nghiệp
11ñạt chất lượng,… (Hoàng Lan, 2009)[13].
Nhiều loại thuốc thú y hiện nay
không ñạt chất lượng là do khâu giám
sát nguyên liệu ñầu vào gần như không ñược doanh nghiệp thực hiện. Thậm
chí, có những doanh nghiệp ñã mua nguồn nguyên liệu trôi nổi về sản xuất
thuốc thú y. Bên cạnh ñó, một số doanh nghiệp thay vì dùng nguyên liệu theo
ñăng ký thì họ lại sử dụng nguyên liệu khác có cơ chế tác dụng tương tự.
Chẳng hạn, ñáng lẽ phải dùng ampicilin, thì thay thế bằng amoxicilin.
Ở nước ngoài, phải mất quá trình nghiên cứu, ñánh giá, thẩm ñịnh từ 5-
10 năm, người ta mới cho ra một loại thuốc thú y mới. Còn ở nước ta, nhiều
loại thuốc mới ñược doanh nghiệp cho ra ñời chỉ trong vài ngày, bởi vì họ chỉ
trộn nguyên liệu lại với nhau ñể cho ra thuốc ñó và tung ra thị trường mà
không có thời gian ñể ñánh giá tính ổn ñịnh của loại thuốc mới này.
Các chuyên gia về khoa học – kỹ thuật nông nghiệp khẳng ñịnh: ñể
ñảm bảo yêu cầu về chất lượng trong sản xuất thuốc thú y, việc thực hiện tốt
nhà máy sản xuất thuốc thú y (GMP) là con ñường duy nhất mà thuốc thú y
Việt Nam có thể cạnh tranh với hàng ngoại.
Việc hình thành một ngành công nghiệp thuốc thú y với sự kiểm soát
quá trình sản xuất chặt chẽ, ñảm bảo các chuẩn mực quốc tế về chất lượng sản
2009)[13].
2.2.3 Tình hình kinh doanh và quản lý thuốc thú y ở nước ta hiện nay
Theo các kết quả báo cáo của thanh tra các Sở Nông nghiệp và Phát
triển nông thôn ở các tỉnh thì hầu hết các ñại lý, cửa hàng kinh doanh thuốc
thú y hiện nay ñều vi phạm các lỗi như: kinh doanh thuốc thú y không công
bố tiêu chuẩn chất lượng hàng hóa theo quy ñịnh, thuốc không nhãn mác,
thuốc quá hạn dùng, thuốc không rõ nguồn gốc xuất xứ, cửa hàng kinh doanh
thuốc thú y không có chứng chỉ hành nghề,…
Tuy nhiên, gian lận phổ biến nhất là ở nhãn mác. Cùng một loại thuốc
ñược gắn nhiều tên và nhiều công dụng khác nhau. Với việc dùng decal,
Trường ðại học Nông nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ nông nghiệp
13những bao thuốc không nhãn ñã ñược gán cho bất kỳ tên gì và công dụng gì,
ñáng sợ là với những sản phẩm không ñủ tiêu chuẩn, không ñược phép lưu
hành. Người bán có thể bóc nhãn từ một bao thuốc này và dán vào bất kỳ bao
thuốc khác (Thanh Sơn, 2008)[15].
Nếu như trong lĩnh vực sản xuất thuốc cho người, trên bao bì của từng
loại thuốc, nhà sản xuất ñều phải ghi rất rõ: thuốc này dùng cho người lớn hay
trẻ em, dùng cho lứa tuổi nào, cảnh báo chống chỉ ñịnh ra sao, Trong khi ñó,
trên bao bì của rất nhiều loại thuốc thú y, hiện chỉ ghi một cách rất chung
chung, ví dụ dùng cho vật nuôi. Có những loại thuốc, cũng ghi rõ hơn là dùng
cho tôm cá, nhưng lại không ghi là cho tôm cá nước ngọt hay tôm cá nước
mặn. Không thể nào có thứ thuốc dùng chung cho tôm cá sinh sống trong cả 2
môi trường (Thanh Sơn, 2008)[15].
Làm thế nào ñể quản lý ñược thị trường thuốc thú y? ðây thực sự vẫn
là một câu hỏi khó. Hiện nay, lực lượng thanh tra còn rất mỏng, tần suất thanh
tra theo ñịnh kỳ từng quý. ðặc biệt với những mức xử phạt mỗi khi vi phạm
còn thấp so với lợi nhuận thu ñược từ hoạt ñộng kinh doanh khiến các ñối
mổ chật hẹp, hơn 80% số ñiểm giết mổ có diện tích nhỏ hơn 20m
2
; 90% số cơ
sở giết mổ thực hiện quá trình giết mổ ngay trên sàn.
Theo số liệu của Cục Thú y tại Hội nghị tổng kết công tác phòng chống
dịch bệnh và kiểm soát giết mổ, hiện cả nước có 17.129 cơ sở giết mổ gia súc,
gia cầm. Trong ñó ñiểm giết mổ gia súc, gia cầm nhỏ lẻ là 16.512 (chiếm
94,4%) và 617 cơ sở giết mổ gia súc, gia cầm tập trung (chiếm 3,6%). Cơ
quan Thú y chỉ kiểm soát ñược 7.281 cơ sở (chiếm 42,5%). Trong ñó các tỉnh
phía Bắc chỉ kiểm soát ñược 37,45%.
Một trong những nguyên nhân chưa bảo ñảm an toàn vệ sinh thực
phẩm, vệ sinh thú y, vệ sinh môi trường là do nhận thức của người chăn nuôi
còn hạn chế, chưa có thói quen ñem gia súc, gia cầm ñến ñiểm giết mổ tập
trung. Thực tế ñang tồn tại một nghịch lý: các cơ sở giết mổ gia súc, gia cầm
Trường ðại học Nông nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ nông nghiệp
15công nghiệp mặc dù ñược ñầu tư thiết bị hiện ñại và ñồng bộ, bảo ñảm về an
toàn vệ sinh thực phẩm, vệ sinh thú y và vệ sinh môi trường nhưng lại không
ñủ sức cạnh tranh với các cơ sở giết mổ thủ công, ñặc biệt là các hộ giết mổ
gia súc, gia cầm nhỏ lẻ vì chi phí thấp và khả năng phục vụ linh hoạt của
những cơ sở này. ðiều ñáng lo ngại là công tác vệ sinh thú y, vệ sinh môi
trường tại các cơ sở giết mổ thủ công tập trung và hộ giết mổ nhỏ lẻ ñều chưa
ñược ñảm bảo. Các cơ sở giết mổ tập trung thủ công phần lớn nằm trong hoặc
liền kề với khu dân cư. Gia súc, gia cầm ñược mổ trên nền xi măng hoặc nền
gạch cao khoảng 10 - 20cm và ñược vận chuyển ñến chợ chủ yếu bằng xe
máy. Nước thải trong quá trình giết mổ chảy thẳng vào hệ thống nước chung,
không qua xử lý, gây ô nhiễm môi trường. Với các hộ giết mổ nhỏ lẻ, phương
thức hoạt ñộng là giết mổ phân tán nằm trong khu dân cư, công suất chỉ 1 - 2
thức ăn cho vật nuôi cung cấp thực phẩm. Trong ñó, thuốc tiêm thường có
liên quan ñến vấn ñề tồn dư hơn là các chất bổ sung vào thức ăn. Tồn dư cũng
có thể có nguồn gốc từ các chất hoá học trong môi trường ô nhiễm (Richard,
1995; dẫn liệu bởi Võ Thị Trà An, 2001)[1].
2.4.1.1 Lượng ăn vào hàng ngày chấp nhận ñược (ADI - Acceptable Daily
Intake)
ðể kiểm soát tồn dư, người ta ñã thiết lập các chỉ số như: lượng ăn vào
hàng ngày chấp nhận ñược (ADI), giới hạn tồn dư tối ña (MRL), thời gian
ngưng thuốc ñược thiết lập cho từng loại kháng sinh.
Lượng ăn vào hàng ngày chấp nhận ñược (ADI) là lượng của một loại
hóa chất ñược ñưa vào cơ thể hàng ngày mà không gây ảnh hưởng có hại tới
sức khoẻ con người (ñơn vị tính: mg/kg thể trọng) (Bộ Y Tế, 2007)[6].
ADI cho biết giới hạn của một chất mà một người tiếp nhận hàng ngày
nhưng không gây nên những nguy cơ làm tổn hại sức khoẻ người ñó trong
suốt cuộc ñời (Võ Thị Trà An, 2007)[2].
Trường ðại học Nông nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ nông nghiệp
172.4.1.2 Giới hạn tồn dư tối ña các chất kháng khuẩn trong thịt (MRL –
Maximum Residue Limit)
Giới hạn tồn dư tối ña (MRL) hay mức ñộ cho phép là nồng ñộ mà các
chất hoá học hay thuốc trong mô (hoặc trứng, sữa) phải giảm ñến mức này ñể
mô của vật nuôi, trứng hoặc sữa ñược ñánh giá an toàn cho người tiêu dùng
(WHO/FAO,2004)[41]
MRL ñược tính bằng hàm lượng chất tồn dư so với khối lượng mô
(mg/kg hoặc IU/kg hoặc ppm). Quy ñịnh về MRL cũng khác nhau giữa các
quốc gia
2.4.1.3 Thời gian ngưng thuốc